II
LUẬN VĂN " Phân tích hợp tác thương mại Việt
Nam – Liên minh Châu Âu "
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá đa dạng hoá
các quan hệ quốc tế, phá thế bao vây cấm vận, tạo môi trường quốc tế
thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ đất nước
góp phần bảo đảm hoà bình, ổn định , an ninh và pháp triển trong khu
vực cũng như trên thế giới .
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
Mục đích của đề tài này là Phân tích hợp tác thương mại Việt Nam
– Liên minh Châu Âu trong lĩnh vực dệt may . Để đạt mục đích trên
đây , bố cục đề tài gồm 3 phần .
Chương 1 : Một vài nét về liên minh Châu Âu ( EU )
Chương 2 : Thực trạng thương mại Việt Nam – EU trong lĩng vực
dệt may .
Chương 3 : Các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam – EU
trong lĩnh vực dệt may .
CHƯƠNG 1
MỘT VÀI NÉT VỀ LIÊN MINH CHÂU ÂU(EU) Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay trong nền kinh tế thế
giới xuất hiện nhiều loại hình liên kết kinh tế . Trong đó liên minh
Châu Âu ( cộng đồng Châu Âu – EU trước đây ) là khối liên kết kinh tế
hình thành sớm nhất và có hiệu quả nhất . Trước ngưỡng cửa của thế
kỷ 21, với GDP khoảng 8500 tỷ USD, dân số khoảng 375 triệu người
chiếm giữ khoảng 40-50% sản lưởng công nghiệp của các nước tư bản
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
đi bầu không khí chính trị căng thẳng ở Tây Âu , đặc biệt là giữa Pháp
và Đức , phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên ở các nước thuộc
địa và trên hết là phải đối đầu với “cộng sản ” ở nửa kia Châu Âu –
các quốc gia Tây Âu không còn sự lựa chọn nào khác ngoài con đường
hoà bình hợp tác với nhau .
Ngày 9/5/1950 Ngoại trượng Pháp – Rôbe Suman đã đưa ra một
sáng kiến mới khởi đầu cho tiến trình liên kết Châu Âu . Ông đề nghị
“Đặt toàn bộ việc sản xuất than và thép của Đức vá Pháp dưới một cơ
quan quyền lực tối cao chung trong một tổ chức mở cửa cho các nước
Tây Âu khác tham gia ”
Trên cơ sở đề nghị đó ngày 18/4/1951 ,tại Paris ,6 quốc gia Tây Âu
gồm : Pháp ,Đức , Italia , Bỉ ,Hà Lan , Luych Xăm Bua đã ký Hiệp ước
thành lập cộng đồng than thép Châu Âu ( có hiệu lực từ ngày
25/7/1952 ) mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ giữa các nước
Tây Âu .
Nhìn chung, sáu nước Tây Âu đã thực hiện thành công Hiệp ước
Paris năm 1952 . Trên lĩnh vực kinh tế, từ tháng 5/ 1953 một thị trường
chung than , sắt , thép cho sáu nước đã hình thành . Ngành luyện kim
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
đạt một bước phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển cả nền kinh tế
sáu nước . Thành tích kinh tế là to lớn song còn một kết quả quan trọng
khác mà cộng đồng than thép Châu Âu mang lại đó là tác động tâm lý
đối cới người Tây Âu . Lần đầu tiên họ thấy rằng không cần chiến
tranh mà vẫn có thể thống nhất được Châu Âu và thống nhất theo chiều
hướng Siêu quốc gia .
Tại cuộc họp các ngoại trưởng của các quốc gia Tây Âu ở Messine
năm 1955 đã đưa ra đề án mở rộng liên kết của các quốc gia Tây Âu
song các lĩnh vực khác và cử ngài Paul Henry Spack – ngoại trưởng
Italia làm chủ đề án . Đến 1956 họ đã nhất trí thành lập cộng đồng kinh
đổi thành liên minh Châu Âu ( European Union – EU ) . Đồng thời ,
EU tiếp tục mở cửa lần thứ ba đến năm 1995 ba nước ở Tây Bắc Âu
gồm : Áo, Phần Lan , Thuỵ Điển đã trở thành thành viên chính thức
của EU .
Như vậy , từ sáu nước thành viên đến nay EU đã mở rộng ra 15 nước
và xu thế sẽ tiến tới 21 nước vào đầu thế kỷ 20 liên kết được mở rộng
trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế , chính trị ,khoa học kỹ thuật , văn hoá ,
giáo dục .
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
Mục đích của liên minh Châu Âu là nhằm thiết lập và hoàn thiện thị
trường nội bộ thống nhất thông qua việc phát hành một đồng tiền thống
nhất xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước thành viên xây dựng một
hàng rào thuế quan thống nhất đối với hàng hoá nhập từ ngoài vào ,xoá
bỏ những hạn chế đối với việc tự do di chuyển vốn sức lao động hàng
hoá dịch vụ … nhằm tăng cường hợp tác , liên kết giữa các quốc gia
thành viên xây dựng Châu Âu thành một cực mạnh trong nền kinh tế
thế giới . Để đạt được mục tiêu này , EU có một hệ thống thể chế để
hoạch định , đIều hành và giám sát. Hệ thống này bao gồm năm cơ
quan chính uỷ ban Châu Âu , Hội đồng Châu Âu , Quốc hội Châu Âu ,
Toà án Châu Âu và toà kiểm toàn cùng với các bộ phận hỗ trợ cho các
cơ quan trên như uỷ ban kinh tế và xã hội , uỷ ban khu vực .
Vậy , thực chất của liên kết kinh tế EU là tạo lập một thị trường
thống nhất với việc phát hành một đồng tiền thống nhất là quá trình
quốc tế hoá không chỉ lực lượng sản xuất mà cả quan hệ sản xuất .
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á .
Quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU và các nước trong khu
vực Châu Á đã có từ rất lâu , nhưng trong một thời gian tương đối dài
kém thịnh vượng nhất . EU và các thành viên của mình tiếp tục góp
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
phần làm giảm bớt sự nghèo nàn và tạo ra một sự tăng trưởng bền vững
ở các nước và khu vực này .
Thứ tư : Góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ , nhà nước
pháp quyền , cũng như phương tiện tôn trọng quyền con người và các
quyền tự do cơ bản ở Châu Á .
Để đạt được các mục tiêu trên EU đã đưa ra hàng loạt các chính sách
củng cố và tăng cường sự hiện diện của mình như .
- Dành cho Châu Á những ưu tiên lớn hơn và đi sâu đối thoại với các
nước và các nhóm trong khuôn khổ song phương hoặc đa phương .
- Coi trọng hợp tác kinh tế trong các lĩnh vực EU có lợi thế như ngân
hàng , năng lượng , công nghệ môi trường , viễn thông …
- Dành ưu tiên lớn nhất cho các thị trường Châu Á mới trong đó có
Đông Nam Á , Trung Quốc , Ấn Độ …
Sự cụ thể hoá trong chiến lược mới đối với Châu Á chứng tỏ EU đã
tiến thêm một bước quan trọng trong chính sách đối ngoại và an ninh
chung của mình . Việc EU cố gắng đi đến một chính sách chung đối
với Châu Á -Thái Bình Dương là xuất phát từ chỗ đánh giá lại thực
trạng của mình và tương lai của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương .
Qua chiến lược này EU hy vọng sẽ giành được những vị trí vững chắc
cả về kinh tế quốc dân . EU đã sớm đón bắt được một xu thế phát triển
đặc thù ở Châu Á trong thế kỷ 21 . Đó là vị trí lý tưởng để EU có thể
phát huy ảnh hưởng chính trị của mình . Một cơ hội mới đã được tạo ra
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
cho sự hợp tác giữa EU và ASEAN khi Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của ASEAN .
may Việt Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã ký kết .
nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đã
tăng lên nhanh chóng . Vẫn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương
tiếp theo. Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9 CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -EU
TRONG LĨNH VỰC DỆT MAY 2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam .
Ngành dệt may là ngành công nghiệp truyền thống có lịch sử phát
triển rất lâu đời ở nước ta . Mạc dù thường xuyên phảI đối mặt với rất
nhiều thử thách , song với đặc tính thu hút nhiều lao động , đầu tư ít
vốn , thu lãi nhanh , ngành dệt may đã tận dụng được các lợi thế của
đất nước và đóng góp ngày càng nhiều cho quá trình phát triển kinh tế
của đất nước .
Thứ nhất , ngành dệt may phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là
đảm bảo đầy đủ nhu cầu thiết yếu cho nhân dân trong nước “sau cái ăn
là cái mặc ”, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho nhân dân . Trên thực tế sản phẩm của ngành dệt may chỉ mới đáp
ứng được một phần nhu cầu trong nước . Hàng năm chúng ta vẫn phảI
nhập với một khối lượng lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Nhiệm vụ đầu tiên của ngành dệt may là đáp ứng cho nhu cầu của
nhân dân trong nước “sau cái ăn là cái mặc ” . Nhưng trên thực tế ,
ngành dệt may chưa hoàn thành nhiệm vụ này , hàng năm chúng ta vẫn
phải nhập một lượng lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm .
Điều này chứng tỏ rằng trong quá trình phát triển và hướng ngoại
ngành dệt may Việt Nam đã để lại một khoảng trống sau lưng mình ,
đó là thị trường may mặc trong nước Hiện nay các sí nghiệp dệt may
lớn Trung ương và địa phương đều đang cố gắng dành những năng lực
tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may xuất khẩu , phần nào không xuất
được thì để lại tiêu dùng trong nước . bằng chứng là thỉnh thoảng mọt
doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu nào đó lạI đưa ra “cửa
hàng giới thiệu sản phẩm” của mình những lô hàng kém phẩm chất bán
cho hàng tiêu dùng , đó là những chiếc quần áo rộng quá cỡ , khác biệt
về màu sắc và kiểu mốt đối với người Việt Nam . Hoạt động của ngành
dệt may trên thị trường nội địa có thể được phản ánh như sau :
Ở thị trường thành thị , thị trường bị thả nổi : Các cơ sở sản xuất
kinh doanh hàng may mặc của tư nhân gia đời rất nhanh với nhiều quy
mô và hình thức khác nhau đã thay thế dần cho may mặc quốc doanh ,
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
tình trạng kinh doanh đất trốn lậu thuế sản xuất buôn bán hàng giả ,
hàng “Sida” , hàng ngoại tràn vào một cách tràn lan , khó kiểm soát
được . Ở thị trường nông thôn , miền núi lại khác hẳn thị trường bị bỏ
trống bởi cầu ít , khả năng thanh toán kém do đó không đủ sức để thu
hút tư thương vào .
Nếu ta chỉ làm một phép tính đơn giản cũng có thể thấy được sự lãng
phí đáng quan tâm của ngành dệt may Việt Nam . Nước ta hiện nay có
khoảng 78 triệu dân , chỉ tính khiêm tốn mỗi người tiêu dùng bình quân
100. 000 đồng / năm sẽ tạo được một thị trường với sức mua 7800 tỷ
đồng ( tương đương với khoảng 600 triệu USD ) xấp xỉ kim ngạch xuất
tế do thiếu công nghệ hiện đại , thiếu thông tin về thị trường , cơ sở hạ
tầng lạc hậu …Các doanh nghiệp hoàt động có hiệu quả thường tập
trung ở thành phố Hồ Chí Minh , Đồng Nai , Nha Trang , Hải Phòng ,
Hà Nội …Sự phát triển không đồng bộ này chính là câu hỏi đặt ra với
các nhà hoạch định chính sách . Chúng ta cần có những chính sách đầu
tư và tín dụng phù hợp để khai thác đầy đủ và hiệu quả các tiềm lực ở
các địa phương nhằm xây dựng ngành dệt may ngang tầm nhiệm vụ
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
của nó , một ngành công nghiệp chủ lực trong chiến lược phát triển
kinh tế của Việt Nam .
Và đáng nói nhất của ngành dệt may Việt Nam là nguyên vật liệu .
Đây là một vấn đề nan giải , làm ảnh hưởng đến chất lượng giá cả , sự
cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế :
Nguyên vật liệu của ngành dệt bao gồm các loại : Bông , đay , tơ
tằm , xơvisco , xơ PE , các loại xơ liber khác , các loại hoá chất , thuốc
nhuộm . Trong đó nguyên liệu sản xuất trong nước chỉ có bông , đay ,
tơ tằm . Tuy nhiên sản lượng bông đay , tơ tằm vẫn còn thấp ,chất
lượng kém do sử dụng giống cũ đã thoái hoá , máy móc trong trang bị
trong khâu thu hoạch và bảo quản còn lạc hậu , giá thành cao hơn giá
của nguyên liệu ngoại nhập . Hơn nữa , từ năm 1993 đến nay , diện tích
trồng các loại nguyên liệu này đã giảm mạnh do ngành dệt chưa có kế
hoạch thu mua khiến cho người trồng trọt lo lắng vì giá cả , thị trường
tiêu thụ không ổn định . Chính vì vậy , hàng năm chúng ta phải nhập
khẩu với số lượng lớn, bông , đay , tơ tằm và các nguồn sợi tổng hợp
khác .
Nguyên liệu của ngành may cũng vậy , vải trong nước cung cấp cho
may công nghiệp rất ít doanh nghiệp đáp ứng được , Mặc dù , một vài
năm gần đây công nghệ dệt của ta đã có những bước tiến đáng kể
nhưng nhìn chung chưa đồng bộ , chất lượng vải chưa cao. Tính trong
công rẻ .
2.4. Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt Nam-EU
Từ khi nền kinh tế nước ta mới chập chững vận hành theo cơ chế thị
trường ngành công nghiệp dệt may đã chứng tỏ vai trò quan trọng của
mình , với đặc điểm sử dụng nhiều lao động . Ngành dệt may đã khai
thác được lợi thế so sánh của nước ta và trở thành một trong năm
ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may tăng lên nhanh chónh từ năm 1989- 1997 và luôn chiếm vị trí
thứ hai sau dầu thô . Riêng năm1998 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may đã vươn lên vị trí đầu bảng với 1,375 tỷ USD .
Tuy nhiên việc xuất khẩu mặt hàng này trong năm 1998 cũng đầy
“sóng gió” . Mặc dù giữ vị trí đầu bảng nhưng cũng chỉ là mức đã đạt
trong năm 1997 và thấp khá xa so với mức dự kiến 1,5 tỷ USD ban đầu
. Sự chững lại trong xuất khẩu mặt hàng này là do thị phần ở thị trường
phi hạn ngạch giảm quá mạnh từ 900 triệu USD năm 1997 xuống chỉ
còn 700 triệu USD năm 1998 . Đồng thời vơíi sự suy giảm vai trò của
thị trường các quốc gia Châu Á đối với ngành dệt may Việt Nam , vai
trò của thị trường EU càng được củng cố . Kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam vẫn tăng 30% sau khi hiệp định dệt may Việt Nam
EU giai đoạn 1998-2000 có hiệu lực , chiếm khoảng 45% so với tổng
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may EU thực sự là một thị trường xuất
khẩu chủ đạo của ngành dệt may Việt Nam .
Đối với hàng hoá trong lĩnh vự dệt may nhập từ EU vào Việt Nam ,
tỷ lệ hàng thành phẩm rất ít , chủ yếu là các loại máy móc , thiết bị , vật
tư nguyên liệu và hoá chất . Mặc dù chất lượng hàng dệt may của EU
rất cao , nhưng kích thước mẫu mã mầu sắc lạI không phù hợp với thị
phải chịu mấy lần tính thuế ( thuế sợi , vải mộc , vải thành phẩm …)
Với tình hình trên phía các doanh nghiệp may chưa tìm thấy sự hấp dẫn
của vải nội và cũng chưa tích cực tìm kiếm cơ hội . Mặt khác vấn đề
nguyên liệu chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
phương thức gia công chiếm tỷ lệ chủ yếu trong kim ngạch xuất khẩu
dệt may Việt Nam sang EU .
Thứ hai : Ở Việt Nam ngành kinh doanh mẫu mốt chưa trở thành
một ngành kinh tế độc lập . Trong khi Châu Âu là cái nôi thời trang của
thế giới , người Châu Âu nổi tiếng “sành ăn , sành mặc” . Chính vì thế
, hầu hết mẫu mã của hàng dệt may sang thị trường EU do phía đối tác
cung cấp . Với khả năng hiện tại , mẫu mã sản phẩm chúng ta chưa có
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
tính chủ động , sáng tạo , có bản sắc riêng mà được khách hàng EU
chấp nhận .
Hiện nay đa số các cơ sở thiết kế thời trang của ta thường làm theo
kiểu Photocopy bằng cách cóp nhặt tổng hợp các mẫu mã vốn đã được
lăng xê thành sản phẩm trước đó . Ngay ở Viện mẫu thời trang – nơi
được xem là cơ sở làm việc có bài bản nhất ở Việt Nam thì các trang
thiết bị phục vụ nghiên cứu mẫu mốt có thể nói gần như không có gì :
không có hệ thống máy vi tính, việc thiết kế làm bằng thủ công, sự hiểu
biết thị hiếu mẫu mốt nước ngoài quá ít ( vì không có tài chính cử cán
bộ đi khảo sát ) , cán bộ nghiên cứu của Viện vốn được đào tạo cơ bản
nhưng so với tình hình hiện giờ thì đã lạc hậu, không được bổ túc thêm
.
Thứ ba : Trong phương thức gia công, các doanh nghiệp của ta phần
lớn phải chấp nhận “phương thức tam giác”, 3 đỉnh của tam giác gồm:
nhà sản xuất ( doanh nghiệp Việt Nam ) khách hàng ( doanh nghiệp EU
thác thị trường EU có hiệu quả , các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
phải nỗ lực để tranh thủ tốt nhất những lợi thế hạn chế những bất lợi .
Đặc biệt phải phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm , cải tiến mẫu
Chuyªn ®Ò thùc tËp
NguyÔn ThÞ TuyÕt Nga - Líp §N9
mã đáp ứng đúng thị hiếu của người tiêu dùng , nâng cao uy tín để chủ
động chiếm lĩnh thị trường Châu Âu .
CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM – EU TRONG LĨNH VỰC DỆT –
MAY
3.1. Định hướng của ngành dềt may Việt Nam
.