Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
1
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Phân tích tài chính
Công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm
GVHD: Th.S Lê Đạt Chí
SVTH : Nguyễn Xuân Thanh TC13
Nguyễn Thị Vũ Quyên TC13
Lê Thị Diệu Linh TC15
Nguyễn Hồng Vinh TC15
Trần Ngọc Dũng TC15
Nguyễn Thúy Quỳnh TC15
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2008
2
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH VỂ CÔNG TY CỔ
PHẦN DƯỢC PHẨM IMEXPHARM
A. PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC
Thế giới
Việt Nam
B. TỔNG QUAN VỂ CÔNG TY
Giới thiệu
Lĩnh vực hoạt động
Chiến lược phát triển
Vị thế công ty
Triển vọng phát triển
Đối thủ cạnh tranh
Nơi niêm yết : trung tâm giao dịch chứng khóan
Tp.HCM
Tổng Quan Ngành Dược Việt Nam
Trần Ngọc Dũng TCDN15
Lê Thị Diệu Linh TCDN15
Hình thành và phát tri nể
trong th i gian khá dài trênờ
20 n m, ngành d c Vi tă ượ ệ
Nam ã tr thành m tđ ở ộ
Tỷ trọng chi tiêu ngành dược đạt 1.63% GDP: Năm
2006, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong nước đạt
trên USD 950 triệu ( VND 15,200 tỷ) và chiếm gần
1.63% GDP. Tỷ trọng này là khá nhỏ nếu so sánh với
các nhóm ngành lớn trong nền kinh tế như: thủy sản,
ngân hàng, vận tải,… nhưng so sánh về tỷ lệ với một
số quốc gia như Indonesia, Malaysia, tỷ trọng Việt
3
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
4
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
Bảng Dupon năm 2006
Đối thủ cạnh tranh
Thị phần các doanh nghiệp
trong ngành. Ngành dược
phẩm chưa có những đại gia
thực sự lớn chi phối , chiếm thị
phần lớn. Miếng bánh của
ngành vẫn được chia phần cho
nhiều doanh nghiệp.
Thị phần doanh số sản xuất dược phẩm
Imexpharm 300 tỷ 5%
Domesco 259 tỷ 4%
Dược Bình định 220 tỷ 3%
Traphaco 212 tỷ 3%
Dược Hà tây 200 tỷ 3%
DN khác 4404 tỷ 71%
Các doanh nghiệp lớn trong ngành:
10 doanh nghiệp dược đứng đầu về doanh thu có tổng
doanh thu đạt 2680 tỷ VND, chiếm tỷ trọng 40% so
với toàn ngành.
Dược hậu giang, Imexpham, Mekophar, Domesco là 4
công ty luôn có doanh thu dẫn đầu và chiếm 29% tổng
doanh thu của các công ty sản xuất thuốc tân dược
trong nước. Tỷ suất lợi nhuận của các công ty dược
đầu ngành khá hấp dẫn( ROE thường >30%). Do đó
ngày càng có nhiều các công ty dược mới gia nhập
ngành.
Cạnh tranh với các công ty sản xuất dược nước ngoài
cũng là một nhân tố tác động rất mạnh đến sự đến sự
tồn tại, phát triển và phân hoá chứa năng của các công
ty trong ngành. Đẩy mạnh chức năng phân phối sẽ là
một xu hướng phổ biến do các kam kết WTO của Việt
Nam không mở của cho các công ty dược nước ngoài
trong khâu phân phối.
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Phân Tích Tỷ Suất Sinh Lợi Trên Vốn Đầu Tư
Nguyễn Hồng Vinh TCDN15
Nguyễn Xuân Thanh TCDN13
Lê Thị Diệu Linh TCDN15
Nguyễn Thị Vũ Quyên TCDN13
Nguyên nhân của gia tăng mạnh
trong thu nhập ròng không phải vì
gia tăng mạnh trong thi phần, nó
xuất phát từ việc cắt giảm cho phí
và tăng nhẹ của doanh thu thuần.
Tăng lên trong TSSL trên
doanh thu, nhưng khả năng
hiệu suất sử dụng tài sản của
công ty lại đi ngược lại, chỉ đạt
được 1.43 so với 1.72 trong
năm 2006.
Với 2 bảng Dupon năm 2006 và năm (ước tính) 2007, ta
dễ dàng nhận ra tỷ suất sinh lợi trên tài sản của IMP đã
gia tăng đáng kể, từ 13.88% trong năm 2006 lên 14.47%.
theo ước tính thì trong năm 2007, hiệu suất sử dụng tài
sản của công ty có sự giảm sút tuy nhiên bù đắp lại đó là
sự gia tăng mạnh trong tỷ suất sinh lợi trên doanh thu của
công ty.
Trong năm 2007, đã có sự điều chỉnh giảm đáng kể chi
phí giá vốn hàng bán của công ty khi cắt giảm được chi
phí này đến 49.7 tỷ (tương đương giảm 13.5%) so với
năm 2006. Ngược lại với việc điều chỉnh giảm trong
doanh thu đó là sự gia tăng trong chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp (tăng gần 42.7tỷ), lý giải cho
điều này đó chính là chiến lược đẩy mạnh các chương
trình tiếp thị và phát triển thương hiệu của công ty trong
thời gian qua. Tổng hợp những sự tăng giãm trong những
khoản đó Imexpharm vẫn thu được khoản điều chỉnh
giảm khoản 7tỷ tương đương với 1.4%.
Bên cạnh kết quả giảm chi phí cũng có một gia tăng trong
Khoản phải thu 56,767
92,96
0 63.8%
Hàng tồn kho 129,765
130,89
4 0.9%
Khác 8,282
10,87
1 31.3%
Tổng tài sản lưu
động 262,421
324,22
5 23.6%
Hiệu suất sử dụng tài sản của
công ty khá thấp, không có sự gia
tăng đồng bộ giữa tài sản tăng
thêm và doanh thu thuần qua 2
năm 2006 và 2007.
Kết quả thu được là TSSL trên
tổng tài sản của IMP đạt được
14.47% vẫn cao hơn năm 2006
(13.8%).
tăng chính sách bán chịu và những chính sách quan hệ với
các chi nhánh phân phối, điều này phù hợp với chiến lược
kinh doanh của công ty trong năm 2007.
Chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản thấp cho ta nhận xét công
ty vẫn chưa tận dụng tối đa nguồn tài sản của mình để tạo
ra doanh thu. Nếu công ty muốn gia tăng chỉ tiêu TSSL
trên tài sản, công ty cần chú ý đên hiệu suất sử dụng tài
sản của mình.
đạt ROA 12.94% vượt qua cả
DHG.
So sánh với 2 đối thủ cạnh tranh trực tiếp là DHG và
DMC trong năm 2005 và 2006 về TSSL trên tài sản
ROA. Năm 2005, trong khi chỉ tiêu TSSL trên doanh
thu của IMP gần như ngang bằng với DHG và cao hơn
so với DMC thì ngược lại chỉ số hiệu suất sử dụng tài
sản của IMP lại rất thấp, thấp hơn nhiều so với 2 đối
thủ cạnh tranh. Chính vì lý do đó kéo ROA của IMP chỉ
đạt 8.41% kém rất xa so với DHG và DMC lần lược là
15.17% và 13.64%.
Nhược điểm hiệu suất sử dụng tài sản thấp của IMP
7
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
Chỉ số ROA các năm
IMP
IMP
IMP
DHG
DHG
DMC
DMC
DMC
0%
4%
8%
12%
16%
QIII/07 2006 2005
Cắt giảm chi phí giá vốn hàng bán
Để duy trì tốc độ gia tăng ROA này qua các năm, IMP
cần thiết phải đổi mới hệ thống máy móc, trang thiệt bị
của doanh nghiệp, loại bỏ đi những máy móc không đạt
hiệu quả trong công ty.
IMP
2007 2006 2005
Doanh thu thuần 529,978 525,406 337,334
Thu nhập ròng 53,699 42,276 26,493
Tài sản 371,038 304,670 314,932
TSSL trên doanh thu 10.13% 8.05% 7.85%
Hiệu suất sử dụng TS 1.428 1.725 1.071
ROA 14.47% 13.89% 8.41%
Để có thể cải thiện chỉ số ROA so với những đối thủ
cạnh tranh, công ty có thể thông qua TSSL trên doanh
thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Để gia tăng TSSL trên
doanh thu đòi hỏi doanh nghiệp phải gia tăng doanh thu
thuần, giảm các chi phí giá vốn hàng bán và chi phí bán
hàng, dường như đó là điều khó khăn đối với doanh
nghiệp trong thời điểm này khi giá nguồn nguyên vật
liệu không ngừng leo thang qua các năm, mặc khác
công ty đang trong giai đoạn quảng bá hình ảnh của
công ty nên chi phí bán hàng tăng mạnh trong năm.
Thực tế cho thấy rằng trong năm 2007 công ty đã cải
thiện khả tốt khả năng TSSL trên doanh thu của mình
8
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
bằng những điều chỉnh giảm trong chi phí giá vốn hang
bán. Như vậy vấn đề ở đây là công ty IMP nên cố gắng
gia tăng chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản của mình hơn
nữa. Quản trị lại tài sản, đặc biệt là các khoản mục tiền
một vũ khí lợi hại để các công ty kích tỷ suất sinh lợi
trên vốn cổ phần tăng mạnh. Tuy năm 2006 IMP có chỉ
số ROA tốt hơn so với DMC nhưng nhờ khả năng sử
dụng nợ tốt trong cơ cấu vốn, tận dụng được lợi ích từ
tấm chắn thuế đã đem lại cho DMC chỉ số ROCE tốt
hơn hẳn so với IMP ( DMC 22.09% so với IMP
18.07%). Rõ nét hơn đó là DHG, trong 2006 với lượng
vốn cổ phần thấp hơn rất nhiều so với IMP, nhưng tổng
tài sản lại tăng lên gần gấp đôi so với năm 2005 cho
thấy tỷ lệ sử dụng nợ của công ty là rất cao, đem lại
cho DHG 1 đòn bẩy chung cao hơn rất nhiều 2.833 so
với 1.301 của IMP, điều này đã đem lại cho cổ đông
của DHG một con số rất khả quan ROCE đến 40.75%.
9
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
Chỉ số ROCE các năm
IMP
IMP
IMP
DHG
DHG
DHG
DMC
DMC
DMC
0%
10%
20%
30%
40%
quản trị của IMP đã không tận dụng được khả năng vay
nợ của mình, công ty duy trì nguồn tài trợ bằng cổ phần
nhiều hơn, hạn chế việc sử dụng nợ trong tài trợ. Nhà
quản trị của công ty đã không mạo hiểm trong việc vay
nợ của mình, đây được xem như một hạn chế của IMP
so với 2 đối thủ trực tiếp này trong 2 năm 2005 và
2006.
Trong quý III/2007, tuy ROCE của Imexpharm đã vượt
qua những đối thủ cạnh tranh khác (17.02% cao hơn cả
DHG) nhưng không phải vì khả năng sử dụng nợ của
công ty được cải thiện mà do sự sụt giảm trong khả
năng sử dụng đòn bẩy tài chính của DHG và DMC, cả
hai đối thủ cạnh tranh đã có tái cấu trúc lại nguồn vốn
của mình khi gia tăng tỷ lệ sử dụng nguồn vốn cổ phần
so với sử dụng nợ như những năm trước đây. Điều này
đã kéo chỉ số đòn bẩy của DHG và DMC sụt giảm
ngang bằng với IMP.
ROCE = ROA x đòn bẩy chung
Công ty IMP luôn theo đuổi chiến lược tài chính an
toàn, công ty vẫn duy trì một nguồn vốn ổn định và
lành mạnh đồng nghĩa với việc công ty không gia tăng
khả năng vay nợ của mình quá mức, đồng thời theo
đuổi chính sách không ngừng nâng cao giá trị cho các
cổ đông. Để có thể đạt được cùng lúc 2 mục tiêu quan
trọng đó, IMP chỉ có thể gia tăng chỉ số ROCE thông
qua gia tăng ROA bằng cách gia tăng doanh thu thuần,
tận dụng tối ưu hơn nữa tài sản của công ty, loại bỏ
những tài sản không đem lại năng suất cao, tiêu hao
nhiều nguyên vật liệu sản xuất, từ đó tạo cơ sở hạ giá
thành sản xuất tăng doanh thu thuần của doanh nghiệp.