Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp abc - Pdf 10

www.document.vn
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM THEO PHƯƠNG PHÁP
ABC ( ACTIVITY BASED COSTING )
1.1 Các khái niệm cơ bản của mô hình ABC:
Mô hình xác định giá sản phẩm trên cơ sở hoạt động hình thành một hệ thống
gồm nhiều khái niệm đặc trưng, dưới đây là một số khái niệm cơ bản:
Nguồn lực: Là một yếu tố kinh tế được sử dụng để thực hiện các hoạt động.
Con người, dụng cụ, thiết bị, nhà xưởng… là những ví dụ về nguồn lực.
Hoạt động: Hoạt động là một sự kiện hoặc một nghiệp vụ gây ra sự phát sinh
chi phí trong doanh nghiệp. Quá trình sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của
doanh nghiệp thực chất là sự hợp thành một cách có hệ thống, có tổ chức của nhiều
hoạt động khác nhau.
Nguồn phát sinh chi phí: Nguồn phát sinh chi phí là một nhân tố, một khía
cạnh của hoạt động có thể định lượng được và gây ra sự phát sinh chi phí. Một hoạt
động có thể được xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng chỉ những khía
cạnh nào gây ra sự phát sinh chi phí và có thể định lượng được mới có thể được coi
là nguồn phát sinh chi phí.
Trung tâm hoạt động: Trung tâm hoạt động được hiểu là một phần của quá
trình sản xuất mà kế toán phải báo cáo một cách riêng biệt tình hình chi phí của các
hoạt động thuộc trung tâm đó.
Chi phí ( theo cách thức phân bổ chi phí ):
Chi phí trực tiếp: là loại chi phí gắn liền với việc sản xuất từng loại sản
phẩm, chúng có thể được tính trực tiếp vào giá thành sản phẩm.
Chi phí gián tiếp: là loại chi phí phát sinh không có quan hệ mật thiết với
việc sản xuất ra từng loại sản phẩm, mà chúng phát sinh có liên quan đến hoạt động
sản xuất chung của cả phân xưởng hoặc cả nhà máy. Do vậy những chi phí loại này
phải được tính vào giá thành của từng loại sản phẩm một cách gián tiếp.
Giá thành:
Giá thành sản xuất: bao gồm các chi phí liên quan đến sản xuất, chế tạo sản
phẩm phát sinh ở phân xưởng sản xuất. Giá thành sản xuất được sử dụng để ghi sổ

kỳ
Sơ đồ hạch toán
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi phí NVL trực tiếp (kê khai thường xuyên)
(1) Khi xuất kho nguyên vật liệu để sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất sản
phẩm
(2) Trường hợp mua nguyên vật liệu về không nhập kho mà giao ngay cho
bộ phận sản xuất
(3) Trường hợp nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
(4) Cuối kỳ kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp
chi phí để tính giá thành sản phẩm
b. Sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ:
Tương tự phương pháp kê khai thường xuyên, nhưng tài khoản kết chuyển là 631
Trang 3
152
621
133
111, 112, 131
154
(1)
(2)
(4)
(3)
www.document.vn
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí NVL trực tiếp (kiểm kê định kỳ)
(1) Khi xuất kho nguyên vật liệu để sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất sản
phẩm
(2) Trường hợp mua nguyên vật liệu về không nhập kho mà giao ngay cho bộ
phận sản xuất
(3) Trường hợp nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho
(4) Cuối kỳ kết chuyển nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng tập hợp

khoản tính giá thành theo từng đối tượng
1.2.2. Chi phí gián tiếp :
Mô hình ABC đòi hỏi quá trình phân bổ CPSX gián tiếp cho từng loại sản phẩm,
dịch vụ được tiến hành theo hai giai đoạn phân biệt:
Bước 1: Tập hợp chi phí sản xuất gián tiếp vào các bộ phận và hoạt động. Trong
giai đoạn này, trước hết CPSX gián tiếp cũng được tập hợp theo các trung tâm chi
phí là các bộ phận tương tự như mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất
và mô hình phân bổ CPSX theo bộ phận.
Trong giai đoạn này ngoài việc tập hợp, hạch toán chi phí chi tiết tới từng tài
khoản thông thường, nếu xác định được các chi phí đang tập hợp sử dụng cho đối
tượng chịu chi phí nào hay thuộc hoạt động nào thì tập hợp trực tiếp vào đối tượng
chịu phí hay hoạt động đó. Ví dụ, cước phí vận chuyển hàng hóa xuất khẩu ngoài
việc tập hợp, hạch toán vào khoản mục chi phí bán hàng nếu xác định cước vận
Trang 5
334
(1)
3382, 3383, 3384
(2)
(4)
335
(3)
622
154
www.document.vn
chuyển này phục vụ cho đối tượng chịu phí nào (khách hàng, sản phẩm, kênh phân
phối…) thì tập hợp trực tiếp vào đối tượng chịu phí đó mà không cần phải qua giai
đoạn phân bổ.
Cụ thể:
a, Chi phí quản lý doanh nghiệp: Được tập hợp và hạch toán chi tiết theo tài
khoản 641 và các trung tâm chi phí (VD: A001-Chi phí quản lý phòng nhân sự,

Ví dụ khi phân bổ chi phí chuẩn bị máy căn cứ vào tiêu thức phân bổ là số
lần sử dụng máy, điều đó thừa nhận rằng tất cả các lần chuẩn bị máy đều tốn cùng
một lượng thời gian như nhau.
Trong một số trường hợp số lượng các nguồn lực được sử dụng để thực hiện
từng hoạt động là khác nhau đáng kể, và các hoạt động này cũng được sử dụng khác
nhau đáng kể giữa các sản phẩm, khi đó cần phải sử dụng tiêu thức khác chính xác
hơn và tốn kém hơn.
- Tiêu thức phân bổ theo lượng thời gian thực hiện: Tiêu thức phân bổ này liên
quan đến số lượng thời gian được yêu cầu để thực hiện một hoạt động. Tiêu
thức này được sử dụng khi có sự khác nhau đáng kể về số lượng thời gian
giữa các hoạt động được thực hiện cho các đối tượng chi phí. Ví dụ, những
sản phẩm đơn giản thì việc chuẩn bị máy chỉ mất khoảng 10 đến 15
phút.Ngược lại, đối với các sản phẩm phức tạp và đòi hỏi sự chính xác cao
thì để chuẩn bị máy phải mất đến 2 giờ. Việc sử dụng tiêu thức phân bổ theo
số lần thực hiện, như là số lần chuẩn bị máy sẽ làm cho các sản phẩm đơn
giản phải gánh chịu chi phí chuẩn bị máy nhiều hơn thực tế (overcost), và
ngược lại, các sản phẩm phức tạp sẽ gánh chịu chi phí này ít hơn thực tế
(undercost). Để tránh sự sai lệch này, người thiết kế hệ thống ABC phải sử
Trang 7
www.document.vn
dụng tiêu thức phân bổ theo lượng thời gian thực hiện, như là số giờ chuẩn bị
máy để phân bổ chi phí chuẩn bị máy đến từng sản phẩm, nhưng điều này sẽ
làm tăng thêm chi phí đo lường.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, tiêu thức phân bổ theo thời gian thực
hiện cũng không chính xác, lúc này có thể sử dụng tiêu thức phân bổ theo mức độ
thực hiện
- Tiêu thức phân bổ theo mức độ thực hiện: Đây là tiêu thức phân bổ chi phí
hoạt động chính xác nhất nhưng cũng tốn kém nhất. Trong cùng ột ví dụ trên về việc
chuẩn bị máy, một số trường hợp các sản phẩn phức tạp và đòi hỏi sự chính xác cao
thì đôi lúc đòi hỏi sự chuẩn bị một cách đặc biệt trước khi máy vận hành, đòi hỏi về

trung tâm hoạt động, trung tâm chi phí ở các bước tiếp theo.
Bước 2: Xác định các trung tâm hoạt động: sau khi đã nhận diện được các
hoạt động tiêu hao nguồn lực, KTQT phải xác định các trung tâm hoạt động. Về lý
thuyết, mỗi hoạt động đều có thể được tập hợp trong một trung tâm. Tuy nhiên, do
quá trình sản xuất được phân tích thành rất nhiều hoạt động khác nhau, nên để giảm
bớt khối lượng công việc kế toán, một trung tâm hoạt động sẽ có thể bao gồm một
số hoạt động có cùng bản chất xét ở khía cạnh gây ra sự phát sinh chi phí. Chẳng
hạn, trung tâm “hoạt động kiểm tra sản phẩm” có thể bao gồm các hoạt động cụ thể
như: kiểm tra các thông số kỹ thuật, chạy thử, kiểm tra công tác đóng gói, bảo quản
sản phẩm…
Bước 3: Tập hợp chi phí cho các bộ phận và quy nạp chi phí cho các hoạt
động (trung tâm hoạt động): Chi phí sản xuất chung phát sinh trước hết sẽ được tập
hợp cho các bộ phận như: các phân xưởng sản xuất, đội sản xuất,… Tiếp đó, chi phí
sẽ được quy nạp cho các hoạt động (hoặc trung tâm hoạt động) đã được xác định ở
hai bước trên. Nếu một bộ phận chỉ bao gồm một hoạt động (trung tâm hoạt động)
khác nhau thì chi phí sản xuất chung của các bộ phận này được quy nạp cho từng
hoạt động theo cách quy nạp trực tiếp cho hoạt động (trung tâm hoạt động) đó. Nếu
mỗi bộ phận bao gồm nhiều hoạt động (trung tâm hoạt động) khác nhau thì chi phí
sản xuất chung của các bộ phận này được quy nạp cho từng hoạt động theo cách quy
nạp trực tiếp hoặc phân bổ gián tiếp.
Bước 4: Xác định nguồn phát sinh chi phí và phân bổ chi phí sản xuất chung
cho từng loại sản phẩm: Để lựa chọn một khía cạnh, nhân tố nào đó của hoạt động
làm nguồn phát sinh chi phí cho từng trung tâm hoạt động, làm cơ sở để tiến hành
Trang 9
www.document.vn
phân phối chi phí cho từng loại sản phẩm phải đồng thời cân nhắc hai nhân tố sau
đây:
- Kế toán quản trị phải có dữ liệu phong phú về nguồn phát sinh chi phí định
lựa chọn, chẳng hạn muốn chọn số lượng sản phẩm được kiểm tra là nguồn phát
sinh chi phí của trung tâm “hoạt động kiểm tra sản phẩm” thì KTQT phải có dữ liệu

các tỉ lệ. Ví dụ, giả sử doanh nghiệp cần phân bổ chi phí xăng dầu giữa ba hoạt động
chạy máy, giao hàng, và bảo trì. Thông qua việc đặt câu hỏi cho những bộ phận tiêu
thụ nguồn lực này và yêu cầu họ đánh giá về tỉ lệ phần trăm chi phí xăng dầu trong
một thời đoạn nhất định, AHP có thể đưa ra được phần trăm của chi phí này và phân
bổ chúng đến từng hoạt động thích hợp.
AHP cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn hai đó là phân bổ chi phí từ
các hoạt động đến từng sản phẩm. Trong bước này, điều quan trọng là phải xác định
được một tiêu thức phân bổ chi phí thích hợp để đạt được mức độ chính xác mong
muốn.
Ví dụ, giả sử doanh nghiệp mong muốn ấn định chi phí bán hàng đến từng
sản phẩm. Một phương pháp đó là ước lượng mức độ hoạt động bán hàng cần thiết
đối với từng sản phẩm. Giả sử doanh nghiệp sản xuất năm sản phẩm. Sản phẩm A là
sản phẩm đã có tiếng, những nỗ lực về hoạt động bán hàng là tương đối thấp, trong
khi sản phẩm B, C, và D đang trong giai đoạn giữa của dòng đời sản phẩm và sản
phẩm E, là một sản phẩm mới, tiêu tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực hơn cho việc
bán hàng. Thay vì phân bổ đồng đều chi phí bán hàng cho từng sản phẩm, AHP có
thễ đưa ra một ước lượng cho phép công ty tính chi phí đến từng sản phẩm một cách
chính xác hơn.
Bước tiếp theo là doanh nghiệp cần phải xác định những tiêu thức thể hiện
mối quan hệ về chi phí giữa các hoạt động và sản phẩm. Trong ví dụ cụ thể này, khu
vực bán hàng và thời gian sử dụng để thương thảo với khách hàng về từng sản phẩm
có thể được xem là các tiêu thức liên hệ. Sau đó, chi phí bán hàng được xếp hạng
giữa các sản phẩm theo khoảng cách cần thiết giao hàng. Việc xếp hạng tiếp theo
giữa các sản phẩm được thiết lập theo tỉ lệ thời gian cho từng khách hàng. Cuối
cùng, những cách xếp hạng chủ quan về hoạt động bán hàng được kết hợp lại để
tính ra tỉ lệ phân bổ chi phí bán hàng giữa năm loại sản phẩm.
 Thu thập dữ liệu thực tế:
Phương pháp chính xác nhất và tốn nhiều chi phí nhất để tính toán được tỉ lệ
cần thiết đó là thu thập những dữ liệu thực tế. Trong hầu hết các trường hợp, người
Trang 11

Vốn pháp định: 5.180.431.108 đồng.
 Mặt hàng kinh doanh
Mặt hàng sản xuất: hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất và may gia
công hàng may mặc xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Về nhập khẩu: công ty chỉ nhập nguyên vật liệu, máy móc trang thiết bị để
phục vụ cho quá trình gia công các loại hàng may mặc.
Trang 13
www.document.vn
Về xuất khẩu: công ty xuất khẩu mặt hàng mà công ty nhận gia công như: Áo
Jacket, quần tây… ở châu Á
 Chức năng
Chức năng chủ yếu của công ty là sản xuất, nhận gia công các loại hàng may
mặc, ký kết các hợp đồng nhận hàng gia công trực tiếp với các khách hàng các nước
châu Á. Ngoài ra công ty còn nhận các hợp đồng gia công cho các đơn vị, gia công
xuất khẩu trực tiếp trong nước. Bên cạnh đó, công ty còn đang từng bước tổ chức
sản xuất hàng tự cân đối (hàng FOB )để xuất khẩu và bán nội địa.
 Nhiệm vụ
Tập trung xây dựng và thực hiện các kế hoạch về gia công các mặt hàng may
để phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Xuất khẩu trực tiếp hàng may mặc do công ty sản xuất, khai thác thị trường
nước ngoài, nhận uỷ thác cho các đơn vị trong ngành về các mặt hàng xuất khẩu của
công ty.
Không ngừng đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề, nghiệp vụ, văn hóa, khoa
học kỹ thuật, tư tưởng chính trị, nâng cao uy tín trách nhiệm ý thức tự giác của cán
bộ công nhân viên trong bộ phận quản lý. Tổ chức thực hiện chính sách các nghiệp
vụ kinh tế và công tác tính giá thành. Bên cạnh đó là phải ứng dụng các trình độ kỹ
thuật công nghệ mới vào trong sản xuất để giúp cho hiệu quả sản xuất kinh doanh
của công ty được hoàn thiện và phát triển tốt hơn.
Quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên, giải quyết công ăn việc
làm cho công nhân lao động trong địa bàn của tỉnh tạo nên sự ổn định về mặt xã hội.

triển. Công ty phải vay ngân hàng để mua máy móc thiết bị.
Ngày nay, số lượng các công ty may gia công ngày càng nhiều, sự cạnh tranh
giữa các công ty ngày càng gay gắt, các công ty phải làm sao để có thể hạ thấp giá
thành sản phẩm xuống mới dễ chiếm lĩnh thị trường hơn. Đứng trước tình hình đó,
Công ty Khánh Quỳnh cũng đã gặp khó khăn vì phải làm sao để cạnh tranh với các
mặt hàng cùng loại trên thị trường về giá cả mà vẫn duy trì được chất lượng của sản
phẩm làm ra.
Không những cạnh tranh trong nước, mà công ty còn phải cạnh tranh với các
mặt hàng nước ngoài, cụ thể như hàng may mặc của Trung Quốc. Đây không phải là
vấn đề của một, hai doanh nghiệp may, mà là khó khăn của tất cả các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung và của Công ty Khánh Quỳnh nói riêng. Vì thế, có được sự
Trang 15
www.document.vn
quan tâm, hỗ trợ của các sở, các ban ngành và các tổ chức có liên quan là một điều
vô cùng cần thiết và quan trọng đối với các đơn vị.
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC
QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY TNHH KHÁNH QUỲNH
2.2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
2.2.1.1 Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty
Công ty đã lập ra hệ thống tổ chức sản xuất bao gồm 4 phân xưởng sản xuất:
o Phân xưởng cắt thực hiện tất cả việc cắt các loại hàng cho các phân xưởng may
o Phân Xưởng 1 may áo sơ mi
o Phân Xưởng 2 chuyên may áo Jacket
o Phân Xưởng 3 chuyên may quần tây
o Phân Xưởng 4 chuyên may quần lót phụ nữ cao cấp

Sơ đồ 4: Sơ Đồ Tổ Chức Sản Xuất Của Công Ty
Nhìn vào cách bố trí sơ đồ sản xuất của công ty mà mỗi XN sẽ có tổ trưởng
và số lượng công nhân thích hợp theo yêu cầu sản xuất.
Tổ trưởng may có trách nhiệm nhận các bán thành phẩm từ khâu cắt chuyển

Các Phó Tổng Giám Đốc phụ trách các công việc chuyên môn, điều hành
trực tiếp các phòng ban.
Phòng Kinh doanh: Giữ nhiệm vụ mở rộng các cửa hàng, đại lý bán sỉ và lẻ,
nghiên cứu thị trường thời trang, mẫu mã, thị hiếu khách hàng, đẩy mạnh tiêu thụ,
mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Phòng Kế toán: Theo dõi, giám sát các hoạt động kinh doanh của công ty,
tình hình sử dụng vốn trong thời kì, thu thập thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ,
Trang 17
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TGĐ PHỤ
TRÁCH SẢN
XUẤT
PHÓ TGĐ PHỤ
TRÁCH KINH
DOANH
PHÒNG
KINH
DOANH
PHÒNG KỸ
THUẬT KCS
PHÒNG KẾ
TOÁN
PX
CẮT
PX
3
PX
4
PX
2

mẫu. Sau đó dựa vào mẫu đã duyệt tài liệu kỹ thuật, thiết lập một hệ thống tiêu
chuẩn kỹ thuật cho mẫu hàng trước khi sản xuất bao gồm các yêu cầu kỹ thuật, kích
thước thành phẩm định mức, nguyên vật liệu, thiết kế công đoạn, định mức thời
gian thiết kế chuyền. Sau đó giác sơ đồ sang xí nghiệp cắt.
Trang 18
www.document.vn
Để biểu hiện công việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty, có
sơ đồ như sau:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CÔNG TY
Sơ đồ 6: Sơ đồ tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công ty
2.3 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
2.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị: mô hình kế toán tập trung, tất cả
các công tác kế toán từ xử lý chứng từ, hạch toán tổng hợp, chi tiết, cho đến tổng
hợp lập các báo cáo kế toán đều tập trung tại phòng kế toán của doanh nghiệp. Còn
ở các phân xưởng chỉ lập chứng từ phát sinh tại bộ phận mình và chuyển hết chứng
từ về phòng kế toán trung tâm.
Trang 19
Kế toán trưởng
Chế mẫu
Tiêu chuẩn
kỹ thuật
Định mức Giác sơ đồ
Kho NL PX cắt
Kho bán thành phẩmKho phụ liệu PX may
KCS Ủi thành phẩm
Đóng gói
Kho thành
phẩm
Xuất hàng

Thủ
Quỹ
Kế
toán
kho
NVL
Kế
toán
ngân
hàng
Kế toán
thanh
toán tiền
mặt tạm
ứng
Kế
toán
kho
phụ
liệu
Kế
toán
công
nợ
Phó Phòng Kế toán tổng
hợp và giá thành
www.document.vn
Thủ quỹ: phụ trách nhập xuất tiền mặt, ngân phiếu tại công ty khi có chứng
từ hợp lệ đã được Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng ký duyệt.
2.3.2 Hình thức kế toán áp dụng tại đơn vị

tư rồi đưa đến phòng kế toán, kế toán xem xét số lượng cần xuất và số lượng
nguyên vật liệu còn trong kho. Mẫu phiếu xuất vật tư có nội dung và hình thức như
sau:
CÔNG TY TNHH KHÁNH QUỲNH
PHIẾU XUẤT VẬT TƯ Số: 0169/X-AB
Ngày 2 tháng 12 năm 2008
Họ tên người nhận hàng: Chị Cương
Địa chỉ( bộ phận): Xuất SXGC – May 4
Lý do xuất hàng: Xuất may mã VB028- 1
Xuất tại kho: NL SX không giá(Huệ)
STT Tên, nhãn hiệu
Mã vật

DVT
Số
lượng
Đơn giá Thành tiền
1
Vải chính -186T-
sage=green-54-OM008
308VC
186T
m 2.884 25.600 73.830.400
2
Vải chính – 300D-
Back- 54-OM008
308VF
300D
m 260 53.681 13.957.060
… … … … … …

…….
02/12/2008 0169/X-AB 02/12/2008
Xuất nguyên liệu phục vụ
sản xuất trực tiếp
621 152
……. ……. ……. ……. …….
…….
Cộng số phát sinh
Người lập Kế toán trưởng Giám
đôc
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký,
ghi rõ họ tên)
Trang 23
www.document.vn
Giá thực tế nguyên liệu xuất kho là giá được tính theo phương pháp bình
quân gia quyền, công việc tính giá xuất kho được phần mềm kế toán trong máy tính
của Công ty tự động tính ra.
Kế toán cũng theo dõi vật liệu xuất trên thẻ kho để đối chiếu với thẻ kho của
thủ kho, cuối ngày kế toán sẽ ghi vào sổ cái chi tiết tài khoản vật tư .
CÔNG TY TNHH KHÁNH QUỲNH
SỔ CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU XUẤT KHO
Ngày CT Số CT Tên vật tư Mã VT
ĐV
T
Số lượngĐơn giá Thành tiền
Người
nhận
2/12/200
8
0169/X-

Ngày
ghi
sổ
Chứng từ
Số Ngày
Diễn giải
Số hiệu
TK đối
ứng
Số phát sinh
Nợ Có
… … … …
2/12
0169/X-
AB
2/12
Xuất NVL dùng
trực tiếp sxsp
152 136.020.320
… … … … … … …
Cộng số phát sinh 515.343.831 515.343.831
Kế toán lên sổ cái tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp với nội dung và hình
thức như sau:
CÔNG TY TNHH KHÁNH QUỲNH
SỔ CÁI TỔNG HỢP TK 621
Ngày
ghi
sổ
Chứng từ
Số Ngày

Trích đoạn Biện pháp nhằm tính đúng, tính đủ chi phí Biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm Kiến nghị đối với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status