Một số kiến nhị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương ở Công ty cổ phần may Thăng Long. - Pdf 32

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ KIÊM
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH SẢN XUẤT
PHÓ GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH NỘI CHÍNH
PHÓ GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH KỸ THUẬT
PHÒNG KỸ THUẬT
PHÒNG KCS
VĂN PHÒNG
PHÒNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT
CỬA HÀNG DỊCH VỤ
PHÒNG KHO
PHÒNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
PHÒNG THỊ TRƯỜNG
TTTM VÀ GTSP
CỬA HÀNG THỜI TRANG
XƯỞNG THỜI TRANG
XÍ NGHIỆP PHÙ TRỢ
XÍ NGHIỆP DỊCH VỤ VÀ ĐỜI SỐNG
XÍ NGHIỆP I
XÍ NGHIỆP II
XÍ NGHIỆP III
XÍ NGHIỆP IV
XÍ NGHIỆP V
CHI NHÁNH HẢI PHÒNG
XÍ NGHIỆP MAY NAM HẢI
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
LỜI NÓI ĐẦU
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường hiện nay,
để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp, đòi

động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp để tái sản xuất
sức lao động bù đắp hao phí của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Để hiểu sâu hơn về khái niệm tiền lương chúng ta có các khái niệm
liên quan: tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế và tiền lương tối thiểu.
* Tiền lương danh nghĩa
Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động thông
qua hợp đồng thoả thuận giữa hai bên theo qui định của pháp luật. Số tiền
này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động, hiệu quả làm
việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc,…của
họ ngay trong quá trình lao động.
* Tiền lương thực tế
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng
và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua
được bằng tiền lương danh nghĩa của họ.
Tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa
mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch
vụ cần thiết mà người lao động muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lương danh
nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện qua công thức sau:
I
LTT
= I
LDN
/ I
P
Trong đó:
I
LTT
: Chỉ số tiền lương thực tế
2
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung

Vì vậy tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát
triển lực lượng lao động. Người lao động dùng tiền lương để trang trải các
3
chi phí trong gia đình, ngoài ra còn dùng để tích luỹ. Nhưng trước hết tiền
lương phải đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của người lao
động. Có thể nói đây là một tác động quan trọng nhất, trực tiếp nhất của tiền
lương. Vì "chức năng kinh tế quan trọng nhất của tiền lương là đảm bảo tái
sản xuất sức lao động".
Tiền lương phù hợp với hao phí lao động mà người lao động đã bỏ ra
trong quá trình sản xuất, sẽ gắn bó họ với công việc với tinh thần trách nhiệm
cao hơn. Được nhận tiền lương phù hợp với sức lao động mình bỏ ra, người
lao động tự cảm thấy mình phải không ngừng nâng cao bồi dưỡng trình độ về
mọi mặt.
Tiền lương có vai trò điều phối lao động. Với tiền lương thoả đáng
người lao động tự nguyện nhận mọi công việc mình được giao dù ở đâu hay
bất cứ công việc nào.
Để cho tiền lương thực sự là đòn bẩy kinh tế quan trọng phát huy được
vai trò tích cực cho người lao động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn
đúng hình thức trả lương cho phù hợp với những đặc điểm riêng cho doanh
nghiệp mình, phù hợp với quy định trả lương theo đúng giá trị sức lao động
đã hao phí,giải quyết hài hoà lợi ích của người lao động và của doanh
nghiệp .
2.CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG CỦA CÔNG TY.
2.1. Các hình thức tiền lương
Trong thực tiễn của đời sống xã hội và trong quan hệ lao động vẫn tồn
tại 2 hình thức trả lương phổ biến:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm.
- Hình thức trả tiền lương theo thời gian.
Việc lựa chọn áp dụng hình thức tiền lương nào trong tổ chức lao động
tuỳ thuộc yêu cầu sản xuất, nghĩa là:

Trong đó:
T: Số lương phải trả cho người lao động
V
đg
: Đơn giá tiền lương trên một đơn vị sản phẩm
q: Số lượng sản phẩm hoàn thành
Hình thức này áp dụng cho những người lao động trực tiếp sản xuất mà
quá trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, quan hệ giữa năng
5
suát lao động và thu nhập tiền lương sản phẩm của công nhân được phản ánh
rõ rệt. Tiền lương của họ do chính năng suất lao động cá nhân quyết định.
Hình thức trả lương này phù hợp với nguyên tắc phân phối lao động,
gắn được thu nhập tiền lương với kết quả lao động với năng suất, với chất
lượng lao động cá nhân do đó khuyến khích người lao động phấn đấu tăng
năng suất lao động.
Hình thức trả lương này đơn giản, dễ tính, công nhân, có thể tính được
số tiền lương của mình. Tuy vậy, hình thức tiền lương này có nhược điểm là
công nhân ít quan tâm đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu, coi nhẹ việc tiết
kiệm chi phí sản xuất, ít quan tâm đến việc bảo quản máy móc, thiết bị, nếu
thiếu những quy định chặt chẽ.
*. Trả lương theo sản phẩm nhóm lao động
Việc tiến hành chia lương cho từng người lao động trong nhóm căn cứ
vào lương cấp bậc và thời gian làm việc thực tế của từng người người làm
việc trong tháng.Hình thức này áp dụng đối với công việc đòi hỏi một nhóm
lao động lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền,
sửa chữa cơ khí .
Trả lương theo sản phẩm nhóm có tác dụng khuyến khích lao động trong
nhóm, nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng
của nhóm. Song, nhược điểm là sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp
tác động đến tiền lương của họ nên ít kích thích sự nâng cao lao động cá

phẩm. Nó có tác dụng kích thích công nhân tích cực làm việc, tăng năng suất
lao động, phấn đấu vượt định mức được giao. Nhưng người lao động ít quan
tâm đến máy móc, không tiết kiệm nguyên vật liệu.
Mặt khác, các doanh nghiệp cần chú ý không nên áp dụng rộng rãi chế
độ này vì tốc độ tăng tiền lương của công nhân nhanh hơn tốc độ tăng năng
suất lao động. Thời gian trả lương không nên quá ngắn (hàng tuần) để tránh
tình trạng công nhân nhận lương luỹ tiến nhưng không đạt định mức tháng.
*. Hình thức trả lương khoán
Hình thức trả lương khoán được áp dụng trong trường hợp sản phẩm hay
công việc khó giao chi tiết, mà phải giao nộp cả khối lượng công việc, hay
nhiều việc tổng hợp phải làm trong một thời gian nhất định, với yêu cầu chất
lượng nhất định, trả lương khoán có thể cho tạm ứng lương theo phần khối
lượng đã hoàn thành trong từng đọt và thanh toán lương sau khi đã làm xong
toàn bộ khối lượng công việc được hợp đồng giao khoán.
Đơn giá khoán xác định theo đơn vị thi công hoặc cũng có thể trọn gói
cho cả khối lượng công việc hay công trình.
7
Yêu cầu của chế độ trả lương này đơn giá phải tính toán chặt chẽ và phải
có bản hợp đồng giao khoán. Nội dung hợp đồng giao khoán phải rõ ràng
công việc, khối lượng giao khoán, điều kiện lao động định mức, đơn giá tổng
số tiền lương khoán, điều kiện lao động và kết thúc ... Nếu tập thể nhận
khoán thì chia tiền lương như hình thức trả lương tập thể.
Ưu điểm của chế độ này là: khuyến khích người lao động hoàn thành
công việc vượt thời gian và đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, nếu sự kiểm tra
kém thì hiệu quả thấp.
*. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng, là chế độ trả lương theo sản
phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng, nhằm tác động vào những khâu yếu của
dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy năng
suất lao động. Với chế độ trả lương này, toàn bộ sản phẩm đều được trả một

- Lương tháng: là tiềnlương trả cho người lao động theo tháng, theo bậc
lương đã sắp xếp. Người lao động hưởng lương tháng sẽ nhận tiền lương theo
cấp bậc, chức vụ hay cấp hàm và thời gian làm việc thực tế của họ.
Hình thức trả lương này bao gồm:
- Lương tháng = Mức lương theo bảng của nhà nước + Các khoản phụ
cấp (nếu có).
- Lương ngày: là tiền lương tính trả cho người lao động theo mức lương
ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng.
Lương ngày =
Lương tháng
=
Lương tháng
Ngày chế độ tháng 22 ngày làm việc theo chế độ
Mức lương dùng để trả theo chế độ với người lao động theo hợp
đồng thời hạn từ 1 tháng trở lên, thường thì cơ quan hợp đồng lao động
hay doanh nghiệp tổ chức chấm công theo ngày và trả gộp 15 ngày 1 lần
cùng kì với người hưởng lương tháng. Đối với lao động làm công nhật
hoặc làm công công việc có tính tạm thời theo mùa vụ, làm công việc có
tính thời hạn dưới 3 tháng thì có thể gộp 1 số ngày để trả 1 lần, cũng có thể
trả ngay sau mỗi ngày làm việc nhưng phải tính thêm cho họ khoản bảo
hiểm xã hội, ít nhất 15% vào tiền lương để người lao động tự lo vấn đề bảo
hiểm xã hội cho mình.
- Lương giờ để trả cho số giờ làm việc, hoặc số giờ làm thêm:
Lương giờ =
Lương ngày
=
Lương ngày
Độ dài lao động 8 giờ
*. Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
9

Tổng số tiền lương trích trước
theo kế hoạch cả năm
Nhằm đảm bảo cho giá thành sản phẩm và chi phí quản lý, chi phí
bán hàng được chính xác, số tiền nhằm phân bổ trước về tiền lương nghỉ
phép năm được điều chỉnh vào những tháng cuối năm tăng thêm hoặc giảm
bớt tuỳ thuộc vào số tiền lương nghỉ phép thực tế của toàn thể người lao
động trong doanh nghiệp.
Nếu người lao động vì lý do gì đó mà không nghỉ phép được thì thanh
toán 100% lương cấp bậc theo số ngày nghỉ phép còn lại mà người đó chưa
nghỉ.
Khi người lao động làm thêm giờ thì phải có phiếu báo làm đêm làm
thêm giờ để có căn cứ tính lương thêm giờ và phụ cấp làm đêm. Khi người
lao động làm việc ngoài giờ tiêu chuẩn thì giờ làm thêm được trả bằng
10
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
150% tiền lương giờ tiêu chuẩn nếu làm thêm vào ngày thường và được trả
200% nếu vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ.
Lương
làm thêm
giờ
=
Lương cấp bậc tháng
x
Số
công
làm
thêm
giờ
x
30%

đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất của doanh
nghiệp thì việc quản lý và chi tiêu quỹ tiền lương phải được đặt trong mối
quan hệ phục vụ tốt cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và chi tiêu tiết kiệm và hợp lý quỹ tiền lương.
2.3. Quỹ bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.
12
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Quỹ BHXH: được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên
tổng số quỹ tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu vực ...)
của công nhân viên thực tế phát sinh trong tháng. Theo chế độ hiện hành,
tỷ lệ trích BHXH là 20%. Trong đó 15% do đơn vị hoặc chủ sử dụng lao
động nộp được tính vào chi phí kinh doanh, 5% còn lại do người lao động
đóng góp và được tính trừ vào thu nhập người lao động. Quỹ BHXH được
chi tiêt cho các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Quỹ này do cơ quan BHXH quản
lý.
Quỹ BHYT : được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám chữa
bệnh, thuốc chữa bệnh, viện phí... cho người lao động trong thời gian ốm
đau, sinh đẻ... Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định
trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân viên
thực tế phát sinh trong tháng. Tỷ lệ trích BHYT hiện hành là 3% trong đó
2% trích vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của người lao
động.
Kinh phí công đoàn: Hình thành do việc trích lập theo một tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân
viên thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Tỷ
lệ trích kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2%.
Số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích được một phần nộp lên cơ
quan quản lý công đoàn cấp trên một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu
cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.

Đức thì đến năm 1961 tăng thêm Mông Cổ, Pháp, Tiệp Khắc và Thuỵ
Điển. Cũng trong năm 1961 Công ty chuyển về 250 Minh Khai, địa chỉ
hiện nay của Công ty.
Năm Giá trị tổng sản lượng (đồng) Tỷ lệ (%)
1966 3.758.600 101,38
1973 5.696.900 100,77
1974 6.596.036 102,28
1975 7.725.958 102,27
14

Trích đoạn NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CHUNG TOÀN CÔNG TY MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status