Công tác quản lý tiền lương của công ty cổ phần may thăng long. - Pdf 47

Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
LỜI NÓI ĐẦU
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường hiện nay, để
đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý phù hợp với sự biến đổi của
thị trường cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Việc đảm bảo
lợi ích cá nhân của người lao động là một động lực cơ bản trực tiếp khuyến
khích người lao động đem hết khả năng của mình lỗ lực phấn đấu sáng tạo
trong sản xuất. Một trong những công cụ hiệu quả nhất nhằm đạt tới mục tiêu
trên là hình thức trả lương cho người lao động. Tiền lương thực sự phát huy
được tác dụng của nó khi các hình thức tiền lương được áp dụng hợp lý nhất,
sát với tình hình thực tế của các đơn vị sản xuất kinh doanh, đúng với sự
cống hiến của người lao động, công bằng và hợp lý giữa những người lao
động trong doanh nghiệp. Có như vậy tiền lương mới thực sự trở thành đòn
bẩy kinh tế kích thích sản xuất phát triển. Việc trả lương theo lao động là tất
yếu khách quan. Nhưng lựa chọn hình thức trả lương nào cho phù hợp với
điều kiện đặc điểm sản xuất của từng ngành, từng doanh nghiệp. Để thúc đẩy
sản xuất, làm cho người lao động luôn quan tâm đến kết quả lao động của
mình, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp. Để
góp phần tạo nên lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao
động.
Qua quá trình kiến tập tại Công ty cổ phần may Thăng Long với kiến
thức đã học tại trường, em xin trình bầy một số vấn đề về việc tổ chức tiền
lương trong Công ty cổ phần may Thăng Long cùng với sự giúp đỡ của thầy
giáo Nguyễn Trung Kiên. Nếu có những gì sai sót, em rất mong sự cảm thông
và mong được sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy và những người đã giúp em
hoàn thành bài báo cáo này.
1 1
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

LTT
: Chỉ số tiền lương thực tế
2 2
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
I
LDN
: Chỉ số tiền lương danh nghĩa
I
P
: Chỉ số giá cả
* Tiền lương tối thiểu
Theo điều 56 Bộ Luật Lao Động: “Mức lương tối thiểu là mức tiền
lương trả cho người lao động làm những công việc đơn giản nhất trong điều
kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động đơn giản và một phần tái sản
xuất mở rộng. Đó là những công việc thông thường mà một người lao động
có sức khoẻ bình thường, không qua đào tạo chuyên môn…cũng có thể làm
được”.
Tiền lương tối thiểu được Nhà nước qui định theo từng thời kỳ dựa
trên trình độ phát triển về kinh tế – xã hội của đất nước và yêu cầu tái sản
xuất sức lao động xã hội. Tiền lương tối thiểu được xác định qua phân tích
các chi phí về ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chi phí bảo hiểm, y tế, giáo dục đào tạo,
…Theo nghị định mới nhất của năm 2005 thì mức lương tối thiểu chung là
350.000 đồng/ người/ tháng.
1.2. Vai trò chức năng của tiền lương
Trong nền kinh tế quốc dân thì tiền lương được coi là một trong những
đòn bẩy kinh tế quan trọng mà không có một quốc gia nào lại không quan
tâm tới và nó cũng là một công cụ quản lý ở các đơn vị sản xuất kinh doanh,
là một động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển. Trong phạm vi doanh
nghiệp, tiền lương có vai trò quan trọng trong việc kích thích lao động tăng
năng suất, nâng cao trách nhiệm của người lao động với quá trình sản xuất và

tại 2 hình thức trả lương phổ biến:
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm.
- Hình thức trả tiền lương theo thời gian.
Việc lựa chọn áp dụng hình thức tiền lương nào trong tổ chức lao động
tuỳ thuộc yêu cầu sản xuất, nghĩa là:
+ Phù hợp tính chất công việc và trình độ tổ chức công việc ở nơi làm việc.
4 4
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
+ Phải có tác dụng khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả
lao động, kết quả sản xuất.
+ Làm cho tiền lương thể hiện rõ chức năng đòn bẩy kinh tế trong việc
kích thích sản xuất, kinh doanh.
+ Trả lương phải đem lại hiệu quả kinh tế.
2.1.1. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương dựa trên cơ sở; số lượng
sản phẩm giao nộp của người lao động đơn giá trả lương và chất lượng sản
phẩm đã quy định của doanh nghiệp. Đây là hình thức trả lương cơ bản mà
hiện nay được các đơn vị áp dụng chủ yếu trong khu vực sản xuất vật chất.
Tiền lương của công nhân viên phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của một đơn
vị sản phẩm và số sản phẩm sản xuất ra.
Hình thức trả lương này phù hợp với nguyên tắc phân phối lao động,
gắn thu nhập của người lao động với kết quả lao động, khuyến khích lao
động hăng say lao động. Hình thức này tỏ ra có hiệu quả hơn so với việc trả
lương theo thời gian, do đó xu hướng hiện nay, hình thức trả lương theo sản
phẩm được mở rộng phổ biến.
Tuy nhiên, việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài
liệu về hạch toán kết quả lao động (như phiếu xác nhận lao động công việc
hoàn thành ) và đơn giá tiền lương sản phẩm của doanh nghiệp đối với từng
loại sản phẩm hay công việc.
Hình thức trả lương theo sản phẩm có thể được thực hiện theo nhiều

lao động lắp ráp thiết bị, sản xuất ở các bộ phận làm việc theo dây chuyền,
sửa chữa cơ khí .
Trả lương theo sản phẩm nhóm có tác dụng khuyến khích lao động trong
nhóm, nâng cao trách nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng
của nhóm. Song, nhược điểm là sản phẩm của mỗi lao động không trực tiếp
tác động đến tiền lương của họ nên ít kích thích sự nâng cao lao động cá
nhân. Mặt khác, chưa xác định được sự cố gắng của mỗi cá nhân trong quá
trình lao động nên chưa tiến hành được phân phối theo lao động và chất
lượng sản phẩm.
*. Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp chỉ áp dụng đối với công nhân phụ
mà công việc của họ ảnh hưởng nhiếu đến công việc của công nhân chính
(người hưởng lương theo sản phẩm) như: công nhân sửa chữa, công nhân
điện....
DG =
Trong đó:
DG: Đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp
L: Lương cấp bậc của công nhân phụ
6 6
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Q: Mức sản lượng của công nhân chính
M: Mức phục vụ của công nhân phụ
Cách trả lương này kích thích công nhân phục vụ tốt hơn cho công việc
lao động. Nhưng vì tiền lương phụ thuộc kết quả lao động của công nhân
chính, do đó việc trả lương chưa thật chính xác với công nhân phụ.
*. Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
Theo cách trả lương này thì tiền lương gồm 2 phần:
+ Phần 1: Tiền lương hoàn thành mức được giao
+ Phần 2: Căn cứ vào số lượng vượt định mức thì số lượng vượt định
mức càng nhiều số tiền thưởng càng lớn.

công việc vượt thời gian và đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, nếu sự kiểm tra
kém thì hiệu quả thấp.
*. Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng.
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng, là chế độ trả lương theo sản
phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng, nhằm tác động vào những khâu yếu của
dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy năng
suất lao động. Với chế độ trả lương này, toàn bộ sản phẩm đều được trả một
đơn giá cố định, còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào mức độ hoàn thành và hoàn
thành vượt mức, các chỉ tiêu về chất lượng và số lượng theo tiêu chuẩn của
chế độ tiền thưởng để thưởng và tiền lương sản phẩm có thưởng sẽ bao gồm
cả tiền lương.
Với chế độ trả lương này cần quy định đúng đắn chỉ tiêu tiền thưởng,
điều kiện thưởng và tỉ lệ thưởng và xác định nguồn tiền thưỏng.
2.1.2 Trả lưởng theo thời gian
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động, vào cấp bậc
lương để tính lương cho từng người lao động. Hình thức này chỉ áp dụng chủ
yếu cho lao động gián tiếp, còn với lao động trực tiếp chỉ áp dụng với bộ
phận không áp dụng được định mức sản phẩm.
Hình thức trả lương theo thời gian được áp dụng với viên chức nhà nước
thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, những người hoạt động trong lĩnh vực
quản lý, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh. Với công nhân sản xuất chỉ áp dụng cho những người làm công việc
không thể định mức được sản phẩm lao động chính xác, hoặc do tính chất của
sản xuất nếu trả lương theo sản phẩm sẽ không đạt chất lượng. Chẳng hạn,
công việc sửa chữa, công việc sản xuất hay pha chế thuốc chữa bệnh ...
Như vậy trả lương theo thời gian là dựa vào độ dài thời gian làm việc,
trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật và mức độ phức tạp của công việc.
8 8
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Nếu ta so sánh với trả lương theo sản phẩm thì trả lương theo thời gian có thể

Lương giờ =
Lương ngày
=
Lương ngày
Độ dài lao động 8 giờ
*. Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
9 9
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn và tiền
thưởng thường xuyên từ quỹ (vì đảm bảo ngày công, giờ công ...)
Tiền lương =
Tiền lương theo thời gian
lao động đơn giản
+ Tiền thưởng
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm là dễ tính, dễ trả lương
cho người lao động. Nhưng bản thân hình thức tiền lương theo thời gian
cũng còn nhiều hạn chế như chưa gắn chặt tiền lương với kết quả chất
lượng lao động.
2.1.3. Lương nghỉ phép và các khoản phụ cấp làm đêm, làm thêm.
Theo chế độ hiện hành, khi người lao động nghỉ phép thì được trả
100% tiền lương theo cấp bậc. Tiền lương nghỉ phép và tiền lương phụ cấp
của người lao động. Hiện nay, một năm một người được nghỉ phép 12
ngày, nếu làm việc 5 năm liên tục thì tính thêm một ngày vào thời gian
nghỉ phép, từ 30 năm trở lên thì nghỉ thêm 6 ngày. Tiền lương nghỉ phép
được đưa vào chi phí sản xuất từng tháng. Nếu doanh nghiệp không chỉnh,
bố trí cho người lao động nghỉ phép ổn định đều đặn giữa các tháng trong
năm thì doanh nghiệp phải trích trước tiền lương nghỉ phép để đảm bảo chi
phí ổn định giữa các tháng trong năm.
Tỷ lệ trích trước
tiền lương

x
Số
công
làm
thêm
giờ
x
30%
(40%)
22
11 11
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
2.2. Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo
công nhân viên của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý chi trả lương.
Quỹ tiền lương bao gồm:
- Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền lương
khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm
nghĩa vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ.
- Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
Quỹ tiền lương kế hoạch trong doanh nghiệp còn được tính cả các
khoản trợ cấp BHXH trong thời gian người lao động ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động. Trong doanh nghiệp để phục vụ cho công tác hạch toán, tiền
lương có thể được chia thành hai loại:
Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong
đó chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ.
Tiền lương chính: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian

2% trích vào chi phí kinh doanh và 1% trừ vào thu nhập của người lao
động.
Kinh phí công đoàn: Hình thành do việc trích lập theo một tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp của công nhân
viên thực tế phát sinh trong tháng, tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Tỷ
lệ trích kinh phí công đoàn theo chế độ hiện hành là 2%.
Số kinh phí công đoàn doanh nghiệp trích được một phần nộp lên cơ
quan quản lý công đoàn cấp trên một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu
cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.
Tiền lương phải trả cho người lao động, cùng các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCD hợp thành chi phí nhân công trong tổng chi phí sản xuất
kinh doanh.
Ngoài chế độ tiền lương và các khoản trích theo lương doanh nghiệp
còn xây dựng chế độ tiền thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền thưởng bao gồm thưởng thi đua (lấy từ
quỹ khen thưởng) và thưởng trong sản xuất kinh doanh : thưởng nâng cao
chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát sinh sáng
kiến ...(lấy từ quỹ tiền lương) .
13 13
Đề án môn học Nguyễn Thị Việt Dung
PHẦN II
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG
1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần may
Thăng Long
1.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của Công ty
*. Tình hình Công ty những năm đầu thành lập
Ngày 8 tháng 5 năm 1958 Bộ Ngoại thương chính thức ra quyết định
thành lập Công ty may mặc xuất khẩu thuộc Tổng Công ty xuất nhập khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status