Tài liệu Kinh tế vi mô - Chương 10: Giá và Sản Lượng trong Thị Trường Cạnh Tranh doc - Pdf 10

Chương 10: Giá và Sản Lượng trong
Thị Trường Cạnh Tranh
John Kane

Trong tuần này, chúng ta sẽ xem xem giá và sản lượng được quyết định như thế
nào trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo
được đặc trưng bởi:
* có nhiều người bán và người mua
* các sản phẩm đồng nhất
* không có rào cản với việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường
* người bán và người mua có thông tin hoàn hảo.
Trong thực tế có quá nhiều người bán và người mua với một sản phẩm trong một
thị trường cạnh tranh hoàn hảo trong đó mỗi người bán và mỗi người mua là một
người nhận giá.
Đường cầu mà mỗi công ty có đuợc với sản phẩm của mình

Tối đa hoá lợi nhuận
Như đã thảo luận trong tuần trước, một công ty tối đa hoá lợi nhuận của mình
bằng việc sản xuất tại mức sản lượng mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí
cận biên. (Nếu bạn chưa hiểu rõ khái niệm doanh thu cận biên và chi phí cận biên,
việc xem lại tài liệu tuần trước sẽ rất hữu ích cho bạn). Như được lưu ý trong công
thức tính trong Chuơng 9, doanh thu cận biên được xác định là:
Doanh thu cận biên =
Theo cách tính tương tự, chi phí cận biên được xác định bằng:
Chi phí cận biên =

Như được lưu ý trong tuần trước, doanh thu cận biên bằng giá thị trường với một
công ty đứng trước một đường cầu co giãn hoàn hảo. Biểu đồ dưới đây minh hoạ
cho mối quan hệ này:

Đường chi phí cận biên và đường tổng chi phí trung bình được thêm vào biểu đồ

đóng cửa, doanh thu của nó bằng 0 và chi phí của nó bằng chi phí cố định. (Hãy
nhớ là chi phí cố định vẫn phải được trả cho dù nếu công ty có đóng cửa đi nữa).
Vì vậy, công ty phải chịu tổn thất kinh tế chừng nào tổn thất của công ty thấp hơn
chi phí cố định. Điều này xảy ra nếu doanh thu của công ty đủ lớn để bù lại chi phí
khả biến và một phần chi phí cố định của nó. Về toán học, điều này có nghĩa là
công ty tiếp tục kinh doanh chừng nào:
TR= P x Q > VC
Chia cả hai vế cho Q, chúng ta có thể viết điều kiện này dưới dạng:
P > AVC
Trong thực tế điều này có nghĩa là công ty sẽ tiếp tục kinh doanh chừng nào giá
lớn hơn chi phí khả biến trung bình; công ty sẽ đóng cửa chừng nào giá thấp hơn
chi phí biến trung bình (average variable cost ~ AVC). Hãy xem tình huống này
được minh hoạ như thế nào trong biểu đồ dưới đây. Trong trường hợp này, tổn thất
được giảm thiểu tối đa tại mức sản lượng mà ở đó MR = MC. điều này xảy ra tại
mức sản lượng Q'. Do mức tổng chi phí trung bình (ATC) vượt quá giá thị trường
(P'), công ty phải chịu tổn thất kinh tế. Tuy nhiên, do giá lớn hơn AVC công ty sẽ
chọn cách tiếp tục kinh doanh về ngắn hạn.

Nếu công ty đóng cửa, công ty sẽ thiệt hại phần chi phí cố định. Khu vực bôi màu
trong biểu đồ dưới bằng phần chi phí cố định của công ty (để xem xét điều này,
lưu ý chiều cao của hình chữ nhật bằng AFC của công ty và bằng Q - vì vậy, khu
vực bôi màu bằng AFC x Q = TFC). So sánh phần tổn thất nếu công ty đóng cửa
(phần bôi màu trong biểu đồ dưới) với phần tổn thất nếu công ty tiếp tục hoạt động
về ngắn hạn (phần bôi màu trong biểu đồ trên) cho thấy công ty này sẽ ít bị thiệt
hại hơn nếu nó quyết định tiếp tục kinh doanh về ngắn hạn.

Do đó, lập luận này sẽ cho thấy nguyên tắc đóng cửa với một công ty là: đóng cửa
nếu P < AVC. Tất nhiên, về dài hạn, các công ty sẽ rời bỏ ngành kinh doanh nếu
phải chịu thiệt hại kinh tế (nên nhớ, không có chi phí cố định về dài hạn).
Giá hoà vốn

2
và Q
3
. Suy nghĩ
một chút bạn sẽ thấy đường MC có thể được sử dụng để quyết định xuất lượng mà
công ty này sẽ cung cấp bất cứ khi nào P > AVC. Do phần đường MC nằm trên
đường AVC chỉ cho thấy xuất lượng cung cấp tại mỗi mức giá, nó chính là đường
cung ngắn hạn của công ty. Nói chung, một đường cung ngắn hạn của một công ty
cạnh tranh hoàn hảo là phần đường chi phí cận biên của công ty nằm trên đường
AVC. Điều này được minh hoạ bằng phần sẫm hơn và dầy hơn của đường MC
trong biểu đồ dưới đây.

Dài hạn
Về dài hạn, các công ty sẽ gia nhập thị trường nếu họ có mức lợi nhuận kinh tế
dương và sẽ rời bỏ thị trường nếu họ chịu lỗ. Hãy nghĩ về hậu quả của sự gia nhập
và rời bỏ như vậy. Giả sử giá cân bằng hiện tại trên một thị trường mang lại lợi
nhuận kinh tế cho một công ty điển hình. Trong trường hợp này, các công ty sẽ gia
nhập thị trường và đường cung thị trường dịch chuyển sang phải. Khi cung thị
trường tăng, giá cân bằng giảm. Quá trình này sẽ tiếp tục cho tới khi nào không có
công ty nào có động cơ gia nhập thị trường. Như biểu đồ dưới đây cho thấy, một
công ty điển hình sẽ có mức lợi nhuận bằng 0 trong trạng thái cân bằng về dài hạn
này.

Giả sử thay vào đó một công ty điển hình bị lỗ. Trong tình huống này, các công ty
sẽ rời bỏ ngành kinh doanh này về dài hạn. Khi họ rời bỏ, đường cung thị trường
dịch chuyển sang trái và mức giá cân bằng tăng. Các công ty sẽ tiếp tục rời bỏ
chừng nào đường cung thị trường dịch chuyển đủ mức cho một công ty điển hình
có thể đạt được mức lợi nhuận bằng 0 (như được minh hoạ trong biểu đồ trên).
Vì vậy, như trong biểu đồ trên cho thấy, một trạng thái cân bằng dài hạn được đặc
trưng bởi lợi nhuận kinh tế bằng 0 mà một công ty điển hình nhận được. Tất nhiên

trong khi phần bôi xanh là thặng dư của người sản xuất. Lợi ích ròng của xã hội,
còn được gọi là "lợi ích dành được từ thương mại" ("gains from trade") bằng tổng
hai phần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status