LUẬN VĂN “Hoàn thiện qui trình nhập
khẩu xe máy tại Công ty
quan hệ quốc tế - đầu tư sản
xuất “
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, hội nhập với nền kinh tế
khu vực và thế giới. Để bắt kịp với nền kinh tế thế giới, tại đại hội Đảng VIII,
Đảng đã chủ trương : “ Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại tự chủ, mở
rộng đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các
nước, các khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi giải quyết các vấn đề còn tồn tại và các
tranh chấp bằng thương lượng.
Trên cơ sở đó hoạt động thương mại quốc tế (TMQT) ở nước ta ngày
càng phát triển, vì TMQT là tất yếu khách quan tạo ra hiệu quả cao nhất trong
nền sản xuất của mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Ơ nước ta, việc
nhập khẩu đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động xuất khẩu ở nước ta còn hạn chế mà chủ yếu là nhập khẩu,
có thể là nhập thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất,nhập nguyên vật liệu để
gia công xuất khẩu, nhập tư liệu về sản xuất phục vụ tiêu dùng trong nước
hoặc nhập khẩu các thiết bị hoặc sản phẩm phục vụ đời sống dân sinh. Việt
CHỮ VIẾT TẮT
2
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
1. Công ty quan hệ quốc tế - đầu tư sản xuất: Công ty QHQT-ĐTSX
2. Phương án kinh doanh : PAKD
3. Thương mại quốc tế : TMQT
4. Giám đốc : GĐ
5. Nhập khẩu : NK.
6. Xuất khẩu : XK
Theo nghị định số 57/1998/NĐ-CP, hoạt động nhập khẩu hàng hoá của
thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng
mua bán hàng hoá bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu
hàng hoá.
1.
Vai trò của hoạt động nhập khẩu hàng hoá đối với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân:
- Nhập khẩu để mở rộng khả năng sản xuất, tiêu dùng trong nước, nhằm
nâng cao đời sống nhân dân .
- Nhập khẩu để chuyển giao công nghệ, đưa công nghệ tiên tiến của thế
giới áp dụng vào sản xuất tiêu dùng trong nước, tạo sự nhảy vọt của sản
xuất trong nước, nhằm rút ngắn khoảng cách về trình độ, công nghệ
trong nước với các nước trên thé giới .
- Nhập khẩu để xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ nền kinh tế đóng tự
cung tự cấp, từ đó thúc đẩy phát triển đa dạng và đồng bộ các loại thị
trưòng như thị trưòng tư liệu sản xuất, thị trường vốn, thị trưòng lao
động Mặt khác nó còn liên kết thống nhất giữa các thị trường trong và
ngoài nước trên thế giới, tạo điều kiện tốt cho quá trình hội nhập và
phát triển kinh tế trên thế giới .
- Nhập khẩu tạo ra cơ hội cho dân chúng mở mang dân trí , có thể theo
kịp và hoà nhập với nếp sống văn minh của thế giới .
- Nhập khẩu là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng trong nước với thị
trưòng thế giới, đem lại những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến
của thế giới góp phần thúc đẩy quá trình CNH-HĐH đất nước . Thực
hiện tốt công tác nhập khẩu sẽ đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của sản
xuất trong nước, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu . Ngược lại nếu thực
4
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
hiện không tốt sẽ gây nên sự mất cân đối kinh tế, rối loạn thị trường
5
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
biến động, nắm bắt thời cơ, biến nó thành những cơ hội hấp dẫn, doanh nghiệp
phải luôn theo sát, am hiểu thị truờng thông qua công tác nghiên cứu thị trường.
Phải luôn luôn trả lời được câu hỏi xem nhu cầu thị trường và tình hình tiêu thụ
hàng hoá của công ty sẽ như thế nào?
Nghiên cứu thị trường nước ngoài: Việc nghiên cứu này khó khăn hơn so
với nghiên cứu thị trường trong nước, và có thể áp dụng nhiều phương pháp
như tham quan triển lãm, hội chợ, tìm hiểu thông qua sách báo, hoặc cơ quan
tư vấn. Doanh nghiệp cần phải nắm rõ về tình hình kinh tế xã hội và những
yếu tố môi trường khác. Nghiên cứu rõ sản phẩm sẽ nhập khẩu về yếu tố chất
lượng, giá cả với phương thức tham quan, thông qua hội chợ - triển lãm
Trong đó, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý tới yếu tố giá cả, vì nó là biểu hiện
bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả là yếu tố quyết định tới phương án lựa
chọn nguồn cung cấp vì nó ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp. Do vậy
cần phải nghiên cứu thị trường nước ngoài và nghiên cứu giá ở từng thời
điểm, từng lô hàng, các loại giá cả các nhân tố tạo nên sự biến động của giá
cả.
Lựa chọn nguồn cung cấp trong nhập khẩu hàng hoá: Nghiên cứu thị
trường giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu hàng hoá lựa chọn được
phương thức buôn bán, điều kiện giao dịch thích ứng. Lựa chọn được nguồn
cung cấp là một công việc hết sức quan trọng. Một nhà nhập khẩu có thể hoàn
tất công việc xác định dúng sản phẩm đấp ứng đúng nhu cầu của mình thì việc
đạt tới mục tiêu này hoàn toàn phụ thuộc vào vấn đề lựa chọn nguồn cung
cấp. người nhập khẩu phải chắc chắn rằng nhà cung cấp giao hàng đúng theo
thời gian cam kết. Do vậy, việc lựa chọn một người cung cấp tin cậy có uy
tín, năng lực sẽ quyết định đến hiệu quả của quá trình nhập khẩu và được các
nhà nhập khẩu rất chú trọng.
1.2: Lập phương án kinh doanh :
Chào hàng
(offer)
Hỏi giá
(Inquiry)
Hoàn giá
(Counter-offer)
Chấp nhận
(Acceptance)
Xác nhận
(Confirmation)
- Hỏi giá : là bước khởi đầu vào giao dịch. Hỏi giá là việc người mua đề nghị
người bán cho biết giá cả và các điều kiện thương mại cần thiết khác để mua
7
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
hàng. Người hỏi giá có thể hỏi giá tới các nhà cung cấp tiềm năng để nhận
được những báo giá và đánh giá các báo giá để lựa chọn những báo giá thích
hợp nhất, từ đó chính thức lựa chọn người cung cấp . Nội dung cơ bản của
một hỏi giá là yêu cầu người cung cấp cho biết các thông tin chi tiết về hàng
hoá, qui cách phẩm chất, số lượng, bao bì , điều kiện giao hàng, giá cả, điều
kiện thanh toán và các điều kiện thương mại khác.
- Chào hàng : là lời đề nghị kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá được gửi đi
cho một người nào đấy. Chào hàng có thể do người bán hoặc do người mua
phát ra. Chào hàng có hai loại:
+ Chào hàng cố định: Là loại chào hàng mà trong thời gian hiệu lực của
2.2 : Đàm phán kí kết hợp đồng nhập khẩu:
Đàm phán : là một quá trình trong đó các bên tiến hành thương lượng thảo
luận về các mối quan tâm chung và những quan điểm còn bất đồng để đi tới
một thoả thuận mà các bên cùng có lợi.
Một số nguyên tắc cơ bản trong đàm phán :
- Tập trung vào quyền lợi chứ không phải tập trung vào lập trường quan điểm.
- Luôn đưa ra quan điểm có lợi cho cả hai bên.
- Luôn bảo vệ những quan điểm về sự công bằng hay những chuẩn mực.
Các hình thức đàm phán:
-Đàm phán qua thư : thường đòi hỏi nhiều thời gian chờ đợi, có thể cơ hội
mua bán sẽ qua đi, nhưng hình thức này tiết kiệm được chi phí.
- Đàm phán qua điện thoại : giúp người giao dịch tiến hành nhanh chóng
đúng thời cơ cần thiết, nhưng chi phí cao và thường hạn chế về mặt thời gian.
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp :là hình thức đàm phán mà cả hai bên
gặp gỡ trực tiếp nhau để thống nhất các vấn đề. Việc mua bán trực tiếp gặp gỡ
nhau tạo điều kiện cho hiểu biết nhau hơn và duy trì quan hệ lâu dài. Trong
đàm phán giao dịch nguời ta thường dùng hình thức này.
Tiến trình đàm phán gồm các bước sau:
- Chuẩn bị đàm phán: là quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến
hành đàm phán. Các nhà đàm phán phải chuẩn bị kĩ nội dung sau:
9
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
+ Chuẩn bị nội dung và xác định mục tiêu: trong nội dung cần xác định
các phương án đàm phán, các mục tiêu cần đạt được, những mục tiêu cần ưu
tiên tối đa các nỗ lực để đạt được.
+ Chuẩn bị số liệu thông tin về :
• Thông tin hàng hoá: tìm hiểu đặc điểm hàng hoá, công dụng, tính
chất các yêu cầu thị trường về mặt hàng đó như chủng loại kiểu
mốt
người đàm phán phải tiến hành phân tích, so sánh mục tiêu, quyền lợi, điểm
mạnh, điểm yếu của đối phương với mình để đưa ra chiến lược thuyết phục
đối phương nhượng bộ theo quan điểm của mình, bảo vệ quyền lợi của mình
làm đối phương chấp nhận các quan điểm lập trường của mình, thực hiện các
mục tiêu đề ra.
+ Nhượng bộ và thoả thuận: kết quả của quá trình đàm phán là kết quả
của sự thoả hiệp và nhượng bộ lẫn nhau. Sau giai đoạn thuyết phục sẽ xác
định được những mâu thuẫn còn tồn tại, giữa các bên cần phải có sự nhượng
bộ, thoả thuận thì mới đạt được thành công. Người đàm phán phải biết kết
hợp chặt chẽ giữa nhượng bộ của mình và đối phương để đàm phán được
thành công mà các bên đều có lợi, đặc biệt là đạt được mục tiêu đề ra.
Kết thúc đàm phán : có thể xảy ra các trường hợp sau
- Trong đàm phán đối phương không kí kết thoả thuận hoặc kết thúc
bằng những thoả thuận bất hợp lý mà ta không thể chấp nhận được
thì tốt nhất nên rút khỏi đàm phán, không nên bực tức nóng giận đổ lỗi
cho đối phương mà tìm lý lẽ giải thích một cách hợp lí về việc ta không
thể tiếp tục đàm phán mà vẫn giữ được mối quan hệ tốt đẹp .
- Các bên tiến hành kí kết hợp đồng, hoặc các bên đã đạt được những
thoả thuận nhất định và cần có những đàm phán tiếp theo mới có thể
dẫn đến kí kết hợp đồng thì các bên phải xác nhận những thoả thuận đã
đạt được.
Sau mỗi cuộc đàm phán phải đánh giá kết quả cuộc đàm phán so với
mục tiêu đã đề ra để rút ra những bài học kinh nghiệm cho những cuộc
đàm phán tiếp theo.
3.Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu của các doanh nghiệp :
11
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
Sau khi kí kết hợp đồng, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đã được xác
Việc thuê phương tiện vận tải phục vụ cho chuyên chở hàng hoá xuất
nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với các tác nghiệp của qui trình thực
hiện hợp đồng. Nó trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng, sự an toàn của
hàng hoá và có liên quan nhiều đến nội dung của hợp đồng. Chính vì vậy, khi
thuê phương tiện vận tải cần phải am hiểu và nắm chắc nghiệp vụ, có thông
tin về thị trường thuê phương tiện vận tải, tinh thông các điều kiện và cũng
cần có kinh nghiệm thực tế.
3.3. Mua bảo hiểm cho hàng hoá:
Bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được
bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do
những rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã mua
cho đối tượng đó một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Người nhập khẩu phải
mua bảo hiểm theo các điều kiện khác nhau, có nhiều điều kiện bảo hiểm, trên
thế giới và Việt Nam hiện nay thường áp dụng ba điều kiện bảo hiểm chính
sau:
- Điều kiện bảo hiểm A : bảo hiểm mọi rủi ro
- Điều kiện bảo hiểm B : bảo hiểm có tổn thất riêng
- Điều kiện bảo hiểm C : điều kiện tối thiểu, bảo hiểm miễn tổn thất
riêng
Ngoài ra còn một số điều kiện bảo hiểm phụ, điều kiện bảo hiểm đặc biệt
như chiến tranh, bảo hiểm đình công
Khi mua bảo hiểm cho hàng hoá cần căn cứ vào :
- Điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng: một nguyên tắc có tính cơ bản là
rủi ro về hàng hoá trong quá trình vận chuyển thuộc về người xuất khẩu hay
nhập khẩu thì người đó cần xem xét để mua bảo hiểm cho hàng hoá.(NgoạI
trừ trường hợp CIP và CIF người bán phảI có nghĩa vụ bảo hiểm cho hàng
hoá ở phạm vi tối thiểu).
- Hàng hoá vận chuyển : nếu lô hàng có giá trị lớn, dễ chịu tác động của quá
- Khai báo hải quan: nhằm mục đích để cơ quan hải quan kiểm tra tính
hợp pháp của hợp đồng kinh doanh nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu và
làm cơ sở tính thuế hoặc miễn giảm thuế. Do đó, doanh nghiệp phải
khai chi tiết về hàng hoá lên tờ khai hải quan gồm các nội dung sau:
14
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
Tên hàng, kí mã hiệu hoặc mã số, số lượng, khối lương, đơn giá, tổng
giá trị và xuất xứ hàng hoá và nộp tờ khai cùng các chứng từ liên
quan khác.
- Xuất trình hàng hoá: Doanh nghiệp phải xuất trình hàng hoá tại địa
điểm qui định và tạo mọi điều kiện để cơ quan hải quan kiểm tra hàng
hoá thực tế.
- Thực hiện các quyết định về hải quan: Sau khi kiểm tra giấy tờ và hàng
hoá, hải quan sẽ có các quyết định sau:
• Cho hàng qua biên giới
• Cho hàng qua biên giơí có điều kiện nhưng phải sửa chữa khắc
phục lại, phải nộp thuế Nhập khẩu
• Không được phép nhập khẩu.
Trách nhiệm của chủ hàng là nghiêm chỉnh thực hiện các quyết định
trên.
3.5. Giao nhận hàng hoá:
Đối với việc nhận hàng thì gồm rất nhiều hình thức tuỳ và phương thức
chuyên chở hàng hoá, gồm có:
• Giao nhận hàng từ tàu biển.
• Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng container.
• Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường sắt
• Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường bộ.
• Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường hàng không.
container. Khi được chấp thuận, chủ hãng kiểm tra niêm phong, kẹp chì
của container, vận chuyển container về kho riêng, sau đó hoàn trả
container rỗng cho hãng tàu.
Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường sắt:
- Nếu hàng đầy toa xe, người nhập khẩu nhận cả toa xe, kiểm tra niêm
phong kẹp chì, làm thủ tục hải quan, dỡ hàng, kiểm tra hàng hoá và tổ
chức vận chuyển hàng hoá về kho riêng.
16
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
- Nếu hàng hoá không đủ toa xe riêng, người nhập khẩu nhận hàng tại
trạm giao hàng của ngành đường sắt, tổ chức vận chuyển hàng hoá về
kho riêng.
17
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường bộ:
- Nếu tại cơ sở của người nhập khẩu( thường là đầy một xe hàng), nếu
người nhập khẩu chịu trách nhiệm dỡ hàng xuống và nhận hàng.
- Nếu tại cơ sở của người vận tải, người nhập khẩu phải kiểm tra hàng và
tổ chức vận chuyển về kho của mình.
Giao nhận hàng chuyên chở bằng đường hàng không:
Người nhập khẩu nhận hàng tại trạm giao nhận hàng không, tổ chức
vận chuyển hàng về kho riêng của mình.
Kiểm tra hàng nhập khẩu:
Sau bước nhận hàng hoá là bước kiểm tra niêm phong kẹp chì trước khi
dỡ hàng ra khỏi phương tiện vận chuyển. Nếu hàng có tổn thất hoặc không
xếp theo lô vận đơn, thì cơ quan ga cảng phải mời bên giám định lập biên bản
giám định dưới tàu. Nếu hàng chuyên chở bị thiếu hụt, mất mát thì phải có
biên bản kết toán nhận hàng với tầu.
mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng.
Phương thức nhờ thu:
Phương thức nhờ thu là phương thức người bán sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng sẽ kí phác hối phiếu đòi tiền người mua nhờ ngân hàng
thu hộ số tiền đó. Có hai phương thức nhờ thu:
- Nhờ thu phiếu trơn: phiếu thu không kèm chứng từ.
- Nhờ thu kèm chứng từ: người bán sau khi giao hàng sẽ chuẩn bị chứng
từ gửi đến cho ngân hàng nhờ thu tiền hộ. Trong trường hợp này, khi
người mua muốn có những chứng từ để di nhận hàng thì phải :
• Trả tiền để nhận chứng từ: D/P
• Chấp nhận trả tiền để nhận chứng từ: D/A
Phương thức chuyển tiền:
Là phương thức người bán sau khi giao hàng thì chuyển trực tiếp chứng
từ cho người mua để người mua nhận hàng. Người mua sau khi kiểm tra
chứng từ thấy phù hợp thì yêu cầu ngân hàng của mình thanh toán tiền cho
người bán. Ngân hàng của người mua lệnh cho đại lý của mình tại nước người
bán trả tiền cho người bán. Phương thức chuyển tiền này bao gồm :
19
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
- Chuyển bằng thư .
- Chuyển tiền bằng điện.
Phương thức giao chứng từ trả tiền:
Khi đến kỳ hạn thanh toán, người nhập khẩu đến ngân hàng phục vụ
mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD hoặc COD lý một văn bản ghi nhớ,
đồng thời thực hiện ký quý 100% giá trị của thương vụ để lập tài khoản ký
thác. Sau khi ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ do người xuất khẩu chuyển
tới nếu thấy phù hợp thì ngân hàng chấp nhận chứng từ và thanh toán cho
bên xuất khẩu, đồng thời chuyển chứng từ đúng cho người nhập khẩu để
tiến hành nhận hàng.
tàu đến cảng bốc dỡ hàng không đúng quy cách của hợp đông chuyên chở,
hàng bị mất, thất lạc trong quá trình chuyên chở
Hồ sơ khiếu nại gồm: đơn khiếu nại, các chứng từ kèm theo gửi trực
tiếp đến cho người chuyên chở hoặc đại diện của người chuyên chở trong
thời gian ngắn nhất.
Người bán hoặc người mua có thể khiếu nại người bảo hiểm khi hàng
hoá bị tổn thất do các rủi ro đã được bảo hiểm gây nên. Đơn khiếu nại phải
kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất cùng các chứng từ khác chuyển
đến công ty bảo hiểm trong thời gian ngắn nhất.
3.8. Các chứng từ thường sử dụng trong quá trình tổ chức thực hiện hợp
đồng:
Hoá đơn thương mại ( commercial invoice ):
Là chứng tư cơ bản phục vụ cho công tác thanh toán. Nó là yêu cầu của
người bán đòi hỏi người mua phải trả số tiền đã được ghi trên hoá đơn. Thông
thường hoá đơn thương mại được lập thành nhiều bản và được dùng trong
nhiều việc khác nhau.
Bảng kê chi tiết ( specification ): là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong
kiện hàng.
Phiếu đóng gói ( packing list ): là bảng kê khai tất cả các hàng hoá đựng
trong một kiện hàng.
Giấy chứng nhận số lượng ( certificate of quantity ): và giấy chứng nhận
trọng lượng (certificate of weight ): là giấy chứng nhận về số lượng và
trọng lượng hàng hoá thực giao, do tổ chức kiểm hàng hoá nhập khẩu cấp.
21
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
Giấy chứng nhận phẩm chất (certificate of quality ):là chứng nhận xác
nhận chất lượng hàng hoá thực giao.
Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh: do cơ quan có
vực kinh doanh thương mại, đầu tư sản xuất và các ngành nghề được phép
kinh doanh.
Công ty QHQT-ĐTSX được thành lập theo quyết định số 2667/QĐ-
TCCB-LĐ ngày 7/10/1996 của bộ Giao thông vận tải. Công ty QHQT-ĐTSX
có tên giao dịch quốc tế là Center of International Relation and Investment (
CIRI ).
Công ty QHQT-ĐTSX là đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Tổng
công ty xây dựng giao thông – công trình 8 . Công ty QHQT-ĐTSX có tư
cách pháp nhân theo luật Việt Nam. Trụ sở chính đặt tại :
• Số 508, đường Trường Chinh, quận Đống Đa, tp Hà Nội.
• Điện thoại: 8 533 410, 5 631 805
• Fax: 5 631 780
• Tài khoản: Mở tại ngân hàng Công thương Việt Nam
• Vốn và tài sản: quản lý và sử dụng vốn, tài sản do Nhà nước cấp.
• Có con dấu hoạt động riêng. 23
Luận văn tốt nghiệp Phùng Thị Thuỷ Anh: K34- E1
Nhiệm vụ của công ty QHQT-ĐTSX:
- Xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư - thiết bị tổng hợp. Kinh doanh vật tư
thiết bị y tế, thu phát nghe nhìn quảng cáo.
- Sản xuất phụ tùng, động cơ xe máy, lắp ráp xe máy, ắc quy ô tô, xe
máy, động cơ diesel, thiết bị điện tử, điện lạnh, bán dẫn, hàng may mặc,
giầy dép các loại.
- Xuất khẩu lao động, kinh doanh dịch vụ, đào tạo kĩ thuật.
- Xây dựng công trình giao thông, công nghiệp và dân dụng, lắp đặt các
thiết bị chiếu sáng, thiết bị lạnh chuyên dùng.
Quyền của công ty QHQT-ĐTSX
: