Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích lãi và lãi suất cho vay của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần đông á hà nội giai đoạn 2001 2007 - Pdf 10

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đổi mới một cách căn
bản về mô hình tổ chức, cơ chế điều hành và nghiệp vụ. Có thể nói hoạt động của
hệ thống ngân hàng đã có những đóng góp rất đáng kể trong sự nghiệp đổi mới và
phát triển của kinh tế đất nước.
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Một
trong những hoạt động chính của ngân hàng là hoạt động tín dụng mà đặc biệt là
hoạt động cho vay. Đây là hoạt động mang lại thu nhập chính cho ngân hàng đồng
thời cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro nhất, gây tổn thất nhất cho ngân hàng.
Yếu tố quan trọng khi một khách hàng quyết định đi vay và ngân hàng cho vay hay
không đó chính là lãi suất.
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng trong nền
kinh tế thị trường, một công cụ trong việc điều hành chính sách tiền tệ của quốc gia.
Mỗi sự thay đổi của lãi suất đều tác động trực tiếp hay gián tiếp đến các hoạt động
của nền kinh tế như các họat động sản xuất của các doanh nghiệp, hành vi tiết kiệm
và đầu tư của công chúng, hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài. Bên
cạnh đó lãi suất còn được xem là một công cụ để điều hoà mối quan hệ lợi ích giữa
các chủ thể trong nền kinh tế, mỗi sự tăng giảm của lãi suất sẽ kéo theo sự khuyến
khích lợi ích vật chất đối với chủ thể kinh tế này đồng thời hạn chế lợi ích vật chất
của chủ thể kia, lãi suất có thể thúc đẩy sự phát triển của ngành lĩnh vực này đồng
thời kiềm chế sự phát triển của các ngành lĩnh vực khác, tăng lợi ích nhóm người
này nhưng lại giảm lợi ích nhóm người khác.
Trong thời gian gần đây vấn đề lãi suất đang là một vấn đề được đề cấp rất
nhiều. Do nền kinh tế hiện nay đang biến động liên tục, giá cả tăng cao làm cho lãi
suất không ổn định cũng phải thay đổi theo. Chính sự biến động này đã làm ảnh
hưởng nhiều đến họat động của ngân hàng, của các doanh nghiệp và các cá thể. Nếu
chỉ biết ảnh hưởng như vậy mà không biết cụ thể là các yếu tố nào đã làm biến động
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp

Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích lãi và lãi suất
cho vay của ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á giai đoạn 2001-2007.
Trong phạm vi bài viết này em đã trình bày được một số nội dung chủ yếu
phục vụ cho nghiên cứu đề tài, tuy nhiên còn một số vấn đề chưa có điều kiện
nghiên cứu sâu hơn. Vì vậy chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót, em hy
vọng sẽ nhận được ý kiến phê bình đóng góp bổ sung của các thầy cô để chuyên đề
được hoàn thiện hơn.
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG Á HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN ĐÔNG Á HÀ NỘI
1. Quá trình hình thành và phát triển chi nhánh ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Á Hà Nội
Hệ thống Ngân hàng Đông Á được thành lập vào ngày 01/07/1992, với số vốn
điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng. Qua hơn 15 năm hoạt động Đông Á đã khẳng định
được là một trong những ngân hàng cổ phần phát triển hàng đầu tại Việt Nam, với
số vốn điều lệ hiện nay là 1. 400 tỷ đồng; đặc biệt là ngân hàng còn đi đầu trong
việc triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng các nhu cầu thiết thực cho
cuộc sống hàng ngày của người dân.
Sau một thời gian chính thức hoạt động tại trụ sở đầu tiên đặt ở số 60-62 Nam
Kỳ Khởi Nghĩa, Quận Phú Nhuận, Tp. HCM, Hội đồng quản trị và ban lãnh đạo đã
quyết định thành lập thêm chi nhánh Đông Á tại Hà Nội với quy mô chỉ đứng sau
hội sở chính.
Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội chính thức khai
trương và đi vào hoạt động ngày 17/9/1993, tính đến nay gần được 14 năm. 14 năm

trong lĩnh vực ngân hàng đang diễn ra gay gắt với sự góp mặt của nhiều ngân hàng
và tổ chức tài chính trung gian trong và ngoài nước, Ban lãnh đạo chi nhánh ngân
hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội đã xây dựng chiến lược “Hội nhập và
Phát triển” nhằm tạo ra một mô hình hoạt động trong giai đoạn mới theo hướng một
tập đoàn tài chính mạnh gồm nhiều công ty cổ phần thành viên: Công ty chứng
khoán, Công ty kiều hối, Công ty tài chính, Công ty chuyển mạch tài chính, Công ty
thẻ, Công ty sản xuất máy ATM, Công ty bảo hiểm…Mô hình này sẽ phát huy được
những thế mạnh của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
trong các dịch vụ tài chính chuyên biệt, đồng thời tranh thủ được nguồn lực và tính
chuyên nghiệp của đối tác khác nhau trong lĩnh vực. Chi nhánh ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á Hà Nội sẽ đóng vai trò là nhà đầu tư trong các công ty trên,
đồng thời tập trung vào thực hiện chức năng của một ngân hàng thương mại để trở
thành một trong những ngân hàng tôt nhất Việt Nam.
2. Chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông
Á Hà Nội
2.1. Chức năng của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà
Nội
Là một ngân hàng thương mại nên chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Á Hà Nội cũng có các chức năng giống với các ngân hàng thương mại khác.
•Trung gian tài chính: Chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà
Nội đã thực sự là một chiếc cầu nối giữa những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có
vốn nhàn rỗi và những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đang cần vốn. Thông qua
chức năng này hiện nay chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
đã huy động được một lượng vốn nhàn rỗi trong dân cư khá lớn.
•Tạo tiền: Thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư chi nhánh ngân hàng
thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội đã thực hiện được chức năng tạo tiền, một
chức năng có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của mọi ngân

trình và quy định thanh toán của thương mại quốc tế.
• Đa dạng hoá các loại thẻ đáp ứng cho nhiều nhóm khách hàng. Đẩy mạnh
phát triển loại thẻ Từ& Chip với nhiều ứng dụng gia tăng tiện ích cho khách hàng.
•Hệ thống kiều hối của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà
Nội không ngừng hoàn thiện về mặt tổ chức và hoạt động, nâng cấp công nghệ mở
rộng quan hệ hợp tác quốc tế theo định hướng trở thành một công ty cổ phần mạnh
trong tập đoàn tài chính Đông Á.
•Ban điều hành củng cố và phát huy hiệu quả hoạt động của các phòng ban,
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
đẩy mạnh hoạt động của mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch; triển khai nhiều sản
phẩm, dịch vụ, và tiện ích mới cho các phân khúc thị trường khách hàng cá nhân và
khách hàng doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường công tác kiểm soát nhân viên, tài
sản cố định để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro.
Tuy là một chi nhánh hoạt đông độc lập nhưng chi nhánh ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á Hà Nội vẫn thực hiện một số nghĩa vụ của Hội sở chính:
- Các điều lệ chung của Ngân hàng, chỉ thị của Tổng Giám Đốc, Hội Đồng
Quản Trị Chi nhánh tại Hà Nội đều phải thực hiện nghiệm túc.
- Các quy tắc về nghiệp vụ kinh doanh, các chế độ báo cáo, hạch toán đều phải
chấp hành.
- Trong quá trình kinh doanh đảm bảo phát triển nguồn vốn và lợi nhuận cho
các cổ đông từ nguồn vốn ban đầu.
- Thực hiền nghĩa vụ thuế với Nhà nuớc, chuyển lợi nhuận còn lại sau khi trừ
tất cả chi phi và các quỹ bổ sung, quỹ phát triển cho Hội Sở chính.
3. Cơ cấu tổ chức nhân sự của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông
Á Hà Nội
Hiện nay, với hơn 200 nhân viên đang làm việc, chi nhánh ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á Hà Nội luôn cố gắng tổ chức bộ máy điều hành sao cho gọn
nhẹ, vững vàng về trình độ, nhưng hiệu quả; nhằm tạo điều kiện thuận lợi để khai

Phòng
kinh
doanh
Phòng
ngân
quỹ
Phòng
kế toán
Phòng
thông
tin
12 phòng
giao dịch
Kiểm soát nội
bộ
9
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trưởng phòng hành chính
- Nhân viên hành chính
- Nhân viên lái xe
- Nhân viên bảo vệ
- Nhân viên bảo vệ đêm
3.4. Phòng kinh doanh
Đây là phòng quan trọng trong ngân hàng, bởi nó trực tiếp tạo ra lợi nhuận và
mang tính sống còn đối với ngân hàng, phòng kinh daonh bao gồm hai bộ phận nhỏ
đó là: phòng khách hàng doanh nghiệp và phòng khách hàng cá nhân. Cả hai bộ
phân này đều cùng thực hiện các công việc như nhau và bộ máy nhân sự đều giống
nhau chỉ khác ở đối tượng làm việc của từng bộ phận. Các công việc phải thực hiện
của phòng kinh doanh là: nghiên cứu, nắm tình hình thu lượm thông tin kinh tế, lập
hồ sơ kinh tế, tính toán hiệu quả kinh tế để đầu tư; cho vay, theo dõi đối tượng sử

- Kế toán chuyển tiền nhanh
- Kế toán thẻ
- Kế toán thu chi hộ
3.7. Phòng thông tin
Phòng thông tin nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm phần mềm trong lĩnh vực
ngân hàng, quản lý và bảo dưỡng nâng cấp mạng nội bộ cũng như kết nối với Hội
sở chính; cập nhật thông tin liên tục từ các ngân hàng, tình hình kinh tế trong nước
và trên thế giới để biết được sự biến động. Đồng thời theo dõi thường xuyên các
phản hồi từ các tổ chức cũng như cá nhân về chất lượng của ngân hàng. Phòng
thông tin gồm có:
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trưởng phòng thông tin
- Nhân viên PC và mạng
- Nhân viên ATM & POS
- Nhân viên thẻ
3.8. Các phòng giao dịch
Hiện nay chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phấn Đông Á Hà Nội gồm có 12
chi nhánh cấp II được đặt ở các địa điểm sau: Hồ Gươm, Ba Đình, Cầu Giấy, Kim
Liên, Thanh Xuân, Long Biên, Minh Khai, Hưng Yên, Hà Đông, Bạch Mai, Lò
Đúc, Giải Phóng. Mỗi chi nhánh cấp II đều gồm:
- Trưởng phòng giao dịch
- Phó phòng giao dịch
- Kiểm soát kế toán
- Nhân viên kế toán
- Nhân viên tín dụng
- Nhân viên thanh toán quốc tế
- Nhân viên Kiều hối
- Thủ quỹ

dụng xuất nhập khẩu).
- Dịch vụ bão lãnh trong nước và ngoài nước của chi nhánh ngân hàng Đông
Á Hà Nội cũng rất linh hoạt và năng động.
- Chi nhánh ngân hàng Đông Á Hà Nội hiện có nhiều sản phẩm thẻ: thẻ đa
năng Đông Á, thẻ liên kết sinh viên, thẻ đa năng Richard hill, thẻ đa năng CK Card.
- Ngoài ra chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội cũng
kinh doanh ở một số lĩnh vực dịch vụ khác: Kinh doanh ngoại tệ và vàng kỳ hạn,
dịch vụ cho thuê kho bãi, quản lý hộ tài sản, dịch vụ tài khoản, dịch vụ tư vấn đầu
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
tư tài chính tiền tệ, các dịch vụ theo yêu cầu.
5. Một số kết quả kinh doanh của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Á Hà Nội
5.1. Hoạt động huy động vốn
Bảng 1.1: Số dư huy động vốn bình quân chi nhánh ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Huyđộng
vốnbình
quân(tỷ
đồng)
25 43 107 148 165 190 210 266 282 410 604 1097 1620 2200 2500
Nguồn: Kỷ yếu 14 năm chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần ĐôngÁ Hà Nội
Đồ thị 1.1: Đồ thị số dư huy động vốn bình quân của chi nhánh ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Nhằm đáp ứng nguồn vốn kinh doanh cho toàn hệ thống, ngay từ khi thành
lập chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội định hướng phát triển
với mục tiêu quan trọng là huy đông vốn từ nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, từ
tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, các cơ quan đoàn thể xã hội… Nguồn

Chuyên đề tốt nghiệp
Nội trong 14 năm qua luôn ổn định và hiệu quả, đối tượng khách hàng chính là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, tốc độ tăng trưởng bình quân tín dụng 14 năm qua hơn
22%. Tổng doanh số cho vay la: 5. 340,450 tỷ VND, trong đó chủ yếu là cho vay
doanh nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 90%. Riêng năm 2007 doanh số cho vay tăng cao
so với trước. Điểm nổi bật của hoạt động tín dụng này là: Tín dụng của chi nhánh
chủ yếu tập trung theo hướng tài trợ dự án trong nước, tài trợ thanh toán xuất nhập
khẩu của doanh nghiệp, nhờ đó ngân hàng kiểm soát được mục đích sử dụng vốn
của doanh nghiệp, hiểu rõ hơn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chia sẽ
những khó khăn với doanh nghiệp.
Đồng thời chính sách cho vay còn rất linh hoạt phù hợp với yêu cầu của doanh
nghiệp như cho vay bằng tiền VND, cho vay ngoại tệ và lãi suất hợp lý cùng với
phương thức giải quyết hồ sơ vay nhanh chóng đã giữ được luợng khách hàng
thường xuyên và thu hút thêm khách hàng mới trong quan hệ tín dụng; các chương
trình hợp tác quốc tế cũng đang được triển khai tại chi nhánh Hà Nội. Đặc biệt hoạt
động tín dụng ở đây đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc
tế ISO 9001-2000, do đó mà công tác tín dụng đã đi vào nề nếp với phương pháp
quản lý khá hoàn chỉnh, chặt chẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng vì vậy nợ
quá hạn của chi nhánh chi chiếm tỷ lệ 0,73% trong tổng dự nợ.
5.3. Hoạt động thanh toán quốc tế
Bảng 1.3: Doanh số thanh toán quốc tế chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Thanh toán
quốc tế
(triệu USD)
0 1,6 4,4 6,9 18,8 13,8 19 43 40 41 63 73 62,5 115,8 187
Nguồn: Kỷ yếu 14 năm chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
16

Hoạt động này của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
chủ yếu phục vụ thanh toán quốc tế, 14 năm qua hoạt động kinh doanh này của chi
nhánh đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng thanh toán nhập khẩu,
đảm bảo ngoại tệ mặt chi trả kiều hối và thu được một phần lợi nhuận đóng góp vào
hiệu quả hoạt động chung của chi nhánh. Doanh số kinh doanh ngoại tệ của các
năm lúc tăng lúc lại giảm xuống không theo một chiều hướng nhất định, từ năm
1993 đến 1996 đang trong thời kỳ tăng trưởng (từ 12 triệu USD lên đến 121 USD)
bỗng nhiên có chiều hướng giảm xuống còn 33 triệu USD vào năm 1999, sau đó với
nỗ lực hoạt động doanh số của lĩnh vực này dần tăng lên lại và đến năm 2007 thì
tăng mạnh đến 283 triệu USD, trong vòng 14 năm qua đạt: 1. 204 triệu USD.
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
5.5. Hoạt động chuyển tiền nhanh
Bảng 1.5: Doanh số chuyển tiền nhanh chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần
Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Chuyển tiền
nhanh
(tỷđồng)
186 610 800 887 620 696 718 1184 1288 1092 1473 1997 1215 1062 883
Nguồn: Kỷ yếu 14 năm chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
Đồ thị 1.5: Đồ thị doanh số chuyển tiền nhanh chi nhánh ngân hàng thương mại
cổ phần Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Hoạt động này của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
chủ yếu phục vụ thanh toán quốc tế, 14 năm qua hoạt động kinh doanh này của chi
nhánh đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng thanh toán nhập khẩu,
đảm bảo ngoại tệ mặt chi trả kiều hối và thu được một phần lợi nhuận đóng góp vào
hiệu quả hoạt động chung của chi nhánh. Cụ thể là doanh số chuyển tiền nhanh liên
tục tăng trong vòng 12 năm đầu (năm 1193 đến năm 2004) từ 186 tỷ đồng lên đến

tiềm năng cho các hoạt động nghiệp vụ hiện tại và tương lai của ngân hàng. Đến
nay dịch vụ này đã được đa dạng hoá dưới nhiều hình thức thu chi khác nhau: tiền
mặt, chuyển khoản thu chi tại văn phòng khách hàng hoặc tại trụ sở của ngân hàng
và được triển khai ở tất cả các tỉnh thành phố của cả nước. Cùng với sự phát triển
của mạng lưới và hoàn thiện các quy định quy trình liên quan, doanh số thu chi hộ
năm 2007 là: 811 tỷ đồng.
5.8. Hoạt động chi trả kiều hối
Bảng 1.7: Doanh số của hoạt động chi trả kiều hối chi nhánh ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Năm
199
3
199
4
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Chi trả
kiều hối
(triệuUSD)
0,49 1,5 2,7 2,9 3,7 4,8 10,4 17,6 28,2 44,6 56,3 74,6 82,7 94,4 117
Nguồn:Kỷ yếu 14 năm chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
Đồ thị 1.7: Đồ thị doanh số chi trả kiều hối chi nhánh ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Á Hà Nội từ năm 1993-2007
Hoạt động này của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Hà Nội
được thực hiện kể từ ngày thành lập, và tăng đều qua các năm. Chỉ với 4 công ty đối
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
tác từ những ngày đầu thành lập, hiện nay đã ký hợp đồng chi trả kiều hối cho các
công ty trên 170 nước trên thế giới. Doanh số chi trả kiều hối năm 2007 lên đến 117
triệu USD, tổng doanh số 14 năm qua của chi nhánh ngân hàng đạt: 616,49 triệu

Hà Nội giai đoạn 1993-2007
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Lợi nhuận
trước thuế
(tỷđồng)
0 0,66 1,8 5,3 1,69 0,7 1,06 2,17 5,97 7,6 15,8 18 12,8 20 33
II. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
1. Khái niệm và nguyên tắc hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm về hoạt động cho vay
Trước hết chúng ta cần biết cho vay là một nghiệp vụ nằm trong hoạt động tín
dụng vì vậy muốn hiểu rõ về hoạt động cho vay cần hiểu rõ khái niệm về tín dụng:
Theo giáo trình “nghiệp vụ ngân hàng thương mại” thì Tín dụng là sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một
thời gian bên sỡ hữu sẽ thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Như
vậy tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc bất cứ loại hàng hoá
nào) giữa ngân hàng và các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, trong đó
bên nào cho vay sẽ chuyển giao tài sản sang cho bên vay trong một thời gian nhất
định theo thoả thuận, bên vay có trách nhiêm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi
khi đến thời hạn thanh toán.
Từ khái niệm tín dụng ta thấy hoạt động cho vay của ngân hàng là một hoạt
động tín dụng trong đó ngân hàng là bên cho vay sẽ cam kết giao cho người đi vay
một khoản tiền còn các cá nhân, doanh nghiệp, và các tổ chức kinh tế là người đi
vay sẽ cam kết hoàn trả sau một thời gian nhất định, được gọi là kỳ hạn vay. Giá trị
hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần chênh lệch đó được gọi là lãi vay.
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng
Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại được đề ra xuất phát từ bản

2.1. Theo thời hạn
Dựa vào thời hạn, hoạt động cho vay được chia thành 3 loại cho vay:
•Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi
tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn thường
là hoạt đọng chiếm tỷ trọng cao nhất.
•Cho vay trung hạn: Theo quy định thời hạn của cho vay trung hạn là từ một
đến ba năm. Hoạt động này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua bán tài sản cố
định, cải tiến hoặc đổi mới công nghệ thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây
dựng các dự án có quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
•Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay của hoạt động này là từ ba năm trở lên
(đối với các ngân hàng ở Việt Nam). Hoạt động này thường đựơc tiến hành đẻ đáp
ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, thiết bị phương tiện vận tải có quy mô
lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Khi tiến hành phân loại hoạt động cho vay theo thời hạn có ý nghĩa rất quan
trọng đối với ngân hàng vì thời hạn vay liên quan đến tính an toàn sinh lợi của ngân
hàng và khả năng hoàn trả của khách hàng.
2. 2. Theo mục đích
Có hai loại múc đích chính khi ngân hàng cho vay:
•Cho vay sử dụng vào mục đích sản xuất: Sử dụng vào mục đích sản xuất
được chia thành ba mục đích khác nhau như sau:
- Cho vay bất động sản: Là cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng
Trần Thuỳ Linh Thống kê 46B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status