LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ta hiện nay, các tổ
chức kinh tế, doanh nghiệp có quyền tổ chức và thực hiện hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình một cách độc lập tự chủ theo qui định của pháp luật. Họ phải tự
hạch toán và đảm bảo doanh nghiệp mình hoạt động có lợi nhuận, và phát triển lợi
nhuận đó, từ đó nâng cao lợi ích của doanh nghiệp, của người lao động. Đối với
nhân viên, tiền lương là khoản thù lao của mình sẽ nhận được sau thời gian làm việc
tại công ty. Còn đối với công ty đây là một phần chi phí bỏ ra để có thể tồn tại và
phát triển được. Một công ty sẽ hoạt động và có kết quả tốt khi kết hợp hài hoà hai
vấn đề này.
Do vậy, việc hạch toán tiền lương là một trong những công cụ quản lý quan
trọng của doanh nghiệp. Hạch toán chính xác chi phí về lao động có ý nghĩa cơ sở,
căn cứ để xác định nhu cầu về số lượng, thời gian lao động và xác định kết quả lao
động. Qua đó nhà quản trị quản lý được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm.
Mặt khác công tác hạch toán chi phí về lao động cũng giúp việc xác định nghĩa vụ
của doanh nghiệp đối với nhà nước. Đồng thời nhà nước cũng ra nhiều quyết định
liên quan đến việc trả lương và các chế độ tính lương cho người lao động. Trong
thực tế, mỗi doanh nghiệp có đặc thù sản xuất và lao động riêng, cho nên cách thức
hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương ở mỗi doanh nghiệp cũng sẽ có
sự khác nhau. Từ sự khác nhau này mà có sự khác biệt trong kết quả sản xuất kinh
doanh của mình.
Từ nhận thức như vậy nên trong thời gian thực tập tại Công ty Tư vấn Xây
dựng và Phát triển Nông thôn em đã chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Tư vấn Xây dựng và Phát
triển Nông thôn” để nghiên cứu thực tế và viết thành chuyên đề này. Với những hiểu
biết còn hạn chế và thời gian thực tế quá ngắn ngủi, với sự giúp đỡ của lãnh đạo
Công ty và các anh chị em trong phòng kế toán Công ty, em hy vọng sẽ nắm bắt
được phần nào về sự hiểu biết đối với lĩnh vực kế toán tiền lương trong Công ty.
Bài viết được chia làm 3 chương:
Trang 1
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích
sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ xã hội
Trong quá ttrình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với các
chủ doanh nghiệp tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, tiền lương luôn luôn được tính toán quản lý chặt chẽ. Đối với người
lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ phần thu nhập chủ yếu
với đại đa số lao động trong xã hội có ảnh hưởng đến mức sống của họ. Phấn đấu
nâng cao tiền lương là mục đích hết thảy của người lao động. Mục đích này tạo
động lực để người lao động phát triển trình độ và khẳ năng lao động của mình.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện
nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần kinh tế
Trang 3
+ Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp (khu
vực lao động được nhà nước trả lương), tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp
quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế
chính sách của nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang lương, bảng lương
do nhà nước qui định.
+ Trong thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương chụi sự tác động chi
phối rất lớn của thị trường và thị trường sức lao động. Tiền lương khu vực này dù
vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo những chính sách của chính phủ và là
những giao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, những “mặc cả” cụ thể giữa một bên làm
thuê và một bên đi thuê. Những hợp đồng lao động này tác động trực tiếp đến
phương thức trả công.
Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong quan hệ
về phân phối thu nhập, quan hệ sản xuất tiêu dùng, quan hệ trao đổi. Do vậy chính
sáh tiền lương thu nhập luôn luôn là vấn đề quan tâm của mọi quốc gia.
Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm của tiền lương:
+Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng xuất lao động, phụ
thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc . . .ngay trong quá trình lao động.
+ Tiền lương thực tế: Được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và
(chức vụ, đắt đỏ, khu vực. . .), tiền thưởng trong sản xuất.Quỹ tiền lương(hay tiền
công) bao gồm nhiều loại, tuy nhiên về hạch toán có thể chia thành tiền lương lao
động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lương
chính và tiền lương phụ.
1.1.2. Các khoản trích theo lương:
1.1.2.1. Bảo hiểm xã hội:
1.1.2.1.1. Khái niệm:
Bảo hiểm xã hội(BHXH) là một trong những nội dung quan trọng của chính
sách xã hội mà nhà nước đảm bảo trước pháp luật cho người dân nói chung và
người lao động nói riêng. BHXH là sự đảm bảo về mặt vật chất cho người lao động,
thông qua chế độ BHXH nhằm ổn định đời sống của người lao động và gia đình họ.
BHXH là một hoạt động mang tính chất xã hội rất cao . Trên cơ sở tham gia,đóng
Trang 5
góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự quản lý bảo hộ của nhà
nước. BHXH chỉ thực hiện chức năng đảm bảo khi người lao động và gia đình họ
gặp rủi ro như ốm đau, tuổi già, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, chết.
Theo công ước102 về BHXH và tính chất lao động quốc tế gồm:
+ Chăm sóc y tế
+ Trợ cấp ốm đau
+ Trợ cấp thất nghiệp
+ Trợ cấp tuổi già
+ Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
+Trợ cấp gia đình
+ Trợ cấp thai sản, tàn tật
Hiện nay ở Việt Nam đang thực hiện các loại nghiệp vụ bảo hiểm sau:
+Trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau
+ Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
+ Trợ cấp mất sức lao động, Trợ cấp tàn tật
1.1.2.1.2. Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH):
Là một khoản tiền trích lập người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức
1.2.1. Trả lương theo sản phẩm:
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trực
tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm ( hay dịch vụ ) mà họ hoàn thành. đây là
hình thức được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp sản
xuất chế taọ sản phẩm.
Hình thức trả lương theo sản phẩm có những ý nghĩa sau:
+ Quán triệt tốt nguyên tắc trả lương theo lao động vì tiền lương mà người lao
động nhận được phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đã hoàn thành. Điều này sẽ có
tác dụng làm tăng năng xuất của người lao động.
+ Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động
ra sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng,
phát huy sáng tạo, . . . để nâng cao khẳ năng làm việc và năng xuất lao động.
Trang 7
+ Trả lương theo sản phẩm còn có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao và hoàn
thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động làm việc của người lao động.
Có các chế độ trả lương sản phẩm như sau:
1.2.1.1. Trả lương theo sản phẩm trực tiếp:
Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp được áp dụng rộng rãi đối với người
trực tiếp sản xuất trong điều kiện lao động của họ mang tính độc lập tương đối, có
thể định mức và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt.
1.2.1.2. Trả lương theo sản phẩm có thưởng có phạt:
Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng có phạt là tiền lương trả theo sản
phẩm gắn với chế độ tiền lương trong sản xuất như : Thưởng tiết kiệm vật tư,
thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng giảm tỷ lệ hàng hỏng, . . . và có thể
phạt trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, hao phí vật tư, không
đảm bảo ngày công qui định, không hoàn thành kế hoạch được giao.
Cách tính như sau:
Tiền lương = Tiền lương theo sản phẩm + Tiền thưởng – Tiền
trực tiếp (gián tiếp) phạt
1.2.1.3. Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến:
sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc, giảm thời
gian công việc, hoàn thành công việc giao khoán.
1.2.2. Hình thức trả lương theo thời gian:
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công
tác quản lý. Đối với những công nhân trực tiến sản xuất thì hình thức trả lương này
chỉ áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc công việc
không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của
sản xuất nếu thực hiện trả lương theo sản phẩm sẽ không đảm bảo được chất lượng
sản phẩm.
Hình thức trả lương theo thời gian có nhiều nhược điểm hơn hình thức tiền
lương theo sản phẩm vì nó chưa gắn thu nhập của người với kết quả lao động mà họ
đã đạt được trong thời gian làm việc.
Trang 9
Hình thức trả lương theo thời gian có hai chế độ sau:
1.2.2.1. Trả lương theo thời gian đơn giản:
Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản là chế độ tiền lương mà tiền lương
nhận được của công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp và thời gian làm việc
thực tế nhiều hay ít quyết định
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó xac định định mức lao
động, khó đánh giá công việc chính xác
Tiền lương đựơc tính như sau:
L
tt
= L
cb
x T
Trong đó : L
tt
- Tiền lương thực tế người lao động nhận được
L
Tiền thưởng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với
người lao động trong quá trình làm việc. Qua đó nâng cao năng xuất lao động, nâng
cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian làm việc.
+ Đối tượng xét thưởng:
Lao động có thời gian làm việc tại daonh nghiệp từ một năm trở lên
Có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Mức thưởng : mức thưởng một năm không thấp hơn một tháng lương theo
nguyên tắc sau :
Căn cứ vào kết quả đóng góp của người lao động đối với doanh nghiệp thể
hiện qua năng xuất lao động, chất lượng công việc.
Căn cứ vào thời gian làm việc tại doanh nghiệp
+ Các loại tiền thưởng : Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua ( lấy từ quĩ
khen thưởng) và tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh ( thưởng nâng cao chất
lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sáng kiến)
Tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thường xuyên) : hình thức này có
tính chất lương, đây thực chất là một phần của quỹ lương được tách ra để trả cho
người lao độngdưới hình thức tiền thưởng cho một tiêu chí nhất định.
Trang 11
Tiền thưởng về chất lượng sản phẩm : Khoản tiền này được tính trên cơ sở tỷ
lệ qui định chung (không quá 40%) và sự chênh lệch giá giữa sản phẩm cấp cao và
sản phẩm cấp thấp.
Tiền thưởng thi đua : (không thường xuyên ): Loại tiền thưởng này không
thuộc quỹ lương mà được trích từ quỹ khen thưởng, khoản tiền này được trả dưới
hình thức phân loại trong một kỳ (Quý, nửa năm, năm)
1.2.3.2. Chế độ phụ cấp:
- Phụ cấp trách nhiệm: Nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất
hoặc làm công việc chuyên môn nghiệp vụ vừa kiện nhiệm công tác quản lý
không thuộc chức vụ lãnh đạo bổ nhiệm hoặc những người làm việc đòi hỏi
trách nhiệm cao chưa được xác định trong mức lương. Phụ cấp trách nhiệm
được tính và trả cùng lương tháng. Đối với doanh nghệp, phụ cấp này được
Trong công ty, việc theo dõi các chi tiết về số lượng lao động được thực hiện
trên gọi là danh sách cán bộ công nhân viên trong đó có chi tiết về số lượng lao
động theo từng bộ phận nhằm thường xuyên nắm chắc số lượng lao động hiện còn
của đơn vị.
1.3.3. Hạch toán sử dụng thời gian lao động:
Là hach toán sử dụng thời gian lao động đối từng công nhân trong doanh
nghiệp, kế toán dựa vào bảng chấm công sổ tổng hợp thời gian lao động.
Để quản lý thời gian lao động, các doanh nghiệp sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý lao động của mỗi doanh nghiệp
như chấm công, . . . .
1.3.4. Hạch toán kết quả gian lao động:
Là phản ánh kết quả ghi chép lao động của công nhân viên bằng số lượng sản
phẩm hàng tháng. Kế toán phải lập bảng thanh toán tiền lương cho từng phân xưởng
sản xuất, từng phòng ban, từ đó làm căn cứ để tính lương cho từng người. Trong
bảng thanh toán lương phải ghi rõ từng khoản tiền lương sản phẩm, lương thời
gian, các khoản phụ cấp, trợ cấp, khấu trừ, số còn lại người lao động được lĩnh.
Trang 13
Việc hạch toán số lượng lao động, thời gian sử dụng lao động và kết qủa lao
động có tầm quan trọng rất lớn trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất, đồng thời
cũng là tiền đề cho việc hạch toán tiền lương và BHXH.
1.4 – KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG.
1.4.1. Hạch toán chi tiết tiền lương và BHXH:
Công tác phải làm trước tiên của việc hạch toán kế toán tiền lương là kiểm
tra các chứng từ ban đầu về tiền lương như: Bảng chấm công, phiếu báo sản phẩm
hoàn thành,......do nhân viên các phân xưởng đưa lên.
Nội dung chứng từ sau khi kiểm tra sẽ là căn cứ để tính lương cho từng công
nhân của từng đơn vị, từng phân xưởng sản xuất.
Xuất phát từ yêu cầu sản xuất có tính kế hoạch và giá thành được tính theo
khoản mục chi phí nên việc tính toán và phân bổ tiền lương, BHXH,... phải căn cứ
Do vậy, cần phải trích trước lương của công nhân trực tiếp sản xuất, thể hiện
như sau:
Tiền lương nghỉ phép Tiền lương thực Tỷ lệ trích
trích trước hàng tháng = chi của tháng X trước lương
tính vào giá thành SP đã tính cho từng SP nghỉ phép
Trong đó:
Tỷ lệ trích trước lương nghỉ phép = X 100
Trang 15
∑ lương nghỉ phép
CNSX trong năm kế hoạch
∑ lương phải trả cho công
nhân sản xuất
1.4.1.4. Chứng từ và tài khoản kế toán:
Hạch toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ chủ yếu sử dụng các chứng từ
về tính toán tiền lương, tiền thưởng, BHXH như:
- Bảng thanh toán tiền lương mẫu số 02 – LĐ - TL
- Bảng thanh toán BHXH mẫu số 04 – LĐ - TL
- Bảng thanh toán tiền thưởng mẫu số 05 – LĐ - TL
- Các phiếu chi, chứng từ các tìa liệu khác về các khoản khấu trừ, trích nộp
liên quan. Các chứng từ trên có thể làm căn cứ để ghi sổ trực tiếp hoặc làm
cơ sở để tổng hợp rồi mới ghi sổ kế toán.
Kế toán tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ sử dụng các tìa khoản chủ yếu:
TK334, TK338.
Tài khoản 334: Phải trả công nhân viên
Dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải
trả cho CNV về tiền lương, tiền thưởng, BHXH các khoản thuộc về thu nhập của
CNV.
Tài khoản 338: Phải trả, phải nộp khác
Dùng để phản ánh tình hình thanh toán các khoản phải trả, phải nộp khác.
TK 338 chi tiết làm 6 tiểu khoản:
lương, các khoản phụ cấp khác để ghi vào các cột thuộc phần Ghi có của tài khoản
334 “ Phải trả CNV” ở các dùng phù hợp.
Căn cứ vào tiền lương phải trả và tỷ lệ trích trước theo quy định hiện hành của
Nhà nước về trích BHXH, BHYT, KPCĐ để trích và ghi vào các cột Ghi có của TK
338 “Phải trả, phải nộp khác” theo chi tiết tiểu khoản phù hợp.
Ngoài ra, kế toán còn phải căn cứ vào các tài liệu liên quan để tính và ghi vào
cột có TK 335 “Chi phí phải trả”.
1.4.1.6. Kế toán tổng hợp tiền lương, trích BHXH, BHYT, KPCĐ:
Kế toán căn cứ và các chứng từ, các biểu bảng đã được tính liên quan để thực
hiện việc hạch toán trên sổ sách;
Trang 17
- Tiền lương phải trả:
Kế toán ghi:
Nợ TK241 : Tiền lương CN XDCB, sửa chữa TSCĐ (nếu có)
Nợ TK622 : Tiền lương phải trả cho CN trực tiếp SX
Nợ TK627 : Tiền lương phải trả cho lao động gián tiếp và nhân
viên quản lý xưởng.
Nợ TK641 : Tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng (nếu có)
Nợ TK642 : Tiền lương phải trả cho bộ phận quản lý doanh
nghiệp.
Có TK334 : Tổng số tiền lương phải trả cho CBCNV trong tháng.
- Tiền thưởng phải trả:
Kế toán ghi:
Nợ TK431 : Quỹ khen thưởng, phúc lợi
Nợ TK 622, 6271, 6421, 6411 : Tiền thưởng trong SXKD
Có TK334 : Tổng số tiền phải trả CBCNV
- Trích BHXH, BHYT, KPCĐ hàng tháng:
Kế toán ghi:
Nợ TK 622, 627, 641, 642, 241 : Phần tính vào chi phí SXKD
Nợ TK 334 : Phần trừ vào thu nhập của CNV
lương được tóm tắt theo bảng dưới đây (trang sau).
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG Sơ đồ
số: 01
Trang 19
TK334 TK622,627,641,642TK141,138
Trích vào chi phí kinh
doanh
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Trang 20
Các khoản trừ vào thu
nhập của CNV
TK111
TK512
TK3331
TK335
TK338
TK431
Thanh toán bằng tiền mặt
Thanh toán bằng hiện vật
Thanh toán bằng hiện vật
Lương
phép
BHXH
Các Quỹ
Trích
trước
lương
Công ty đã đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, tạo
nhiều nguồn vốn, nhiều khách hàng, cải tổ và nâng cao năng lực kịp thời đại nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng và đặc biệt là tiêu chuẩn và chất
lượng của các công trình kiến trúc.
Có thể khái quát quá trình hoạt động và tăng trưởng của Công ty quâ một số
chỉ tiêu cơ bản sau:
QUY MÔ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG VÀ PTNT
Bảng số: 01
Đơn vị tính: 1.000.000đ.
ST
T
Chỉ tiêu – Năm 2000 2001 2002 Kế hoạch
2003
1 Doanh thu đạt 7.034 7.112 7.315 6.300
2 Gía vốn hàng bán 6.756 6.831 7.206 6.180
3 Lợi nhuận 278 281 109 120
4 Các khoản nộp NS 420 398 567 650
5 Vốn cố định 871 871 871 871
6 Vốn lưu động 980 980 980 980
7 Vốn NSNN cấp 350 350 350 350
8 Tổng số CBCNV 91 90 95 90
9 Thu nhập BQ/năm 18 18,5 20,5 22
2.2 - ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC TỔ CHỨC VÀ QUY TRÌNH SẢN
XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG TY TƯ VẤN XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN.
2.2.1. Đặc điểm của việc tổ chức sản xuất kinh doanh:
Công ty Tư vấn Xây dựng và Phát triển Nông thôn nằm trên địa bàn Hà Nội,
khá thuận lợi trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh, nhưng do đặc thù là một Công
ty chuyên về lĩnh vực tư vấn xây dựng trong phạm vi cả nước nên Công ty đã chia
làm hai bộ phận cơ bản là bộ phận lao động trực tiếp và gián tiếp.
phó giám đốc phụ trách kinh doanh và 01 phó giám đốc phụ trách kỹ thuật – là kiến
trúc sư, giám đốc phụ trách chung các hoạt động của Công ty.
Trang 23
+ Phòng kế toán: Quản lý công ty trong lĩnh vực tài chính, kế toán nhằm
phục vụ và phản ánh đúng, trung thực nhất năng lực của Công ty về tài chính, nhằm
đánh giá, tham mưu trong lĩnh vực quản lý cho Ban giám đốc.
+ Phòng kinh doanh: Khai thác khách hàng, tìm việc và ký kết các hợp đồng
kinh tế, phụ trách việc hoàn thiện các thủ tục thanh toán công nợ cũng như các tài
liệu công nợ, nghiệm thu, bàn giao tài liệu,......đồng thời phối hợp với phòng kế toán
trong việc xác định chính xác công nợ của khách hàng, có kế hoạch thu nợ và khai
thác khách hàng,....
+ Phòng tổ chức hành chính – Nhân sự: Quản lý công ty trong lĩnh vực hành
chính, nhân sự nhằm đáp ứng kịp thời và đúng nhất cho hoạt động của Công ty,
đánh giá đúng nhất năng lực cán bộ cả veef hình thức và chất lượng lao động để
tham mưu cho Ban giám đốc từ đó có sự phân công lao động phù hợp năng lực nhất.
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY Sơ đồ số:
02
(trang sau)
Trang 24
Giám đốc
PGĐ phụ trách kinh
doanh, tiếp thị
PGĐ phụ trách kỹ
thuật sản xuất
Các
xưởng
sản xuất
Phòng tài
chính kế
toán
2
Phòng
kinh
tế
giao
thông
thuỷ
lợi
Phòng
khoa
học
công
nghệ
môi
trường
Đội
khảo
sát
Tổ
hoàn
thiện
Văn
phòng
đại
diện
phía
Nam