Tài liệu BÁO CÁO BẢO TRÌ PHẦN CỨNG MÁY TÍNH TÌM HIỂU VỀ CPU - Pdf 10

BÁO CÁO BẢO TRÌ PHẦN CỨNG MÁY TÍNH
TÌM HIỂU VỀ CPU
1. Tổng quan về máy tính
Máy tính điện tử ra đời vào những năm 1946 tại hoa kỳ từ đó phát triển rất mạnh và
đến nay đã trải qua 5 thế hệ.
- Thế hệ 1: (thập niên 50) dùng bóng điện tử chân không. Kích thước lớn
(khoảng 250m
2
) tốc độ xử lý chậm khoảng vài ngàn phép tính trên một giây,
giá đắt.
- Thế hệ 2: (thập niên 60) các bóng điện tử đã được thay bằng chất bán dẫn
năng lượng tiêu thụ giảm kích thước nhỏ hơn(50m
2
), tốc độ xử lý đạt vài
chục ngàn phép tính trên một giây.
- Thế hệ 3: (thập niên 70) thời kỳ này đánh dấu một công nghệ mới đó là công
nghệ vi mạch tích hợp IC. Máy tính có kích thươcs nhỏ, tốc độ đạt vài trăm
ngàn phép tính trên một giây.
- Thế hệ 4: (thập niên 80) cũng dùng vi mạch tích hợp nhỏ gọn hơn, tốc độ
tính toán cao hơn và nó được chia làm ba loại.
- Thế hệ 5: đó là thế hệ đang diễn ra hiện nay. Tập trung về nhiều mặt của
máy tính nâng cao tốc độ xử lý, tạo nhiều chức năng hơn nữa cho máy. Các
máy nguồn hiện nay có thể xử lý hàng trục tỷ phép tính trên một giây.
CPU (control processing unit) BỘ VI XỬ LÝ TRUNG TÂM
Cpu (control processing unit – bộ vi xử lý trung tâm) được coi là bộ não của máy tính. Nhiệm vụ
của CPU là xử lý những hoạt động, chẳng hạn như tính toán, lưu trữ thông tin và truy tìm. Vì thế
CPU biểu thị cho “trí thông minh” của máy tính. Sự tiến bộ của công nghệ máy tính luôn gắn liền
với sự phát triển của CPU. Cho đến nay, người ta thường chỉ căn cứ vào CPU để phân loại PC.
2. Khái quát CPU
IBM là công ty đầu tiên sản xuất ra các PC với các loại 8086 và 8088 cổ điển. Sau đó công ty là
Pentium. Đầu tiên là các loại Pentium S và Pentium Pro có thể xử lý được 64 bít dữ liệu và có đến

thống. Mạch xung nhịp đồng hồ hệ thống dùng để đồng bộ các thao tác xử lí trong và ngoài
CPU theo các khoảng thời gian không đổi.Khoảng thời gian chờ giữa hai xung gọi là chu
kỳ xung nhịp.Tốc độ theo đó xung nhịp hệ thống tạo ra các xung tín hiệu chuẩn thời gian
gọi là tốc độ xung nhịp - tốc độ đồng hồ tính bằng triệu đơn vị mỗi giây-Mhz. Thanh ghi là
phần tử nhớ tạm trong bộ vi xử lý dùng lưu dữ liệu và địa chỉ nhớ trong máy khi đang thực
hiện tác vụ với chúng.
2.  Bộ số học-logic (ALU-Arithmetic Logic Unit)Có chức năng thực hiện các lệnh của đơn vị
điều khiển và xử lý tín hiệu. Theo tên gọi,đơn vị này dùng để thực hiện các phép tính số
học( +,-,*,/ )hay các phép tính logic (so sánh lớn hơn,nhỏ hơn…)
3.  Thanh ghi ( Register )Thanh ghi có nhiệm vụ ghi mã lệnh trước khi xử lý và ghi kết quả sau
khi xử lý
I/Thông số kỹ thuật của CPU
 Tốc độ của CPU:Tốc độ xử lý của máy tính phụ thuộc vào tốc độ của CPU, nhưng nó cũng
phụ thuộc vào các phần khác (như bộ nhớ trong, RAM, hay bo mạch đồ họa).Có nhiều công nghệ
làm tăng tốc độ xử lý của CPU. Ví dụ công nghệ Core 2 Duo.
Tốc độ CPU có liên hệ với tần số đồng hồ làm việc của nó (tính bằng các đơn vị như MHz, GHz,
…). Đối với các CPU cùng loại tần số này càng cao
thì tốc độ xử lý càng tăng. Đối với CPU khác loại, thì điều này chưa chắc đã đúng; ví dụ CPU
Core 2 Duo có tần số 2,6GHz có thể xử lý dữ liệu nhanh hơn CPU 3,4GHz một nhân. Tốc độ
CPU còn phụ thuộc vào bộ nhớ đệm của nó, ví như Intel Core 2 Duo sử dụng chung cache L2
(shared cache) giúp cho tốc độ xử lý của hệ thống 2 nhân mới này nhanh hơn so với hệ thống 2
nhân thế hệ 1 ( Intel Core Duo và Intel Pentium D) với mỗi core từng cache L2 riêng biệt. (Bộ
nhớ đệm dùng để lưu các lệnh hay dùng, giúp cho việc nhập dữ liệu xử lý nhanh hơn). Hiện nay
công nghệ sản xuất CPU làm công nghệ 65nm.
Hiện đã có loại CPU Quad-Core (4 nhân). Hãng AMD đã cho ra công nghệ gồm 2 bộ xử lý, mỗi
bộ 2-4 nhân.
FSB - Front Side Bus là gì ?
• FSB - Là tốc độ truyền tải dữ liệu ra vào CPU hay là tốc độ dữ
liệu chạy qua chân của CPU.
Trong một hệ thống thì tốc độ Bus của CPU phải bằng với tốc độ

là tín hiệu số dạng 0,1 được dịch ra từ các câu lệnh lập trình ,
như vậy CPU sẽ không làm gì cả nếu không có các câu lệnh
hướng dẫn .
z Khi chúng ta chạy một chương trình thì các chỉ lệnh của
chương trình đó được nạp lên bộ nhớ Ram, các chỉ lệnh này đã
được dịch thành ngôn ngữ máy và thường trú trên các ngăn nhớ
của Ram ở dạng 0,1
z CPU sẽ đọc và làm theo các chỉ lệnh một cách lần lượt.
Trong quá trình đọc và thực hiện các chỉ lệnh, các bộ giải
mã sẽ giải mã các chỉ lệnh này thành các tín hiệu điều khiển .
III Đời CPU socket
CPU đời máy 586 ( trước đời máy Pentium2 )
Các thông số kỹ thuật :
z Tốc độ CPU từ 150 MHz đến 233 MHz
z Tốc độ Bus là 66MHz
z Bộ nhớ Cache 128K
z Năm sản xuất : 1995 - 1996
CPU cho các máy Pentium 2
Các thông số kỹ thuật
z Tốc độ CPU từ 233 MHz đến 450 MHz
z Tốc độ Bus ( FSB ) là 66 và 100 MHz
z Bộ nhớ Cache 128K - 256K
z Năm sản xuất : 1997 - 1998
z Mainboard hỗ trợ : sử dụng Mainboard có khe cắm Slot
CPU cho các máy Pentium 3
Các thông số kỹ thuật
z Tốc độ CPU từ 500 MHz đến 1.300 MHz
z Tốc độ Bus ( FSB ) 100 MHz và 133 MH
z Bộ nhớ Cache từ 256K- 512K
z Năm sản xuất : 1999 -2000

Bộ xử lý của Intel đầu tiên sản xuất năm 1971
4040, phiên bản cải tiến của 4004 được giới thiệu vào năm 1974, có
3.000 transistor, tốc độ từ 500 KHz đến 740KHz.
BXL 8bit
8008 (năm 1972) được sử dụng trong thiết bị đầu cuối Datapoint 2200 của
Computer Terminal Corporation (CTC). 8008 có tốc độ 200kHz, sản xuất trên
công nghệ 10 µm, với 3.500 transistor, bộ nhớ mở rộng đến 16KB.
Bộ xử lý 8008 SX năm 1972
8080 (năm 1974) sử dụng trong máy tính Altair 8800, có tốc độ gấp 10
lần 8008 (2MHz), sản xuất trên công nghệ 6 µm, khả năng xử lý 0,64 MIPS
với 6.000 transistor, có 8 bit bus dữ liệu và 16 bit bus địa chỉ, bộ nhớ
mở rộng tới 64KB.
Bộ xử lý 8008 SX năm 1972
8080 (năm 1974) sử dụng trong máy tính Altair 8800, có tốc độ gấp 10
lần 8008 (2MHz), sản xuất trên công nghệ 6 µm, khả năng xử lý 0,64 MIPS
với 6.000 transistor, có 8 bit bus dữ liệu và 16 bit bus địa chỉ, bộ nhớ
mở rộng tới 64KB.
Bộ xử lý 8080 SX năm 1974
8085 (năm 1976) sử dụng trong Toledo scale và những thiết bị điều khiển
ngoại vi. 8085 có tốc độ 2MHz, sản xuất trên công nghệ 3 µm, với 6.500
transistor, có 8 bit bus dữ liệu và 16 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng 64KB.
Bộ xử lý 8080 SX năm 1976
BXL
16bit
8086 xuất hiện tháng 6 năm 1978, sử dụng trong những thiết bị tính toán
di động. 8086 được sản xuất trên công nghệ 3 µm, với 29.000 transistor, có
16 bit bus dữ liệu và 20 bit bus địa chỉ, bộ nhớ mở rộng 1MB. Các phiên
bản của 8086 gồm 5, 8 và 10 MHz.
Bộ xử lý 8086 SX năm 1978
8088 trình làng vào tháng 6 năm 1979, là BXL được IBM chọn đưa vào

Bộ xử lý Intel 486 SX năm 1991
Pentium MMX (năm 1996), phiên bản cải tiến của Pentium với công nghệ MMX được Intel phát
triển để đáp ứng nhu cầu về ứng dụng đa phương tiện và truyền thông. MMX kết hợp với SIMD
(Single Instruction Multiple Data) cho phép xử lý nhiều dữ liệu trong cùng chỉ lệnh, làm tăng khả
năng xử lý trong các tác vụ đồ họa, đa phương tiện.
Bộ xử lý Intel MMX SX năm 1996
BXL Pentium II
BXL Pentium II đầu tiên, tên mã Klamath, sản xuất trên công nghệ 0,35 µm, có 7,5 triệu
transistor, bus hệ thống 66 MHz, gồm các phiên bản 233,266, 300MHz.
Pentium II, tên mã Deschutes, sử dụng công nghệ 0,25 µm, 7,5 triệu transistor, gồm các phiên bản
333MHz (bus hệ thống 66MHz), 350, 400, 450 MHz (bus hệ thống 100MHz). Celeron (năm
1998) được “rút gọn” từ kiến trúc BXL Pentium II, dành cho dòng máy cấp thấp. Phiên bản đầu
tiên, tên mã Covington không có bộ nhớ đệm L2 nên tốc độ xử lý khá chậm, không gây được ấn
tượng với người dùng. Phiên bản sau, tên mã Mendocino, đã khắc phục khuyết điểm này với bộ
nhớ đệm L2 128KB.
- Xuất hiện năm 1997
- Kiểu đóng gói : Kiểu gắn trên khe Slot1 hoặc Slot2, chíp được hàn cố định trên một vỉ nằm
nghiêng
- Tốc độ xử lý : gồm các phiên bản 233MHz, 266, 300, 333, 350, 400 và 450MHz
- Tốc độ FSB : 66MHz , 100MHz
- Cache từ 512KB trở xuống
CPU Pentium II được hàn trên vỉ rồi cắm vào khe Slot1
BXL Pentium III
Pentium III (năm 1999) gồm các tên mã Katmai, Coppermine và Tualatin.
Coppermine
có bộ nhớ đệm L2 - 256 KB được tích hợp bên trong nhằm tăng tốc độ xử lý. Đế cắm socket 370
FC-PGA (Flip-chip pin grid array), có các tốc độ như 500, 550, 600, 650, 700, 750, 800, 850 MHz
(bus 100MHz), 533, 600, 667, 733, 800, 866, 933, 1000, 1100 và 1133 MHz (bus 133MHz).
Tualatin có bộ nhớ đệm L1 32KB, L2 256 KB hoặc 512 KB tích hợp bên trong BXL, socket 370
FC-PGA (Flip-chip pin Grid Array), bus hệ thống 133 MHz. Có các tốc độ như 1133,1200, 1266,

P4 Northwood. Xuất hiện vào tháng 1 năm 2002, có bộ nhớ cache L2 512 KB, socket 478.
Northwood có 3 dòng gồm Northwood A (system bus 400 MHz), tốc độ 1,6, 1,8, 2,0, 2,2, 2,4, 2,5,
2,6 và 2,8 GHz. Northwood B (system bus 533 MHz), tốc độ 2,26, 2,4, 2,53, 2,66, 2,8 và 3,06
GHz (riêng 3,06 GHz có hỗ trợ công nghệ siêu phân luồng Hyper Threading - HT). Northwood C
(system bus 800 MHz, tất cả hỗ trợ HT), gồm 2,4, 2,6, 2,8, 3,0, 3,2, 3,4 GHz.
P4 Prescott (năm 2004). Là BXL đầu tiên Intel sản xuất theo công nghệ 90 nm, có bộ nhớ đệm
tích hợp L2 của P4 Prescott gấp đôi so với P4 Northwood (1MB so với 512 KB). Ngoài tập lệnh
MMX, SSE, SSE2, Prescott được bổ sung tập lệnh SSE3 giúp các ứng dụng xử lý video và game
chạy nhanh hơn. Đây là giai đoạn “giao thời” giữa socket 478 - 775LGA, system bus 533 MHz -
800 MHz
CPU P4 Northwood SX năm 2002 và
CPU P4 Prescott SX năm 2004
Prescott A (FSB 533 MHz) có các tốc độ 2,26, 2,4, 2,66, 2,8 (socket 478), Prescott 505 (2,66
GHz), 505J (2,66 GHz), 506 (2,66 GHz), 511 (2,8GHz), 515 (2,93 GHz), 515J (2,93 GHz), 516
(2,93 GHz), 519J (3,06 GHz), 519K (3,06 GHz) sử dụng socket 775LGA.
Prescott E, F (năm 2004) có bộ nhớ đệm L2 1 MB (các phiên bản sau được mở rộng 2 MB), bus
hệ thống 800 MHz. Ngoài tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3 tích hợp, Prescott E, F còn hỗ trợ
công nghệ siêu phân luồng, một số phiên bản sau có hỗ trợ tính toán 64 bit.
Dòng sử dụng socket 478 gồm Pentium 4 HT 2.8E (2,8 GHz), 3.0E (3,0 GHz), 3.2E (3,2 GHz),
3.4E (3,4 GHz). Dòng sử dụng socket 775LGA gồm Pentium 4 HT 3.2F, 3.4F, 3.6F, 3.8F với các
tốc độ tương ứng từ 3,2 GHz đến 3,8 GHz, Pentium 4 HT 517, 520, 520J, 521, 524, 530, 530J,
531, 540, 540J, 541, 550, 550J, 551, 560, 560J, 561, 570J, 571 với các tốc độ từ 2,8 GHz đến 3,8
GHz.
BXL Celeron
BXL Celeron được thiết kế với mục tiêu dung hòa giữa công nghệ và giá cả, đáp ứng các yêu cầu
phổ thông như truy cập Internet, Email, chat, xử lý các ứng dụng văn phòng. Điểm khác biệt giữa
Celeron và Petium là về công nghệ chế tạo và số lượng Transistor trên một đơn vị.
Celeron Willamette 128 (2002), bản “rút gọn” từ P4 Willamette, có bộ nhớ đệm L2 128 KB, bus
hệ thống 400 MHz, socket 478. Celeron Willamette 128 hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2. Một
số BXL thuộc dòng này như Celeron 1.7 (1,7 GHz) và Celeron 1.8 (1,8 GHz).

Pentium D (tên mã Smithfield, 8xx) là BXL lõi kép (dual core) đầu tiên của Intel, được cải tiến từ
P4 Prescott nên cũng gặp một số hạn chế như
hiện tượng thắt cổ chai do băng thông BXL ở mức 800 MHz (400 MHz cho mỗi lõi), điện năng
tiêu thụ cao, tỏa nhiều nhiệt. Smithfield được sản xuất
trên công nghệ 90nm, có 230 triệu transistor, bộ nhớ đệm L2 2 MB (2×1 MB, không chia sẻ), bus
hệ thống 533 MHz (805) hoặc 800 MHz, socket 775LGA.
Ngoài các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, Smithfield được trang bị tập lệnh mở rộng EMT64
hỗ trợ đánh địa chỉ nhớ 64 bit, công nghệ Enhanced SpeedStep
(830, 840). Một số BXL thuộc dòng này như Pentium D 805 (2,66 GHz), 820 (2,8 GHz), 830 (3,0
GHz), 840 (3,2 GHz).
CPU Pentium D 805 ( Dual Core )
Cùng sử dụng vi kiến trúc NetBurst, Pentium D (mã Presler, 9xx) được Intel thiết kế mới trên
công nghệ 65nm, 376 triệu transistor, bộ nhớ đệm
L2 4 MB (2×2 MB), hiệu năng cao hơn, nhiều tính năng mới và ít tốn điện năng hơn Smithfield.
Pentium D 915 và 920 tốc độ 2,8 GHz, 925 và 930
(3,0GHz), 935 và 940 (3,2 GHz), 945 và 950 (3,4 GHz), 960 (3,6GHz). Presler dòng 9×0 có hỗ
trợ Virtualization Technology.
CPU Pentium D 915
Pentium Extreme Edition (năm 2005)
BXL lõi kép dành cho game thủ và người dùng cao cấp. Pentium EE sử dụng nhân Smithfield,
Presler của Pentium D trong đó Smithfield sử dụng công
nghệ 90nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 2 MB (2×1 MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE,
SSE2, SSE3, công nghệ HT, Enhanced Intel SpeedStep Technology
(EIST) và EM64T. Pentium 840 EE (3,20 GHz, bus hệ thống 800 MHz, socket 775LGA) là một
trong những BXL thuộc dòng này.
Pentium EE Presler sử dụng công nghệ 65 nm, bộ nhớ đệm L2 được mở rộng đến 4 MB (2×2
MB), hỗ trợ tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, công nghệ HT,
Enhanced Intel SpeedStep Technology (EIST), EM64T và Virtualization Technology. Một số
BXL thuộc dòng này là Pentium EE 955 (3,46GHz) và
Pentium EE 965 (3,73GHz) có bus hệ thống 1066 MHz, socket 775.

- Tương thích với Memory là DDR2
- Chipset hỗ trợ là Intel 945GC, 945GT, 946PL, 946GZ, Q963, Q965, P965,G965
CPU
Intel® Core™2 Duo SX năm 2007
Core 2 Extreme
BXL lõi kép dành cho game thủ sử dụng kiến trúc Core, có nhiều đặc điểm giống với BXL Core 2
như công nghệ sản xuất 65 nm, hỗ trợ các công nghệ mới Enhanced Intel SpeedStep Technology,
Intel x86-64, Execute Disable Bit, Intel Active Management, Virtualization Technology, Intel
Trusted Execution Technology… các tập lệnh MMX, SSE, SSE2, SSE3, SSSE3.
Intel® Core™2 Extreme Processor- Kiểu chân: Soket LGA775
- Tốc độ xử lý từ 2,66GHz đến >= 3,2GHz
- Tốc độ FSB: 1066MHz, 1333MHz, 1600MHz
- Cache từ 4MB đến 12MB
- Tương thích với Memory là DDR2 và DDR3
- Chipset hỗ trợ là Intel 925, 955, 975X
CPU Core 2 Extreme (4 nhân) SX tháng 7/2006
Core 2 Extreme (tên mã Conroe XE) (tháng 7 năm 2006) với đại diện X6800 2,93 Ghz, bộ nhớ
đệm L2 đến 4 MB, bus hệ thống 1066 MHz, socket 775LGA. Cuối năm 2006, con đường phía
trước của BXL tiếp tục rộng mở khi Intel giới thiệu BXL 4 nhân (Quad Core) như Core 2
Extreme QX6700, Core 2 Quad Q6300, Q6400, Q6600 và BXL 8 nhân trong vài năm tới. Chắc
chắn những BXL này sẽ thỏa mãn nhu cầu người dùng đam mê công nghệ và tốc độ.
Intel® Core™2 Quad Processor- Kiểu chân: Soket LGA775
- Tốc độ xử lý từ 2,4GHz đến >= 2,83GHz
- Tốc độ FSB: 1066MHz, 1333MHz
- Cache từ 6MB đến 12MB
- Tương thích với Memory là DDR2
CPU Core 2 Quad (8 nhân) SX đầu năm 2007 CON CPU MỚi Nhất
CORE i7
(VnMedia) - Intel vừa cập nhật bảng giá cho các bộ vi xử lý mới bao gồm cả chip Core i7 và một
số mẫu dành cho thiết bị di động.

(tên mã “Clarksfield”) không chắc chắn sẽ ra đời cho đến nửa cuối năm 2009.
V/Dòng CPU Của hãng AMD
1969: Một nhóm các giám đốc điều hành cũ của Fairchild Semiconductor, trong đó có Jerry
Sanders, sáng lập nên Advanced Micro Devices vào ngày 1/5/1969 với khoản đầu tư ban đầu là
$100,000. Trọng tâm của công ty này là lĩnh vực thiết kế chip logic.
1970: AMD giới thiệu loại bộ đếm Logic Am2501, sản phẩm riêng đầu tiên của công ty.
1972: AMD trở thành công ty cổ phần.
1975: AMD gia nhập lĩnh vực sản xuất chip RAM, thiết kế bộ vi xử lý dựa theo Chip Intel 8080
và chế tạo các phần bộ xử lý cho Minicomputer.
1979: AMD lên sàn chứng khoán New York và mở nhà máy sản xuất mới tại Austin, Texas.
1982: AMD trở thành nhà cung cấp bộ vi xử lý thứ hai được Intel cấp giấy phép đối với chip 8086
và 8088 cho IBM.
AMD ra mắt loại bộ vi xử lí nhái 80286 mang tên Am286 dựa trên thiết kế và vi mã của Intel.
1985: ATI (sau này được AMD mua lại) phát triển mạch điều khiển đồ họa đầu tiên và Card đồ
họa đầu tiên. AMD gia nhập danh sách Fortune 500.
1986: Intel chấm dứt hợp đồng cấp phép với AMD và từ chối cung cấp thông tin kỹ thuật của
i386. Một cuộc chiến pháp lý kéo dài 8 năm bắt đầu.
1987: AMD mua lại Monolithic Memories và gia nhập lĩnh vực logic lập trình.
1988: AMD xây dựng Trung tâm phát triển Siêu hiển vi AMD, sau này cung cấp công nghệ công
nghệ thế hệ tiếp theo cho các nhà máy của AMD trên toàn thế giới.
1991: AMD ra mắt lần đầu giải pháp thay thế cho bộ xử lý Intel 386 mang tên Am386, bán được
hơn một triệu bản trong vòng chưa đầy một năm.
1993: AMD giới thiệu bộ xử lý nhái Intel 486 mang tên Am486 và thành lập hãng liên doanh
NOR Flash với Fujitsu.
1994: AMD bắt đầu hợp đồng cung cấp bộ xử lý Am486 dài hạn cho Compaq.
1992:Công ty con của ATI tại Đức được thành lập, các sản phẩm VESA và PCI đầu tiên được đưa
ra thị trường và Mach32 – mạch điều khiển và bộ tăng tốc đồ họa đầu tiên trên chip được công
bố.
1994: Cuộc chiến pháp lý với Intel xung quanh chip 386 kết thúc và tòa án tối cao California đứng
về phía AMD.

Trung Quốc với Beijing HQ.
AMD Turion 64
2005: Turion 64 dành cho notebook, Athlon 64 X2 2 nhân và Opteron 2 nhân được công bố. Nhà
máy Fab36 300mm ở Dresden, Đức mở cửa. AMD khởi kiện Intel tội lạm dụng vị thế độc quyền
để ngăn cản và tiêu diệt tính cạnh tranh trên thị trường. Cổ phiếu Spansion được bán ra.
AMD Athlon 64 X2
2006: AMD công bố phi vụ sát nhập trị giá $5.4 tỉ với ATI và công bố kế hoạch sản xuất bộ xử
lý Fusion vào năm 2010.
CEO ATI Dave Orton được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch điều hành Bộ phận Công nghệ thị giác và
Media. Dell công bố loại máy tính sử dụng bộ xử lý AMD. AMD giới thiệu bộ xử lý x86 4 nhân
dành cho máy chủ dựa trên nhân Barcelona và thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển
Thượng Hải để tập trung vào nền tảng thiết bị di động. AMD chuyển sang CPU 65nm và hứa
thu hẹp khoảng cách về sản xuất với Intel. Kế hoạch xây dựng nhà máy 32nm tại bang New York
được công bố.
2007: Bộ xử lý 4 nhân Opteron và Phenom ra mắt với lỗi TLB.
AMD giới thiệu loại CPU 3 nhân và công bố bộ xử lý 45nm đầu tiên. AMD thiệt hại vài tỉ đô
trong cuộc chiến giá bộ xử lý với Intel trong nỗ lực giành lại thị phần.
2008: AMD giới thiệu bộ xử lý 3 nhân và phát hành serie card đồ họa 4800.
Thế hệ Barcelona Opteron thứ hai ra đời hoàn toàn không chứa lỗi TLB.
Reduced: 50% of original size [ 1024 x 768 ] - Click to view full image
AMD bắt đầu tham gia vào các thị trường mới cũng như xây dựng quy trình sản xuất 200mm. Bắt
đầu sản xuất bộ xử lý 45nm đầu tiên. Chủ tịch kiêm CEO Dirk Meyer được bổ nhiệm làm CEO
thay thế Hector Ruiz. AMD tuyên bố tách làm hai công ty – một hãng chuyên thiết kế chip và
một công ty chuyên sản xuất chip.
VI /Bài viết hay về CPU
Luồng xử lý của CPUTương thích với phần cứng
Trong mục CPU đa nhân thế hệ đầu tiên ta nhận thấy vấn đề tương thích của các CPU đa nhân với
hệ thống phần cứng không hề đơn giản. Một số CPU đa nhân thế hệ đầu của AMD có thể tương
thích với bo mạnh chủ cũ dành cho các CPU một nhân trước khi chúng ra đời, các CPU đa nhân
của Intel thì hoàn toàn không tương thích với các bo mạch chủ sử dụng chipset cũ nếu chúng

và xen kẽ nhau khi người sử dụng thực hiện đồng thời nhiều phần mềm (như trong các ví
dụ nêu trên). Mỗi phần mềm nếu không đòi hỏi một sự xử lý liên tục thì chúng được đáp
ứng từng phần. Đa số các phần mềm sử dụng trong văn phòng một cách thông thường nhất
đều đã được xử lý như vậy. Ví dụ: khi bạn đang duyệt web và cùng soạn thảo một văn bản
sẽ có các khoảng thời gian mà bạn phải đọc một trang web hoặc lúc bạn đang soạn thảo
văn bản thì có nghĩa là trình duyệt web lúc đó có thể không cần thiết phải xử lý bởi chúng
đã tải xuống (download) đủ thông tin để phục vụ hiển thị nội dung trang web đó. Đây chỉ
là một ví dụ đơn giản với những ứng dụng đơn giản để cho thấy việc các CPU có thể phân
tách để xử lý các nhiệm vụ một cách đồng thời.
Nếu như người sử dụng thực thi các phần mềm ứng dụng yêu cầu đến xử lý lớn một cách
đồng đều thì dễ nhận thấy rằng hệ thống có thể trở lên chậm chạp bởi mỗi ứng dụng lại chỉ
được xử lý lần lượt xen kẽ nhau. Nếu như có hai bộ xử lý đồng thời trong cùng một máy
tính thì cả hai ứng dụng lớn này đều có thể thực hiện được tốt hơn hay không. Hoặc như có
một CPU nhưng đồng thời đáp ứng yêu cầu của hai hoặc nhiều hơn các ứng dụng trong
cùng một thời điểm thì có cải thiện được tốc độ làm việc chung của máy tính hay không ?
Hãy xem một ví dụ sau: Nếu có một nhóm người chờ trước cổng một phòng khám da liễu,
phòng chờ cách cửa vào một khoảng xa.
• <LI style="LINE-HEIGHT: normal; TEXT-INDENT: -0.25in; MARGIN-LEFT: 0.5in;
mso-list: l4 level1 lfo6; mso-margin-top-alt: auto; tab-stops: list .5in; mso-margin-bottom-
alt: auto" class=MsoNormal>CPU đơn nhân, đơn luồng: giống như việc chỉ có một cửa
vào, và trong đó có một bác sĩ chỉ khám lần lượt từng người với điều kiện mỗi người hết 10
phút, trong đó ưu tiên khám hết nữ giới sau đó mới đến lượt nam giới - thời gian khám hết
nhóm người đó sẽ rất lâu và nam giới phải chờ lâu hơn mặc dù đến sớm. <LI style="LINE-
HEIGHT: normal; TEXT-INDENT: -0.25in; MARGIN-LEFT: 0.5in; mso-list: l4 level1
lfo6; mso-margin-top-alt: auto; tab-stops: list .5in; mso-margin-bottom-alt: auto"
class=MsoNormal>CPU đơn nhân, đa luồng: giống như việc có một cửa, mỗi người khám
10 phút, khám xen kẽ cả nam giới và nữ giới. Giải quyết được việc người nào đến trước thì
xong trước. <LI style="LINE-HEIGHT: normal; TEXT-INDENT: -0.25in; MARGIN-
LEFT: 0.5in; mso-list: l4 level1 lfo6; mso-margin-top-alt: auto; tab-stops: list .5in; mso-
margin-bottom-alt: auto" class=MsoNormal>CPU đơn nhân, đa luồng, có công nghệ phân

xây dựng lại các thư việ lập trình sẵn có và cần có các khoản chi phí lớn. Vậy thì cách thức phát
triển phần mềm truyền thống vẫn là một sự lựa chọn an toàn hơn với họ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các hãng phần mềm đều chưa có động thái về hỗ trợ CPU đa nhân.
Các phần mềm sử dụng cho máy chủ,máy trạm đã hỗ trợ xử lý đa luồng từ trước đây, bởi chúng ở
một lĩnh vực riêng nên ít được người sử dụng máy tính thông thường biết đến. Đối với máy tính
cá nhân để bàn sẽ xuất hiện nhiều phần mềm hỗ trợ đa luồng hơn mà trước hết là từ những phần
mềm cần đến khả năng xử lý lớn như: xử lýđồ họa, xử lý video
Các trò chơi trên máy tính (game) 3D hiện nay cũng chưa được thiết kế tối ưu cho hoạt động với
các CPU đa nhân, đích nhắm tới hiện nay của chúng thường là hỗ trợ DX10 và DX10.1 (với khả
năng đồ hoạ tuyệt đẹp hỗ trợ trên Windows Vista nhiều hơn, do đó chúng vẫn thường chỉ chiếm
một nhân khi xử lý ở CPU đa nhân
Tương lai phần mềm vẫn sẽ phải phát triển theo hướng phù hợp với CPU đa nhân, nhất là với các
phần mềm chiếm tài nguyên của CPU nhiều khi thực thi phần mềm đó. Đây là một định hướng tất
yếu bởi khi sử dụng một phần mềm lớn, chúng chỉ chiếm một nhân trên CPU thì các nhân còn lại
sẽ chỉ được sử dụng cho các phần mềm, dịch vụ chạy ở chế độ nền gây lãng phí năng lực xử lý
trong khi có khả năng khai thác toàn bộ các nhân cùng hoạt động như vậy. Bạn hãy thử quan sát
biểu đồ hoạt động thực tại của các nhân trong CPU khi sử dụng phần mềm chiếm nhiều tài
nguyên sẽ nhận thấy sự lãng phí này. Ngược lại với các phần mềm chiếm tài nguyên thấp có thể
không nhất thiết phải viết lại phù hợp cho các CPU đa nhân bởi điều đó là không cần thiết khi
chúng không thể chiếm đến trên 10% năng lực xử lý trên một nhân (ví dụ như các phần mềm trợ
giúp bỏ dấu tiếng việt trong soạn thảo văn bản chỉ yêu cầu xử lý thấp).
Đa nhân và hệ điều hành
Khác với phần mềm thì hệ điều hành cần thiết phải hỗ trợ các CPU đa nhân đa nhân và có thể tận
dụng mọi công nghệ của CPU. Nếu như hệ điều hành không hỗ trợ các CPU đa nhân thì chúng chỉ
nhận dạng duy nhất một bộ xử lý và có thể dẫn đến làm việc không ổn định. Hãy thử sử dụng hệ
điều hành MS-DOS với các ứng dụng cũ sẽ nhận thấy chúng hoàn toàn có thể không phù hợp và
hoạt động nhanh hơn đối với các CPU thế hệ trước đây bởi DOS và các hệ điều hành Windows
3.X thường phù hợp hơn với các CPU 16 bit.
Các hệ điều hành còn được sử dụng trong những năm 2008 thường hỗ trợ tốt đối với các CPU đa
nhân bởi chúng có thể nhận dạng các CPU đa nhân và phân các luồng xử lý tới từng nhân để phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status