Tài liệu về phần cứng máy tính - Pdf 64

Cơ bản về CPU 64-bit
CPU 64-bit là các CPU có các ALU 64-bit, các thanh ghi 64-bit, các tuyến 64-bit và… nó có thể
quản lý được không gian bộ nhớ hàng nghìn triệu Gigabyte. Các bộ xử lý 64-bit đã xuất hiện từ
năm 1992 và ở thế kỷ 21, chúng sẽ trở thành xu hướng chủ đạo. Các nhà sản xuất CPU hàng
đầu như Intel và AMD đều đã lần lượt giới thiệu các CPU 64-bit của mình và CPU Mac G6 cũng
là loại 64-bit.
Tại sao chúng ta cần đến CPU 64-bit?
Lý do duy nhất là vì chúng ta cần đến không gian địa chỉ được mở rộng của các CPU này. Các
CPU 32-bit có thể hỗ trợ truy xuất tối đa 2 Gb hoặc 4Gb bộ nhớ RAM. Nghe thì có vẻ quá nhiều
vì các máy tính cá nhân của chúng ta hiện nay chỉ cần đến 256 Mb hoặc 512 Mb. Nhưng, giới
hạn 4-Gb có thể khiến các máy chủ cũng như máy tính chạy các chương trình cơ sở dữ liệu lớn
phải “đau đầu”. Đó là chưa nói đến với xu hướng phát triển hiện tại, ngay cả các máy tính gia
đình cũng sẽ sớm tiến đến vạch 4Gb. Trong khi, các CPU 64-bit lại không gặp phải “rào cản”
này vì không gian địa chi 64-bit về căn bản sẽ là một không gian vô tận (2^64 Bytes).
Nhờ tuyến địa chỉ 64-bit cùng các tuyến dữ liệu rộng và nhanh trên bo mạch chủ, các hệ thống
64-bit gia tăng tốc độ nhập/xuất cho các thiết bị như đĩa cứng hay bo mạch đồ họa. Nhờ vậy
mà tốc độ của toàn bộ hệ thống được nâng cao rõ rệt.
Với các máy tính chủ, lợi ích mà 64 bit mang lại quá rạch ròi. Còn với người dùng gia đình thì
sao? Ngoài việc phá bỏ rào cản giới hạn bộ nhớ hệ thống, 64-bit hiện tại vẫn chưa mang lại lợi
ích xác thực nào cho người dùng gia đình. Tuy nhiên, nó có thể rút ngắn thời gian xử lý các dữ
liệu phức tạp gồm rất nhiều số thực. Nhờ vậy, các ứng dụng đồ họa lớn, ứng dụng hiệu chỉnh
video hay các trò chơi máy tính thế hệ mới sẽ là những lĩnh vực đầu tiên hưởng lợi từ sức mạnh
xử lý 64-bit.
Một vài biểu đồ so sánh giữa CPU 32-bit và 64-bit:
Thông tin thêm có thể tham khảo tại đây:
/>Nguồn điện máy tính: Quan trọng hơn bạn nghĩ
Khi xây dựng hệ thống máy tính mới, người dùng thường không mấy khi chú ý tới một thành phần rất quan
trọng - bộ nguồn. Thường người ta chi khá bộn cho các thành phần chính của máy tính như CPU, RAM, bo
mạch chủ... Việc chi 150 USD cho card đồ họa thế hệ mới có vẻ hợp lý hơn đầu tư khoản tiền đó cho bộ
nguồn (BN) hay Power Supply Unit (PSU). Tuy nhiên, những thử nghiệm cho thấy BN đóng vai trò quan trọng
đối với hiệu quả hoạt động của hệ thống. Chip lõi kép, đồ họa kép cùng với những "món đồ chơi" ngốn điện

bắt đầu làm việc. Điều này là do hệ thống phải chờ tín hiệu đèn xanh cho biết điện thế đã sẵn sàng từ BN gửi
tới BMC. Nếu không có tín hiệu này, BMC sẽ không cho phép máy tính hoạt động.

Trong số các đường điện chính, những đường có giá trị dương (+) đóng vai trò quan trọng hơn và bạn phải
luôn để mắt tới chúng. Mỗi đường sẽ có chỉ số Ampere (A) riêng và con số này càng cao càng tốt. Công suất
tổng được tính bằng công thức W= VxA. Ví dụ đối với BN có đường 3,3V là 30A, 5V là 30A và 12V là 25A thì
các đường điện và công suất được tính như sau:
+ Công suất đường điện 3.3V = 3.3V x 30A = 100W
+ Công suất đường điện 5V = 5V x 30A = 150W
+ Công suất đường điện 12V = 12V x 25A = 300W
Như vậy tổng công suất nguồn sẽ là 100W + 150W + 300W = 550W. Tuy nhiên trên thực tế còn nhiều yếu tố
khác ảnh hưởng tới con số tổng này và chúng ta sẽ đề cập tới ở phần sau bài viết.
3. Chuẩn của bộ nguồn
Chuẩn thống trị hiện nay trên máy tính để bàn nói chung chính là ATX (Advanced Technology Extended) 12V,
được thiết kế bởi Intel vào năm 1995 và đã nhanh chóng thay thế chuẩn AT cũ bởi nhiều ưu điểm vượt trội.
Nếu như với nguồn AT, việc kích hoạt chế độ bật được thực hiện qua công tắc có bốn điểm tiếp xúc điện thì
với bộ nguồn ATX bạn có thể bật tắt bằng phần mềm hay chỉ cần nối mạch hai chân cắm kích nguồn (dây
xanh lá cây và một trong các dây Ground đen). Các nguồn ATX chuẩn luôn có công tắc tổng để có thể ngắt
hoàn toàn dòng điện ra khỏi máy tính. ATX có 5 nhánh thiết kế chính:
- ATX: jack chính 20 chân (thường dùng cho Pentium III hoặc Athlon XP).
- WTX: jack chính 24 chân, dùng cho Pentium II, III Xeon và Athlon MP.
- ATX 12V: jack chính 20 chân, jack phụ 4 chân 12v (Pentium 4 hoặc Athlon 64).
- EPS12V: jack chính 24 chân, jack phụ 8 chân dùng cho các hệ thống Xeon hoặc
Opteron.
- ATX12V 2.0: jack chính 24 chân, jack phụ 4 chân (Pentium 4 775 và các hệ thống Athlon
64 PCI-Express)
Gần đây xuất hiện một chuẩn mới với tên gọi BTX (Balanced Technology Extended) có
cách sắp xếp các thành phần bên trong máy hoàn toàn khác với ATX hiện nay, cho phép
các nhà phát triển hệ thống có thêm tùy chọn nhằm giải quyết vấn đề nhiệt lượng, độ ồn... Chuẩn BTX được
thiết kế tối ưu cho những công nghệ mới hiện nay như SATA, USB 2.0 và PCI Express. Yếu tố xử lý nhiệt độ

- Đầu cắm EPS 12V 8 chân: Thường được sử dụng cho các BMC workstation trên những hệ thống máy tính
chuyên nghiệp với CPU Opteron hay Xeon. Gần đây, một số BMC desktop mới cũng bắt đầu sử dụng đầu cắm
này ví dụ như dòng P5WD2 của Asus.
Hiện nay, thiết kế tháo rời (Modular Concept) của bộ nguồn máy tính đang bắt đầu được
sử dụng. Bạn hãy thử hình dung một bộ nguồn chuẩn ATX 2.01 sẽ có khoảng 8-10 đầu
cắm Molex, 1 đầu cắm chính, một hoặc hai đầu cắm PCI-Express, 1 đầu 12V, 2 tới 4 đầu
SATA và một số các đầu giao tiếp riêng đặc biệt khác. Tuy nhiên hệ thống máy tính của
bạn nếu chỉ ở mức cơ bản và sử dụng chưa tới ½ số đầu cắm này thì chắc chắn việc sắp
xếp gọn gàng những đầu cắm dư bên trong máy sẽ khá rắc rối. Modular Concept cho phép
bạn chỉ cắm những dây với các đầu nối cần dùng và loại bỏ những chân không cần thiết.
Nhờ vậy nội thất bên trong case của bạn sẽ gọn gàng và tạo điều kiện thuận lợi cho các
giải pháp làm mát nói chung. Tuy nhiên kiểu thiết kế mới này hiện tại mới chỉ được áp dụng trên những BN
cao cấp đắt tiền.
5. Các đường điện âm
Nếu sử dụng một số phần mềm đo điện hay thậm chí là đồng hồ đo, bạn sẽ thấy các giá trị của đường điện
âm (-) khá thấp so với các đường dương (+). Điều này là do hiện nay chúng không còn quan trọng nữa. Mặc
dù một bộ nguồn ATX 20 chân có chân số 12 là -12v và chân số 18 là -5v nhưng hầu như không bao giờ được
dùng. Một số thiết bị cần tới điện thế âm bao gồm:
+ Các card mở rộng ISA.
+ Cổng serial hoặc LAN
+ Ổ đĩa mềm thế hệ cũ.
6. Thời gian duy trì điện (Hold-up time)
Giá trị Holdup Time xác định khoảng thời gian tính bằng mili-giây mà một bộ nguồn có thể duy trì được các
đường điện ra ở đúng định mức khi đường điện vào bị ngắt (ví dụ như mất điện). Điều này rất có ích đặc biệt
khi bạn sống trong khu vực điện không ổn định (ví dụ trường hợp điện đột ngột chớp ngắt rồi có lại thì máy
tính vẫn có thể hoạt động bình thường). Giá trị Hold-up time của chuẩn ATX là 17ms và bộ nguồn máy tính
nên có chỉ số này càng cao càng tốt.

phải phù hợp với độ ồn của môi trường làm việc. Lấy ví dụ, trong văn
phòng ồn ào, bộ nguồn 30dB có thể không phải là vấn đề nhưng nếu
trong phòng khách gia đình yên tĩnh, con số này sẽ gây khó chịu, đặc
biệt là về đêm. Một quy tắc bất thành văn là bộ nguồn với quạt 120mm
sẽ làm việc êm hơn so với bộ nguồn có quạt 80mm hay 90mm tốc độ
cao mặc dù hiệu năng làm mát của chúng có thể tương đương nhau. Khi
bộ nguồn làm việc nặng nhọc hơn (nuôi nhiều thiết bị) thì nhiệt lượng do
nó tỏa ra cũng tăng cao và đối với những bộ nguồn có quạt tự điều chỉnh
tốc độ, số vòng quay của quạt cũng tăng lên và khi đó những âm thanh
ồn ào bắt đầu xuất hiện. Ví dụ khi một bộ nguồn làm việc ở mức 70%, tiếng ồn chỉ khoảng 20dB nhưng khi lên
tới con số 90% thì âm lượng phát ra sẽ có thể lên tới 35dB hoặc hơn. Bạn nên xem xét kĩ vấn đề này: nếu cần nguồn 300W, bạn nên chọn loại 350W để công suất làm việc vừa đủ 85%, nếu chọn loại 400W thì con số này
chỉ còn 75% và có thể độ ồn cũng giảm theo.
Một số bộ nguồn loại siêu êm có thể không sử dụng quạt hoặc chỉ dùng những loại quạt rất êm nhưng hầu hết
chúng không dành cho những máy tính bình thường vì giá cực đắt, điển hình như XG Magnum 500 của MGE.
Nếu hay lượn lờ trên các website công nghệ, có thể bạn cũng sẽ bắt gặp một số bộ nguồn với giải pháp làm
mát bằng nước nhưng loại này khá nguy hiểm đối với những người ít kinh nghiệm.
10. Chiết áp chỉnh điện thế (Adjustable Pot)
Một số bộ nguồn tốt có kèm theo các chiết áp nhỏ bên
trong để chỉnh hiệu điện thế cho các đường điện. Trong
thực tế, nếu đường điện 12V của bạn tụt xuống dưới
11,5V, nó sẽ gây ra mất ổn định cho toàn hệ thống. Hãy
nhớ rằng chuẩn ATX cho phép điện thế mỗi đường dao
động trong khoảng 5% và bạn có thể chỉnh lại lên 12V
thông qua những chiết áp đó. Tuy nhiên đây là tính năng
nâng cao và chỉ nên thực hiện nếu bạn biết mình đang làm
điều gì. Một số sản phẩm nguồn chuyển hẳn các chiết áp
này ra ngoài để người dùng tự thay đổi thoải mái ví dụ như series TrueControl của Antec.


1

+5VDC

±5%

+4.75V

+5.25V2

+12VDC

±5%

+11.40V

+12.60V3

-5VDC

±10%

-4.5V

±5%

+4.75V

+5.25V


Nguồn điện máy tính: Quan trọng hơn bạn nghĩ (Phần
2)
CÁCH CHỌN BỘ NGUỒN TỐT
Bạn đang dự định lắp một bộ máy tính mới và phân vân chưa biết nên mua bộ nguồn nào? Hãy tham
khảo những bước sau đây:
1. Tính toán đường điện 12V của nguồn
Như bạn đã biết, 3 đường điện chính của một bộ nguồn là +12V, +5V và +3.3V. Công suất tổng được
tính toán dựa trên cường độ mỗi dòng. Tuy nhiên thực tế đáng buồn là rất nhiều nhà sản xuất bộ
nguồn máy tính thường sử dụng thủ thuật tăng số watt lên bằng cách "đẩy" những đường điện không
quan trọng (+5V và +3.3V). Chính vì thế, bạn hãy bỏ qua con số watt và tập trung vào cường độ của
đường điện 12V để xác định chất lượng một bộ nguồn. Chỉ số Ampere của đường +12V có thể tìm
thấy trong tài liệu đi kèm hoặc ngay trên tem sản phẩm (ví dụ +12V: 25A). Chú ý rằng những nguồn
ATX12V 2.0 mới có tới 2 đường 12V cho phép chia tải năng lượng giữa CPU và BMC (+12v1) độc lập
khỏi những linh kiện khác (+12v2). Điều đó cho phép dòng điện ổn định hơn. Một số nguồn thậm chí
còn có tới 3 đường 12V khác nhau ví dụ như RealPower 550W của CoolerMaster. Mặc dù điều này
không có ý nghĩa đối với những hệ thống thông thường nhưng khi sử dụng với những máy tính siêu
mạnh cho game hay các ứng dụng chuyên nghiệp thì sẽ có khác biệt lớn.
2. Đảm bảo tính chính xác
Nếu bạn vừa mua một bộ nguồn chỉ 10-20USD với tem dán 28A cho đường +12V thì chắc chắn điều
đó không chính xác. Tại thị trường Việt Nam hiện nay có nhiều bộ nguồn kém chất lượng xuất xứ
không rõ ràng, bạn thậm chí có thể mua được một bộ nguồn công suất cực cao lên tới 600W-700W
với giá chỉ 2/3 so với bộ nguồn 350W hàng hiệu, tuy nhiên đó không phải là công suất thực. Đó là
chưa kể nguồn điện kém chất lượng thường không ổn định sau một thời gian dài sử dụng và có thể

Trong đa số trường hợp, tuyến dữ liệu ngoại có cùng độ rộng với ALU, nhưng không phải lúc
nào cũng vậy. Chip 8088 có các ALU 32 bit, và một tuyến 8 bit. Trong khi các CPU Pentium mới
tìm nạp dữ liệu 64 bit tại cùng một thời điểm cho các ALU 32 bit của chúng
MIPS: viết tắt của cụm "millions of instructions per second", là thước đo tương đối cho hiệu
năng của CPU. Các CPU thế hệ mới hiện nay có thể làm rất nhiều việc khác nhau khiến việc
đánh giá bằng các giá trị MIPS mất dần ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, bạn có thể có được phán
đoán chung về sức mạnh tương đối của các CPU từ cột này.
Từ bảng trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy có một mối quan hệ giữa tốc độ đồng hồ và
MIPS. Ngoài ra, cũng có một mối quan hệ giữa số lượng transistor và MIPS. Lấy ví dụ,
chip 8088 chạy ở tốc độ 5 Mhz nhưng chỉ có thể thực hiện được 0.33 MIPS (khoảng 1
chỉ lệnh trên 15 chu kỳ nhịp đồng hồ). Trong khi các CPU thế hệ mới có thể thi hành
bình thường ở tốc độ: 2 chỉ lệnh trên một chu kỳ nhịp đồng hồ. Việc cải tiến đó liên
quan trực tiếp đến số lượng transistor trên chip.
Loa hoạt động như thế nào?
Một vật muốn phát ra âm thanh thì vật đó phải rung động. Loa cũng vậy. Loa điện động là loại
thông dụng nhất hiện nay. Cấu tạo bao gồm: khung loa, màng loa và phần động cơ tạo sự rung
động cho màng loa (bao gồm toàn bộ cuộn dây di động được gắn với màng loa và nam châm
vĩnh cửu tạo nên phần động cơ). Tín hiệu âm thanh dạng điện, từ bộ khuếch đại công suất
(amplifier) được đưa vào cuộn dây tạo nên một trường điện từ thay đổi xung quanh cuộn dây.
Từ trường này tác động với từ trường phát sinh bởi nam châm vĩnh cửu được giữ cố định vào
khung loa, nên khi có sự khác biệt cực tính giữa nam châm điện (cuộn dây di động) và nam
châm vĩnh cửu, hiện tượng hút/đẩy sẽ xảy ra, tạo nên sự rung động của màng loa. Khi màng
loa rung động, màng loa di chuyển tới lui tạo một lực áp lên các phần tử không khí chung
quanh nó, tạo ra âm thanh mà ta nghe được.
Các loa có hỗ trợ chuẩn Dolby Digital, EAX có ưu điểm như thế nào so với các loa âm
thanh thông thường khác?
Các loa hỗ trợ chuẩn Dollby Digital có số lượng loa nhiều hơn 6 (đối với hệ thống loa 5.1 sẽ có 5
loa vệ tinh và 1 loa siêu trầm) nhằm tạo ra hiệu ứng âm thanh sống động .
Chuẩn Dollby Digital, DTS… cho âm thanh trung thực, cùng với các hiệu ứng xoay vòng
(surround), tạo ra hiệu quả âm thanh sống động mà ta thường nghe trong các phim hành

BXL có tốc độ khác nhau. Từ đó, người sử dụng có thể nâng cấp lên các BXL mạnh hơn. Khi lắp
đặt BXL, bạn phải gắm nó vào đế cắm này nhưng lưu ý là lực ép cho phép rất nhỏ. BXL sẽ được
khóa với một bẫy khóa, kẹp các chân của nó vào đế cắm. Ngoài ra, cũng có các bo mạch chủ
cho phép lắp nhiều hơn một BXL. Thường các bo mạch chủ loại này được dùng trong các hệ
thống máy tính trạm hoặc máy chủ cần đến năng lực xử lý lớn.
BXL giao tiếp với bộ nhớ hệ thống (DRAM-Dynamic Random Access Memory) qua một cầu nối.
Tuy nhiên, tốc độ bộ nhớ hệ thống hiện tại vẫn chưa bắt kịp tốc độ của các BXL thế hệ mới.
Trong khi đó, chiếc cầu nối lại bị ảnh hưởng đáng kể bởi thời gian trể, mạch ghép và tốc
độ "làm tươi" của DRAM. Có một loại bộ nhớ nhỏ hơn gọi là bộ nhớ đệm (cache) được đặt giữa
BXL và DRAM. Bộ nhớ đệm có tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với bộ nhớ DRAM và trên các BXL
thế hệ mới nó được đặt trên cùng một "bánh" silicon với BXL và có cùng tốc độ với tốc độ của
BXL. Bộ nhớ đệm truyền thống được thiết kế sử dụng loại RAM tĩnh, được lắp trên các khối nhỏ
và được quản lý bởi mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển DRAM trên các bo mạch thế hệ
mới nằm trên cùng một chip như mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển cache nạp dữ liệu
vào SRAM từ DRAM, do đó các dữ liệu và chỉ lệnh được truyền đến BXL với tốc độ cao nhất.
Tuyến nội của BXL được nối đến các tuyến PCI và ISA bằng các chip cầu nối. Chip cầu nối bus
PCI thay đổi thiết kế cùng với sự thay đổi của mỗi BXL. Cầu nối ISA bao gồm tất cả các thiết kế
lõi dành cho tuyến 16 bit kiểu AT của các máy tính cá nhân IBM nguyên thủy, bao gồm mạch
điều khiển DMA 8237, mạch điều khiển ngắt 8259, và các chíp đếm/tính thời gian 8254. Chíp
này cho phép tương thích ngược với các giao tiếp và thiết bị mở rộng loại cũ.
Dynamic Random Access Memory – Ram động
Một loại chip nhớ truy cập ngẫu nhiên ( RAM), biểu hiện các trạng thái nhớ bằng những tụ
tích trữ điện tích. Vì các tụ điện này thường xuyên bị mất điện tích của mình, cho nên các chip
DRAM phải được "làm tươi" lại liên tục (vì vậy gọi là "động").
Ở các máy tính cá nhân đời đầu, cổng và thiết bị điều khiển bàn phím được kết hợp trên bo
mạch chủ. Trong khi các thiết kế mới hiện nay cho phép cổng nối tiếp (Serial) được tích hợp
ngay trên bo mạch chủ. Bàn phím sử dụng bộ điều hợp giao tiếp nối tiếp để truyền và nhận dữ
liệu 1 bit tại một thời điểm, cho đến khi một khối dữ liệu hoặc 1 lệnh được truyền đi hết. Bàn
phím và mạch điều khiển là loại đẳng thời nghĩa là dữ liệu và xung đồng hồ truyền, được đồng
bộ hóa trên đường xung nối tiếp và trên các cạnh của tín hiệu đồng hồ. (Thiết bị điều hợp thiết

tất cả 4 kênh IDE đều có khả năng làm chủ tuyến (Bus mastering) và có thể thiết lập nhiều tùy
chọn khởi động thay vì A: C: hoặc C: A:. Cùng với việc hỗ trợ IDE, các bo mạch chủ thế hệ mới
còn bao gồm hai cổng giao tiếp nối tiếp hỗ trợ giao tiếp truyền không đồng bộ tiêu chuẩn qua
cổng giao tiếp RS 232C. Qua nhiều năm, cổng giao tiếp nối tiếp của PC được nâng cấp bằng
một loạt các thiết bị UART. Thiết bị NS16550 mới nhất cung cấp bộ đệm FIFO 16 Byte cho việc
nhận và truyền dữ liệu và nó giới hạn nhu cầu của máy tính để phục vụ cho mỗi quá trình giao
dịch dữ liệu bằng cách phục vụ (các ngắt) theo khối. Thiết bị hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu tối đa
là 115 Kb/s. Gần như mỗi PC thế hệ mới được tích hợp sẵn các bộ điều hợp và các cổng song
song. Các cổng này được biết đến dưới những cái tên như Parallel, LPT, PRN, IEEE 1284 và
cổng máy in song song... Máy PC nguyên thủy hỗ trợ 1 cổng máy in 8 bit có tốc độ truyền tải là
150 Kb/s. Sau khi giao tiếp được cải tiến, nó được cho phép truyền dữ liệu trực tiếp 8 bit và cho
phép kết nối với các thiết bị không phải máy in. Bên cạnh đó, cổng song song cũng được cải
thiện hơn nữa với các chế độ truyền tải tốc độ cao cộng thêm và tăng cường thêm giao thức
ghép nối cũng như hỗ trợ các vòng lệnh, vòng dữ liệu và đánh địa chỉ cho nhiều thiết bị luận lý.
Một thiết bị khác cũng được tích hợp trên bo mạch chủ là cổng hồng ngoại (Infrared Port).
Tuy nhiên, thiết bị này thường chỉ được tích hợp sẵn trên các máy tính xách tay. Và khi hoạt
động, nó sẽ chiếm tài nguyên của một cổng COM.
Bộ đệm nhỏ nằm ngay trên BXL được gọi là bộ đệm L1 và bộ đệm lớn hơn ở bên ngoài gọi là
bộ đệm L2. Bộ đệm L1 nhận dữ liệu từ bộ đệm L2, còn bộ đệm L2 thì nhận dữ liệu từ bộ nhớ hệ
thống (DRAM). Bộ đệm L2 thông thường có kích thước là 256 Kb. Việc gia tăng kích thước bộ
đệm sẽ giảm hiệu quả khi kích thước vượt quá 1 MB.
Đầu kết nối nguồn ATX trên bo mạch chủ cung cấp kết nối dạng socket cho đầu nối 20-chân
từ bộ nguồn ATX và hỗ trợ chuẩn ACPI. Có nhiều kiểu kết nối và chức năng mới sẽ làm việc với
bộ nguồn ATX như Software Power-Off, Modem Ring Power-On và Alarm Wake Up.
Cuối cùng là các mạch giám sát phần cứng được tích hợp sẵn trên hầu hết các bo mạch chủ
thế hệ mới. Các mạch giám sát này sẽ theo dõi nhiệt độ, điện áp và tốc độ quạt của hệ thống.
Thông qua các tiện ích quản lý, bạn sẽ kiểm tra được tình trạng cũng như nhận được các cảnh
báo khi có sự cố xảy ra nhờ sự hoạt động của các mạch giám sát này.

Trích đoạn RAM làm việc như thế nào? Thế nào là các mô-đun nhớ?
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status