Tài liệu Tiểu luận đề tài "Mối quan hệ tác động qua lại giữa môi trường du lịch và hoạt động du lịch" doc - Pdf 10

z
LUẬN VĂN
TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN DU LỊCH

PHẦN MỞ ĐẦU
Những thập kỷ gần đây, du lịch và ngành du lịch trở thành xu hướng chung
của toàn cầu, chiếm vị trí chiến lược trong nền kinh tế quốc gia nhiều nước
trên thế giới.
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch trên thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Lữ
hành quốc tế (WTTC)năm 2000 thu nhập ngành du lịch chiếm tới 10,7%
GDP của toàn thế giới. ở Việt Nam năm 2007 thu nhập ngành du lịch lên
đến 11%. Ước tính lượng du khách quốc tế năm 2010 là 1100 triệu lượt,
năm 2020 đạt khoảng 1600 lượt triệu du khách.
Đối với các quốc gia đang phát triển thì du lịch quốc tế có ý nghĩa hết sức
quan trọng. UNWTO thống kê có tới 83% các quốc gia xếp du lịch là một
trong năm ngành xuất khẩu lớn, và cứ ba nước thì có một nước coi du lịch là
nguồn thu nhập ngoại tệ quan trọng. Cùng với sự phát triển của du lịch thế
giới, ngành Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển và đóng vai trò quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Dự báo năm
2010 nước ta sẽ đón 5,5 - 6 triệu lượt du khách quốc tế và 25 -26 triệu lượt
du khách nội địa, thu nhập từ du lịch đạt từ 4 - 4.5 tỷ USD.
Việc phát triển du lịch nhanh chóng như vậy cũng nhờ vào những thế mạnh
về nguồn tài nguyên du lịch cũng như những điều kiện thuận lợi mà môi
trường du lịch của mỗi quốc gia tạo nên. Do đó mà môi trường du lịch có
một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển ngành du lịch quốc
tế cũng như du lịch nội địa. Bên cạnh những hiệu quả to lớn đã đạt được,
ngành du lịch trên thế giới và nước ta cũng có tác động mạnh mẽ đến môi
trường du lịch kể cả môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn và môi
trường kinh tế - xã hội. Vì vậy cần nghiên cứu tìm hiểu những tác động cụ
thể của du lịch đến môi trường để có biện pháp, phương hướng phát triển
thích hợp với hòan cảnh đất nước. Đồng thời có những biện pháp thích hợp

Bất cứ hoạt động nào của du lịch cũng có tác động hai chiều đến môi trường
của nó. Cho nên trong hoạt động du lịch cần có những quy hoạch hợp lý,
chính sách và dự án tối ưu nhất nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường.
II.Cơ cấu môi trường du lịch
Môi trường du lịch bao gồm 3 thành phần chính:
Môi trường du lịch tự nhiên
Môi trường du lịch nhân văn
Môi trường kinh tế xã hội
1.Môi trường du lịch tự nhiên
Là một bộ phận cấu thành nên môi trường du lịch nói chung, bao gồm tập
hợp các đối tượng tự nhiên sống (hữu cơ ) và không sống ( vô cơ ). Trong đó
có những đối tượng tự nhiên chưa bị con người con người tác động và cả
những đối tượng tự nhiên đã bị con người tác động, cải tạo ở những mức độ
khác nhau, song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự
phục hồi và phát triển. Môi trường du lịch tự nhiên là toàn bộ không gian,
lãnh thổ bao gồm các nhân tố thiên nhiên như : đất, nước, không khí, hệ
động vật trên cạn và dưới nước… và các công trình kiến trúc cảnh quan
thiên nhiên – nơi tiến hành các hoạt động du lịch.
Môi trường du lịch tự nhiên được cấu thành một loạt các môi trường tự
nhiên bộ phận trong một hệ thống chung. Các môi trường bộ phận này tồn
tại và phát triển theo các quy luật của mình song có liên quan tác động mật
thiết với nhau bằng vô số các quan hệ nhiều chiều trong tương quan nhân
quả và giải quyết các mâu thuẫn về phát triển. Tuy nhiên vẫn đảm bảo bảo
sự thống nhất nội tại giữa các môi trường bộ phận trong một môi trường
chung.
Môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển và đa dạng hóa
các hoạt động du lịch, tạo tiền đề cho sự phát triển các khu du lịch. Ví dụ
như các khu du lịch nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hạ Long, Sa Pa,
Đà Lạt … là những điểm du lịch dựa trên cơ sở môi trường tự nhiên với
những cảnh quan thiên nhiên đặc sắc. Bởi vì các thành phần cơ bản của môi

Đây là một trong những nhân tố quan trọng kiểm soát về mặt môi trường tự
nhiên, ảnh hưởng đến đất đai,động thực vật và các quá trình hoạt động địa
mạo. Thông thường thì những nơi có khí hậu và thời tiết đặc trưng,dễ chịu
thì sẽ có sức lôi cuốn du khách ở những nơi khác hơn là những nơi có thời
tiết khắc nghiệt. Nói chung thì mỗi loại hình du lịch khác nhau thường đòi
hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Ví dụ như khách du lịch biển sẽ ưu
thích nhưng điều kiện khí hậu như: số giờ nắng trong ngày nhiều; không có
mưa hoặc mưa ít trong thời vụ du lịch; nhiệt độ của không khí trung bình;
nhiệt độ nước biển từ 20 C đến 25 C. Không chỉ vậy, mà tổ hợp của sự thay
đổi theo mùa rõ rệt của các đới nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển và
các hoạt động của ngành du lịch. Sự thay dổi này sẽ quyết định tính đa dạng
của các loại hình vui chơi giải trí của khu du lịch. Trong việc đáp ứng các
nhu cầu và thỏa mãn của du khách thì khu du lịch có càng nhiều khả năng
cung cấp các dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng thì càng thu hút được nhiều du
khách hơn. Ngoài ra điều kiện thời tiết và khí hậu còn ảnh hưởng đến việc
thực hiện các chuyến du lịch hoặc các hoạt động về du lịch. Những hiện
tượng thời tiết khắc nghiệt như bão, lũ lụt, khô hạn cũng gây ảnh hưởng xấu
đến hoạt động du lịch.
Một nhân tố cũng không kém phần quan trọng trong du lịch là chất lượng
không khí của khu du lịch. Môi trường không khí ảnh hưởng đến việc quy
hoạch các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch.
Những biến động của môi trường không khí như sự biến động về chế độ
nhiệt,mưa, ẩm,gió… gây ra nhiều biến động đến đời sống sản xuất của cả
nhân loại trong đó có cả hoạt động du lịch.
1.4.Môi trường nước:
Môi trường nước bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt, nước ngầm. Trong
đó nguồn nước mặt có vai trò vô cùng quan trọng vì nó liên quan trực tiếp
đến việc phát triển giao thông vận chuyển của du khách bằng đường
thủy,khả năng cung cấp nước và chất lượng nước ( nước ngọt, nước biển,
nước khoáng…) phục vụ cho nhu cầu , sinh hoạt, vui chơi , giải trí và tắm

thoái môi trường nghiêm trọng. ví dụ như :hạn hán, bão lụt, động đất…và
các sự cố môi trường do con người gây ra như: rò rỉ hóa chất độc hại, cháy
nổ, sử dụng bom nguyên tử….bất kỳ loại tai biến nào cũng có thể gây ra
thiệt hại nghiêm trọng cho du lịch nếu chúng làm thay đổi các điều kiên tự
nhiên, xã hội và làm xáo trộn các hoạt động du lịch. Ngoài ra, các tai biến
môi trường xã hội, bắt nguồn từ các xung đột trong xã hội như xung đột tôn
giáo, xung đột giữa các sắc tộc, giữa các quốc gia. Tai biến môi trường sẽ
làm giảm chất lượng môi trường du lịch, ảnh hưởng đến tính mạng du
khách, tác động xấu đến tâm lý du khách, làm cho họ cảm thấy bất an khi
lưu lại điểm du lịch đó. Vì vậy, cùng với những biện pháp và nỗ lực chung
để hạn chế các tai biến môi trường như sự sẵng sàng trong tình trạng đối phó
với thiên tai, cũng cần có những nghiên cứu đánh giá và quan trắc mang tính
khoa học cao nhằm thành lập các bản đồ, sơ đồ phân vùng tai biến các nguy
cơ, sự cố nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả trong các hoat động phát triển
du lịch. Ngoài ra còn cần phải xây dựng các hệ thống cảnh báo, dự báo sớm
các chỉ thị về tai biến để làm cho du khách thực sự an tâm. Hơn nữa, phải
luôn coi trọng các vấn đề liên quan đến an ninh và an toàn cho du khách
cũng như cho toàn xã hội.
2.Môi trường du lịch nhân văn
Môi trường du lịch nhân văn là một bộ phận của môi trường du lịch liên
quan trực tiếp đến con người và cộng đồng, bao gồm các yếu tố về dân cư,
dân tộc. Gắn liền với các yếu tố dân cư, dân tộc là truyền thống, quan hệ
cộng đồng, các yếu tố về lịch sử, văn hóa… Khi chúng ta đứng trên quan
điểm môi trường thì đó là những yếu tố tích cực của môi trường du lịch bởi
vì đây không chỉ là đối tượng của du lịch mà còn là yếu tố tạo sự hấp dẫn
của môi trường du lịch bởi tính đa dạng của những giá trị nhân văn truyền
thống của các cộng đồng dân tộc khác nhau. Bên cạnh đó, sự phát triển các
yếu tố văn hóa, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nhân văn ( di tích lịch
sử, di sản thế giới, lễ hội, ẩm thực, văn hóa dân tộc )ở các điểm du lịch
cũng chính là những phương diện hữu hiệu nhằm nâng cao các giá trị nhân

Chính những yếu tố pháp luật, thể chế chính sách thích hợp sẽ tạo nên hành
lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển du lịch, đồng thời hướng sự phát
triển du lịch phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung của đất
nước, phù hợp với những đặc điểm và điều kiện cụ thể của từng giai đoạn
phát triển của đất nước. chính những chiến lược và chính sách phù hợp còn
tạo điều kiện cho du lịch phát triển, thậm chí trong điều kiện khó khăn nhất.
3.2.Trình độ phát triển khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ là yếu tố xuất hiện trễ nhưng có mức độ ảnh hưởng
ngày càng tăng đối với các sản phẩm và dịch vụ du lịch. Đây là yếu tố quan
trọng góp phần tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch như tạo điều
kiện phát triển sản phẩm du lịch hiện đại và hấp dẫn, ứng dụng vào kinh
doanh du lịch, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên phục vụ tốt cho du lịch
và hạn chế tác động tiêu cực tới môi trường xã hội cũng như môi trường nói
chung. Đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước cũng như nghiên cứu cơ bản
về du lịch để có hướng phát triển phù hợp hơn
3.3.Mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật:
Mặc dù được xây dựng chủ yếu để phục vụ cho dân cư địa phương nhưng
yếu tố này lại một chiếm vị trí rất quan trọng trong việc phát triển của môi
trường kinh tế xã hội cũng như môi trường du lịch. Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ
thuật bao gồm toàn bộ các phương tiện , cơ sở phục vụ lưu trú, vận chuyển,
thông tin, thương mại…sẽ tạo điều kiện tiếp cận khai thác tài nguyên du
lịch, phục vụ nhu cầu đi lại, tham quan du lịch, giao lưu, trao đổi thông tin…
cũng như những nhu cầu thiết yếu của du khách. Ngoài ra chúng ta cũng cần
phải quan tâm đến sự đa dạng của các cơ sở và hoạt động du lịch cũng như
các vấn đề liên quan như tổ chức quản lý, quy hoạch, nét thẩm mỹ trong các
cơ sở và hoạt động du lịch cũng cần phát huy tối đa nhằm tôn tạo các giá trị,
vẻ đẹp của các khu di tích, điểm du lịch, các di sản văn hóa truyền thống và
các danh lam thắng cảnh của đất nước.
3.4.Môi trường đô thị và công nghiệp:
Đô thị là nơi tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, đặc biệt là các tài

giá trị văn hoá, nhân văn. Trong nhiều trường hợp, hoạt động du lịch tạo nên
những môi trường nhân tạo như công viên vui chơi giải trí, nhà bảo tàng,
làng văn hoá…trên cơ sở của một hay tập hợp các đặc tính của môi trường
tự nhiên như một hang động, một quả đồi, một khúc sông, một khu rừng…
hay một đền thờ, một quần thể di tích.
Việc thu hút du khách, tạo nên công ăn việc làm cho người dân, kích thích
sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống, cải thiện đời sống
cộng đồng người dân địa phương…là hệ quả tích cực của tác động du lịch
đến môi trường. trong quá trình phát triển, mối quan hệ nhân quả giữa môi
trường và hoạt động du lịch rất chặt chẽ, vì vậy sự suy giảm chất lượng của
môi trường sẽ dẫn đến sự giảm sút sức hút của hoạt động du lịch.
1.Tác động tích cực:
1.1.Tác động đến môi trường du lịch tự nhiên
Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo vệ
tối ưu các nguồn tài nguyên và môi trường du lịch góp phần tích cực vào
việc bảo tồn các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn
hóa – lịch sử - môi trường, tu bổ, bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử, kiến trúc
mỹ thuật. Ở Việt Nam hiện nay đã xác định và đưa vào bảo vệ cấp độ quốc
gia 105 khu rừng đặc dụng ( trong đó có 16 vườn quốc gia, 55 khu bảo tồn
tự nhiên và 34 khu rừng – văn hóa – lịch sử - môi trường.
Tăng thêm mức độ đa dạng sinh học tại những điểm du lịch nhờ những dự
án có các công viên cảnh quan, khu nuôi chim thú hoặc bảo tồn đa dạng sinh
học thông qua nuôi trồng nhân tạo phục vụ du lịch.
Bổ sung vẻ đẹp cảnh quan cho khu vực phát triển du lịch nhờ các dự án
thường có yêu cầu tạo thêm các vườn cây, công viên cảnh quan, hồ nước,
thác nước nhân tạo.
Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại
các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện
môi trường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng
phương tiện vệ sinh công cộng, đường sá thông tin, năng lượng, nhà cửa xử

thể làm tăng sự hiểu biết của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất
nước, con người, lịch sử văn hóa xã hội của quốc gia, nhờ vậy tinh thần yêu
tổ quốc, yêu quê hương được tăng lên và có tình thần trách nhiệm xây dựng
đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường. Du
lịch làm tăng nhận thức của địa phương về giá trị kinh tế của các khu vực tự
nhiên và văn hóa, qua đó có thể khơi dậy niềm tự hào đối với những di sản
của quốc gia và địa phương cũng như quan tâm đến việc giữ gìn chúng.
Phát triển du lịch có lợi cho việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân gian.
Ngoài việc cung cấp các hoạt động tham quan di tích văn vật du ngoạn
phong cảnh thiên nhiên, du lịch còn có tác dụng bảo vệ văn hóa, làm đẹp
môi trường và thúc đẩy sự phát triển của văn hóa dân tộc
Phát triển, giao lưu văn hóa: khách biết thêm về văn hóa của nước chủ nhà,
biết âm nhạc, nghệ thuật, các món ăn truyền thống và ngôn ngữ của nước đó.
Tạo hình ảnh mới, người nước ngoài được biết thêm về cộng đồng người
dân nước họ du lịch.
Du lịch có thể đẩy mạnh việc bảo tồn và giao lưu các truyền thống văn hóa
lịch sử, góp phần bảo tồn và quản lí bền vững các tài nguyên, bảo vệ các di
sản ở địa phương, phục hưng các nền văn hóa bản xứ, các nghề thủ công mĩ
nghệ.
Du lịch còn tạo ra khả năng hỗ trợ đắc lực cho việc bảo tồn các di tích lịch
sử, khảo cổ đang có nguy cơ bị tàn lụi, đặc biệt là các di tích ở những nước
nghèo không có đủ tiềm lực để trùng tu hay bảo vệ như:Các di sản kiến trúc
nghệ thuật, văn hóa, đồ thủ công, lễ hội, trang phục, lối sống truyền thống.
Đóng góp kinh phí trực tiếp hay gián tiếp cho việc phát triển các bảo tàng,
các hoạt động văn hóa truyền thống, kể cả văn hóa ẩm thực.
Ví dụ như hoạt động của Travel Walji’s thông qua viện trợ phát triển du lịch
đối với vùng núi xa xôi ở Kakakorum Nam Phi. Nguồn viện trợ này giúp hồi
sinh các làn điệu âm nhạc ở địa phương và các hoạt động múa kiếm truyền
thống.
Du lịch tạo ra việc làm ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định xã hội như:Không

đôi vào năm 2010.
Du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành ngoại thương. Xuất khẩu
bằng con đường du lịch đa số được gọi là xuất khẩu tại chỗ như các mặt
hàng ăn uống, rau quả, hàng lưu niệm. Việc xuất khẩu bằng du lịch quốc tế
có lợi lớn về nhiều mặt.
Tạo được doanh thu và lợi nhuận lớn hơn nhiều nếu cùng những hàng hóa
đó đem xuất khẩu theo đường ngoại thương. Hàng hóa du lịch được xuất với
giá bán lẻ có giá cao hơn giá xuất theo con đường ngoại thương là giá bán
buôn. Tiết kiệm được chi phí đóng gói, bảo quản và chi phí vận chuyển quốc
tế.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiền cho nước
chủ nhà. Sự phát triển du lịch quốc tế còn có những ý nghĩa quan trọng trong
việc củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng như là kết hợp
đồng trao đổi khách giữa các nước tổ chức, các hãng du lịch, tham gia vào
các tổ chức quốc tế về du lịch.
Du lịch tạo cơ hội giải pháp việc làm.
Với sự phát triển nhanh chóng và do đặc thù là dịch vụ nên ngành du lịch có
hệ số sử dụng lao động rất cao. Theo thống kê của Singapore, để tạo ra
1triệu USD ngành ngoại thương thuê 14 lao động, trong khi đó du lịch cần
27 đến 33 lao động. Sự phát triển nhanh chóng của du lịch quốc tế tạo ra
nhiều việc làm. Ví dụ như chỉ riêng ngành khách sạn đã tạo ra 11, 3triệu việc
làm trên thế giới năm 1995. Theo WTO, lao động trong ngành du lịch chiếm
khoảng 7% lực lượng lao động trên thế giới. Cuộc điều tra năm 1985 của
ESCAP về kế hoạch quản lì môi trường duyên hải phía Tây của Srilanca cho
thấy năm 1982 ngành du lịch đã đảm bảo việc làm trực tiếp cho khoảng 30
nghìn người và việc làm gián tiếp cho 35 nghìn người. ngoài ra còn làm lợi
cho hơn 30 nghìn người nữa vì họ được tăng thu nhập do hiệu ứng chảy tràn.
Năm 1997 ngành du lịch trên thế giới có 252 triệu lao động ( chiếm 10, 7%
lao động của thế giới)
Du lịch thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ, tăng cường vị trí và

gom rác thải để cải thiện hất lượng cuộc sống cho cư dân cũng như du
khách.
Phát triển du lịch có lợi cho việc cải thiện môi trường đầu tư, xúc tiến, mở
cửa với bên ngoài. Trên thực tế, để tạo môi trường đầu tư tốt, thu hút du
khách đến thăm, những nơi ngành du lịch phát triển, đều coi trọng cải tiến,
xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất- kĩ thuật du lịch. Ngoài ra, để có thể
bảo đảm phát triển liên tục ngành du lịch, thu hút đầu tư bên ngoài, cần coi
trọng công tác bảo vệ môi trường, coi trọng lễ phép văn minh, giáo dục đạo
đức, nghề nghiệp của dân cư, coi trọng xây dựng pháp chế để tạo môi trường
đầu tư tốt. Cải thiện về mặt xã hội, các dịch vụ và công trình công cộng, từ
đó nảy sinh thêm nhiều hoạt động xã hội bổ ích. Dịch vụ y tế và các tiêu
chuẩn.
Phát triển du lịch có lợi cho việc giao lưu và phát triển khoa học kĩ thuật. du
lịch là hình thức quan trọng của việc truyền bá kĩ thuật và giao lưu nghiên
cứu khoa học. Hoạt động thăm viếng nhau của đồng nghiệp trong du lịch
thương mại hiện đại, du lịch hội nghị chuyên ngành, du lịch du học tạo điều
kiện cho phát triển khoa học – kĩ thuật du lịch.
Cải thiện y tế: Dịch vụ y tế và các tiêu chuẩn vệ sinh được nâng cao. Xử lí
rác và nước thải được cải thiện, dịch vụ môi trường được nâng cấp.
Cải thiện về mặt xã hội: Cải thiện các dịch vụ và công trình công cộng, từ đó
nảy sinh thêm nhiều hoạt động bổ ích
Giáo dục và bảo tồn thiên nhiên: Giáo dục và kiến thức được nâng lên. Cơ
hội đào tạo được mở rộng, khuyến khích việc quản lí và bảo vệ các di sản và
môi trường thiên nhiên.
2.Tác động tiêu cực:
2.1.Đến môi trường tự nhiên:
• Tài nguyên nước xây dựng, đất đá và các chất nạo vét, đặc biệt là những
nơi chặt phá rừng ngập mặn để xây bến cảng, làm cho chất lượng nước giảm
đi rất nhiều, nước bị đục, quá trình trầm lắng tăng. Sinh vật đáy bị huỷ
diệt,chất bẩn do nạo vét tạo nên. Biển và đất bị nhiễm độc bởi chất thải.

khách tại các điểm du lịch tạo nên những hậu quả trước mắt cũng như lâu
dài
Hậu quả trước mắt
Ô nhiễm môi trường có thể xảy ra khi thi công các công trình du lịch và do
sự hoạt động tập trung của các phương tiện giao thông.
Ô nhiễm không khí do khí thải từ các loại máy xây dựng.
Ô nhiễm không khí do phương tiện giao thông phục vụ xây dựng, du lịch.
Tăng tiếng ồn do máy thiết bị xây dựng ( như máy đóng cọc), các phương
tiện giao thông phục vụ xây dựng, hoạt động của các nhà hàng karaoke, các
quán bar dịch vụ ăn uống, đặc biệt trong trường hợp khi các cơ sở dịch vụ
này kề sát nhau.
Hoạt động dịch vụ ăn uống thường diễn ra vào cùng một thời điểm dẫn đến
việc gia tăng bụi khói, làm nóng bầu không khí hơn.
Hậu quả lâu dài
Ô nhiễm không khí do tăng số lượng xe cộ và các phương tiện giải trí.
Ô nhiễm không khí do quá trình đốt ( củi, than, dầu, ga) để đáp ứng nhu cầu
về năng lượng của các cơ sở, dịch vụ du lịch.
• Tài nguyên đất
Du lịch kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng, khách sạn và công trình dịch
vụ du lịch. Điều này tất yếu dẫn đến việc xâm lấn những diện tích đất trước
đây là những cảnh quan thiên nhiên, những khu đất trồng trọt và chăn nuôi.
Hoạt động phát triển các khu du lịch thường dẫn đến việc giảm quỹ đất canh
tác nông nghiệp.
• Tài nguyên sinh vật
Ô nhiễm môi trường sống cùng với việc mất đi những cảnh quan thiên
nhiên, những khu đất chăn nuôi là những nhân tố làm cho một số loài thực
vật và động vật dần dần bị mất nơi cư trú.
Một số hoạt động thái quá của du khách như chặt cây bẻ cành, săn bắn chim
thú tại những khu rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số
lượng lẫn chất lượng sinh vật trong phạm vi khu du lịch.

Hoạt động du lịch gây ra nhiều thay đổi về đạo đức xã hội và mức độ tội
phạm.ở việt nam, các tệ nạn cướp giật, ăn xin ở các trung tâm, điểm du lịch
thường cao hơn so với những nơi khác, các hoạt động mại dâm có xu hướng
gia tăng.
• Văn hóa
Nền văn hoá truyền thống của nước chủ nhà có thể bị huỷ hoại hoặc giảm
giá trị.
Văn hoá xuống cấp cả về qui mô lẫn tốc độ.
Làm tổn hại đến các hệ thống văn hóa, gây ra những thay đổi về tập quán
tình dục.
Dân địa phương tiếp thu một cách không chọn lọc những tác phong, giá trị
đúng mực của khách nước ngoài. Làm cho nền văn hoá truyền thống địa
phương thích nghi với nhu cầu, đáp ứng lòng mong đợi của du khách.
• Tính truyền thống:
Tạo nên tình trạng quá tải về dân số, mất vệ sinh tệ hơn là sự mất lễ nghi
trong các lễ hội.
Mất đi tình trạng ổn định ban đầu, mất đi lòng tự hào về văn hoá của chính
mình.
Sự gắn bócộng đồng bị thay đổi, sự ràng buộc về họ hàng và cộng đồng bị
rạn nứt.
Sự thay đổi địa vị giữa chủ và khách.
Tăng cường xung đột giữa cái mới và cái cũ bảo thủ. Xã hội trở nên phức
tạp hơn.
2.3. Môi trường kinh tế xã hội
Làm thay đổi khuynh hướng tiêu dùng:
Thay đổi cách tiêu dùng, hưởng thụ, cờ bạc, mại dâm, ma tuý, trộm cướp và
tội phạm phổ biến.
Thương mại hoá hoạt động văn hoá truyền thống và xã hội. tăng thêm xung
đột xã hội, tăng mâu thuẫn đối kháng giữa các nhóm có lợi ích khác nhau.
Cần nhiều cảnh sát hơn, nhiều biện pháp kiểm soát hơn.

song cũng có thể là tiêu cực đến tài nguyên và môi trường, nhất là trong các
trường hợp không có tour chức , quy hoạch hợp lý , sử dụng và bảo vệ cũng
như khôi phục tài nguyên và môi trường xác đáng.
Để việc lập kế hoạch , thực hiện các dự án, các chính sách phát triển du lịch
và bảo tồn tài nguyên và môi trường hiệu quả thì việc nghiên cứu , đánh giá
các tác động của du lịch lên tài nguyên và môi trường phải tiến hành song
song cùng lúc với quy hoạch du lịch.
I.Những tác động tích cực:
1.1.Chính sách bảo tồn các giá trị của tài nguyên tự nhiên:
Các giá trị của tài nguyên tự nhiên bao gồm :các khu vườn quốc gia, các khu
bảo tồn thiên nhiên,các khu rừng lịch sử- văn hóa – môi trường,sự đa dạng
sinh thái, đa dạng sinh học, và các yếu tố tự nhiên.
• Chính sách bảo tồn giá trị của các khu vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên, sự đa dạng sinh thái và đa dạng sinh học:
Tiến hành nghiên cứu thống kê, xếp hạng công nhận, các vườn quốc gia, các
khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển.
Ví dụ : Đã tiến hành nghiên cứu công nhận các khu vườn quốc gia sau :
Vùng Tên vườn Năm thành lập Diện tích
(ha)
Địa điểm
Trungdu
và miền núi
phía Bắc
Hoàng Liên Sơn
Lào Cai
Ba Bể
1992 7.610 Bắc Kạn
Bái Tử Long
22001 15.783 Quảng Ninh
Xuân Sơn

1991 115.545 Đăk Lăk
Chư Yang Sin
2002 58.947 Đăk Lăk
Bidoup Núi Bà
64.800 Lâm Đồng
Đông Nam Bộ
Cát Tiên
1992 73.878 Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước
Bù Gia Mập
2002 26.032 Bình Phước
Côn Đảo
1993 15.043 Bà Rịa-Vũng Tàu
Lò Gò Xa Mát
2002 18.765 Tây Ninh
Tây Nam Bộ
Tràm Chim
1994 7.588 Đồng Tháp
U Minh Thượng
2002 8.053 Kiên Giang
Mũi Cà Mau
2003 41.862 Cà Mau
U Minh Hạ
2006 8.286 Cà Mau
Phước Bình
2006 19.814 Ninh Thuận
Núi Chúa
2003 29.865 Ninh Thuận
Phú Quốc
2001 31.422 Kiên Giang
• Đã xác định vi trí, diện tích và ranh giới của các khu, vườn để dễ dàng có

dụng. Thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ theo chế độ đặc
biệt phù hợp với từng loài; phát triển các trung tâm cứu hộ động vật hoang
dã. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuốc Chính phủ và UBND cấp tỉnh có liên quan thực hiện bảo
vệ đa dạng sinh học theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học.
• Xuất bản các loại sách giới thiệu đánh giá tầm quan trọng của tài nguyên
sinh vật để tuyên truyền, giáo dục cộng đồng tham gia bảo vệ sinh vật
Ví dụ : Giáo trình Bảo vệ thực vật, phần lí thuyết có 7 chương gồm các kiến
thức cơ bản Cuốn sách được biên soạn làm tài liệu giảng dạy cho sinh
viên khoa Sinh
• Đầu tư khôi phục và bảo tồn nhờ vào hỗ trợ của các công ty, tổ chức trong
và ngoài nước. . .
Ví dụ: Hơn 5 tỷ đồng bảo vệ VQG Bidoup núi bà
Dự án do Quỹ bảo vệ sinh vật hoang dã thế giới (WWF)-Chương trình Việt
Nam, Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED), Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Lâm Đồng và Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà phối hợp
thực hiện nhằm xây dựng một khung toàn diện về giao đất, quản lý tài
nguyên thiên nhiên cho người dân bản địa sống ở vùng đệm vườn quốc gia
này.
Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có tổng diện tích gần 73.000 ha, nằm trên độ
cao 1.400 m thuộc địa bàn huyện Lạc Dương, Lâm Đồng. Được thành lập từ
năm 2004, Bidoup Núi Bà là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật
hoang dã quý hiếm, trong đó có các loài như vượn má hung, bò tót, nhiều
loài chim đặc hữu, những loài cây họ thông quý còn sót lại.
Theo WWF, Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà nằm trong vùng sinh thái
Trường Sơn và nhận được sự ưu tiên bảo tồn cao nhất ở Việt Nam. Tuy
nhiên, việc lấn chiếm đất rừng trái phép để trồng cà phê, tập quán săn bắt thú
rừng của người dân bản địa, đang là những mối đe dọa làm tổn hại tính đa
dạng sinh học đặc hữu của Vườn quốc gia này.
Nguồn: INFOTERRA VN (XL theo TTXVN, 16/01/2008)

khu rừng.
• Quá trình bảo vệ, tôn tạo các di tíchlịch sử văn hóa vô thể phải tôn trọng
tính lịch sử, giá trị truyền thống, tiến hành trưng bày các hiện vật giả nếu có
thể nhằm cất giữ hiện vật thật tránh bị hư tổn, xuống cấp.
• Việc trùng tu các công trình lịch sử văn hóa của rừng phải tiến hành sớm
và kịp thời tránh để quá muộn khó trùng tu và tốn kém.
• Thu hút cộng đồng vào bảo vệ các khu rừng lịch sử- văn hóa- môi trường
thông qua các cuộc tham quan, cuộc thi nhằm giáo dục và giới thiệu về giá
trị của các khu rừng này. . .
• Xây dựng các quy định giám sát quản lý, khen thưởng và xử phạt các hành
vi xâm hại đến giá trị khu rừng. Cấm xả rác và gây ô nhiễm khu vực.
Ví dụ: Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở
thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm thành phố Hồ Chí
Minh. Du khách, đặc biệt là cựu chiến binh, thường chọn điểm thăm quan
này khi đến thăm thành phố Hồ Chí Minh. Du khách được trải nghiệm cuộc
sống dưới địa đạo như những cư dân thực thụ trước đây (được thăm quan, ăn
uống những món ăn của cư dân địa đạo trước đây).
Khu địa đạo Củ Chi (thuộc xã Phú Mỹ Hưng - huyện Củ Chi) đã được Bộ
Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử
quốc gia (theo quyết định số 54/VHQĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979 của Bộ
trưởng Bộ Văn hóa). Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức - căn
cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được xếp hạng di
tích lịch sử quốc gia (theo quyết định số 101/2004/QĐ-BVHTT ngày 15
tháng 12 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin).
1.3.Chính sách bảo tồn các yếu tố tự nhiên:
Các yếu tố tự nhiên đóng vai trò vô cung quan trọng cấu thành môi trường
du lịch, bao gồm tài nguyên địa hình,địa chất và đất đai; tài nguyên nước; tài
nguyên không khí.
• Về tài nguyên địa hình, địa chất và đất đai khai thác , sử dụng theo hướng
bền vững nhằm tránh phá vỡ cấu trúc chung của tổng thể. Quy hoạch đất đai

tích lịch sử ngục Sơn La. Đây là đợt học tập, sinh hoạt chính trị lớn đối với
các chi bộ, tổ chức đoàn thể và đảng viên đang công tác và sinh hoạt tại
phường Tô Hiệu.
(Hình bên trái : đoàn thể và đảng viên phường Tô Hiệu, hình bên phải :một
góc của Nhà ngục Sơn La).
2.2 Chính sách bảo tồn các làng nghề truyền thống :
• Hỗ trợ kinh phí khôi phục các làng nghề truyền thống.
• Tổ chức nghiên cứu khảo sát, thống kê, ra quyết định xếp hạng và công
nhận nghệ nhân của làng nghề. Kế hoạch tuyên truyền, quảng bá hình ảnh
của làng nghề , xác định giá trị của làng nghề.
• Đầu tư, quy hoạch các làng nghề nhằm xác định phạm vi, lãnh thổ của làng
nghề để có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, tận dụng tài nguyên ,và bảo vệ tài
nguyên, chống ô nhiễm môi trường.
• Quy hoạch các khu tham quan, ki-ốt quảng cáo sản phẩm và bán hang lưu
niệm.
• Đầu tư giáo dục, tổ chức dạy nghề trong làng nghề truyền thống để bảo lưu
kỹ thuật cũng như hình ảnh về làng nghề.
Ví dụ: các hình ảnh về làng nghề truyền thống.

Trích đoạn Giải pháp về qui tắc và luật du lịch Hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường du lịch:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status