Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
LỜI MỞ ĐẦU
Thập niên cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn lao
trên thế giới. Những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học
công nghệ càng thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá trên thế
giới diễn ra mạnh mẽ hơn xu thế hoà bình hợp tác pháp triển đang ngày
càng trở thành xu thế chủ yếu chi phối quan hệ ngoại giao các nước.
Trong thế giới ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau nhu cầu về phát triển, giao
lưu kinh tế, văn hoá nhằm tăng cường sự hiểu biết để hợp tác vì lợi ích
dân tộc đang trở nên cấp thiết . Với một môi trường quốc tế thuận lợi
như vậy, Quan hệ Việt Nam – EU đã có đIều kiện chuyển sang một giai
đoạn mới đầy triển vọng cả Việt Nam và EU đều có chung lơị ích trong
việc mở rộng và tăng cường quan hệ hữu nghị trên các lĩnh vực .
EU là một trung tâm chính trị và kinh tế, đóng vai trò quan trọng
không chỉ ở Châu Âu, mà còn cả trên toàn thế giới . EU có trình độ khoa
học kỹ thuật hiện đại, có nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh và là nguồn viện
trợ lớn cho Việt Nam . EU có điều kiện để đáp ứng các yêu cầu phát
triển kinh tế của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới .
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá đa dạng hoá
các quan hệ quốc tế, phá thế bao vây cấm vận, tạo môi trường quốc tế
thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ đất nước góp
phần bảo đảm hoà bình, ổn định , an ninh và pháp triển trong khu vực
cũng như trên thế giới .
Mục đích của đề tài này là Phân tích hợp tác thương mại Việt Nam
– Liên minh Châu Âu trong lĩnh vực dệt may . Để đạt mục đích trên
đây , bố cục đề tài gồm 3 phần .
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Đến năm 1923 , Bá Tước người Áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị
thành lập một liên minh Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm
1648 hay liên bang Hoa Kỳ năm 1776 năm 1929 Bộ trưởng Pháp lúc
bấy giờ – Arstide Briand cũng đưa ra đề án thành lập liên minh Châu Âu
. Nhưng những ý tưởng này phải mãi đế sau chiến tranh thế giới thứ hai
mới trở thành hiện thực .
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu đều kiệt quệ về kinh
tế . So với năm 1937 sản lượng của Đức 1946 chỉ bằng 31% , Italia 64%
, Anh 96% . Trong khi đó nhờ chiến tranh mà kinh tế Mỹ đã phát triển
vượt bậc sức mạnh kinh tế của Mỹ còn lơns hơn sức mạnh kinh tế của
tất cả các nước Tây Âu gộp lại .Mặt khác sự phát triển mạnh mẽ của lực
lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đặc
biệt là sự phát triển lực lượng sản xuất ở Mỹ đã khẳng định vị trí bá chủ
toàn cầu của Mỹ . Chính bối cảnh ấy , buộc các quốc gia Tây Âu phảI
tăng cường hợp tác để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển , thoát khỏi
sự kiểm toạ của Mỹ và cũng là làm dịu đi bầu không khí chính trị căng
thẳng ở Tây Âu , đặc biệt là giữa Pháp và Đức , phong trào giải phóng
dân tộc đang dâng lên ở các nước thuộc địa và trên hết là phải đối đầu
với “cộng sản ” ở nửa kia Châu Âu – các quốc gia Tây Âu không còn
sự lựa chọn nào khác ngoài con đường hoà bình hợp tác với nhau .
4
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Ngày 9/5/1950 Ngoại trượng Pháp – Rôbe Suman đã đưa ra một sáng
kiến mới khởi đầu cho tiến trình liên kết Châu Âu . Ông đề nghị “Đặt
toàn bộ việc sản xuất than và thép của Đức vá Pháp dưới một cơ quan
quyền lực tối cao chung trong một tổ chức mở cửa cho các nước Tây Âu
khác tham gia ”
kiến thức , bảo đảm nguồn cung cấp thường xuyên các nguyên liệu hạt
nhân thúc đẩy đầu tư lập các cơ sở sản xuất năng lượng hạt nhân chung
lập thị trường nguyên tử chung giữa các nước .
Bước vào đầu thập kỷ 90 , sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu đã làm thay đổi cục diện thế giới từ hai cực trở
thành đa cực . Trong trật tự mới , các thế lực đều đang dốc sức chuẩn bị
lực lượng để chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tương lai . Mặc dù đến
thời điểm này cộng đồng Châu Âu đã đạt được những thành tựu nhất
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
định nhưng nói chung về kinh tế , chính trị lẫn quân sự vẫn còn thua
kém Mỹ và Nhật Bản . Do vậy trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trước
mắt các nước Tây Âu vẫn sẽ phải thống nhất lại , đẩy manh công cuộc
xây dựng cộng đồng tạo ra sức mạnh tập thể để đối phó với hai đối thủ
lớn của mình . ĐIều này được thể hiện rất rõ tại Hội nghị thượng đỉnh
các quốc gia Tây Âu ở Maastricht – Hà Lan tháng 11 năm 1991 . Tại
Hội nghị này các quốc gia thành viên đã thống nhất : Thứ nhất tiếp tục
mở rộng liên kết bằng cắch kết nạp thêm các thành viên mới , thứ hai
tạo lập đồng tiền chung Châu Âu làm cho Châu Âu thay đổi một cách
căn bản vào năm 2000 . Thứ ba , tiến tới thống nhất mặt chính trị , xây
dựng một chính sách quốc phòng an ninh chung . Năm 1993 những hiệp
ước trên bắt đầu có hiệu lực và EU cũng chính thức đổi thành liên minh
Châu Âu ( European Union – EU ) . Đồng thời , EU tiếp tục mở cửa lần
thứ ba đến năm 1995 ba nước ở Tây Bắc Âu gồm : Áo, Phần Lan , Thuỵ
Điển đã trở thành thành viên chính thức của EU .
Như vậy , từ sáu nước thành viên đến nay EU đã mở rộng ra 15 nước
và xu thế sẽ tiến tới 21 nước vào đầu thế kỷ 20 liên kết được mở rộng
trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế , chính trị ,khoa học kỹ thuật , văn hoá ,
Châu Á . Trong giai đoạn này , quan hệ của các nước EU với khu vực
châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế .Tuy vậy từ sau thập kỷ 80 đến nay
các nước Mỹ La Tinh đã bị lâm vào khủng hoảng nợ , trong khi các
nước đang phát triển Châu Á lạI có những chuyển biến trong phát triển
kinh tế . Các NiEs và ASEAN đã thực hiện thành công chính sách kinh
tế hướng về xuất khẩu và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới . Đồng
thời sự suy sụp của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm cho cục diện
về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng
của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc thiết lập được một sự hiện
diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho phép EU
đảm bảo được lợi ích của mình tại khu vực này vào đầu thế kỷ 21 . Để
đạt được điều đó tháng 7/1994 , EU đã thông qua văn kiện “Hướng tới
một chiến lược mới đối với Châu Á” .
Chiến lược mới này hướng tới các mục tiêu chủ yếu là :
Thứ nhất : Tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á
nhằm duy trì vai trò nổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới . Việc
thiết lập một sự hiện diện đáng kể ở Châu Á sẽ cho phép EU chăm lo
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
những lợi ích của mình được tôn trọng hoàn toàn trong khu vực then
chốt này vào đầu thế kỷ 21 .
Thứ hai : Góp phần vào sự ổn định ở Châu Á bằng cách khuyến khích
hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế .
Thứ ba : Khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vực
kém thịnh vượng nhất . EU và các thành viên của mình tiếp tục góp
phần làm giảm bớt sự nghèo nàn và tạo ra một sự tăng trưởng bền vững
ở các nước và khu vực này .
Thứ tư : Góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ , nhà nước pháp
trung và Đông Âu, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, nhằm nâng cao hơn nữa
vị thế của mình trước thềm thế kỷ XXI . chính trong quá trình thực hiện
chiến lược toàn cầu của mình nói chung và chiến lược mới với Châu Á
nói riêng, EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thế địa chính trị, địa
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
kinh tế để lấy Việt Nam làm đIểm tựa quan trọng trong chiến lược đối
ngoại của mình với Châu Á.
Mối quan hệ Việt Nam – EU đã bắt đầu được thiết lập từ sau năm
1975, nhưng chỉ đơn thuần là viện trợ kinh tế . Bước chuyển biến to lớn
đánh dấu một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam- EU là việc hai bên
thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 10/1990. Trên cơ sở đó mối quan hệ
Việt Nam và EU đã phát triển nhanh chóng . Hai bbên đã có hàng loạt
cuộc tiếp xúc gặp gỡ thăm viếng hội thảo khoa học… nhằm trao đổi
thông tin và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau . Quan hệ Việt Nam –EU
bước vào giai đoạn lịch sử mới khi .
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng
7/1995 . Hiệp định đã tạo ra những yếu tố thuận lợi cho EU và mối nước
thành viên EU trong quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư với Việt
Nam . Có thể nói , hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU vừa là cơ sở
pháp lý vừa là động cơ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU
phát triên mạnh mẽ và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực : hợp tác thương
mại, đầu tư khoa học kỹ thuật môi trường văn hoá giáo dục y tế… đặc
biệt là trng lĩnh vực dệt may. Bằng chứng là hai hiệp định dệt may Việt
Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã ký kết . nhờ đó kim
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
đã có kế hoạch đổi mới trang thiết bị , tăng sản lượng , giảm giá thành ,
đa dạng hoá mẫu mã nhằm đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của nhân
dân trong nước .
Thứ hai , với đặc tính sử dụng nhiều lao động , đặc biệt là đối với
ngành dệt may Việt Nam thiếu thiết bị công nghệ hiện đại vì thế còn rất
nhiêù công đoạn sản xuất thủ công , nên ngành dệt may có khả năng giải
quyết việc làm cho rất nhiều lao động . Hiện nay toàn ngành dệt may
Việt Nam đang sử dụng hơn 500. 000 lao động Con số này là nhỏ khi
so với tổng số 38 triệu người trong độ tuổi lao động của Việt Nam
nhưng là một con số khá lớn đối với một ngành công nghiệp , có ý nghĩa
không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn góp phần bình ổn chính trị –
xã hội .
15
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Thứ ba , không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước , hiện nay sản phẩm
dệt may của Việt Nam đã có mặt ở rất nhiều thị trường nước ngoài . Các
sí nghiệp dệt may lớn ở Trung ương và địa phương đều đang cố gắng
dành năng lực tốt nhất cho sản xuất hàng dệt may . Ngành dệt may đã
phát huy và tận dụng hết tiềm năng sẵn có của đất nước , thúc đẩy mạnh
mẽ quá trình đó . Trong thời gian tới , chúng ta cần phải có những chính
sách phù hợp để khai thác hiệu quả những ưu thế của ngành dệt may
nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất
nước .
2.2. Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam
Nhiệm vụ đầu tiên của ngành dệt may là đáp ứng cho nhu cầu của
nhân dân trong nước “sau cái ăn là cái mặc ” . Nhưng trên thực tế ,
ngành dệt may chưa hoàn thành nhiệm vụ này , hàng năm chúng ta vẫn
phải nhập một lượng lớn nguyên liệu lẫn hàng dệt may thành phẩm .
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
khẩu hàng dệt may của chúng ta vào 14 quốc gia thành viên EU năm
1998 .
Đối với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu
ra hai khu vực thị trường : có hạn ngạch và phi hạn ngạch . Thị trường
có hạn ngạch do EU áp đặt . Nơi đây , loại hình gia công chiếm vhủ yếu
80% kim ngạch xuất khẩu hầu như ổn định . Sau khi Hiệp định dệt may
thời kỳ đầu ( 1993 – 1997 ) được ký kết kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam sang EU không ngừng tăng lên . Thời kỳ đầu có 105
chủng loại ( category – cat ) quản lý bằng hạn ngạch , sau khi điều chỉnh
( tháng 8/ 1995 ) còn 54 cat và khi hiệp định thời kỳ 1998 – 2000 được
ký kết thì số cat quản lý hạn ngạch chỉ còn 29 . Tính gia , có 122 đã
được EU “giải phóng ” số lượng Cat được giải phóng này có thể mang
lạI một kim ngạch không nhỏ .
Trước những khó khăn trong việc khai thác thị trường xuất khẩu như
đã nêu trên , việc mở rộng và tăng cường hơn lữa hợp tác với thị trường
EU là một đòi hỏi khách quan của nganhf dệt may Việt Nam . Đó cũng
chính là lý do mà toàn bộ chỉ đi sâu tìm việc thực trạng của hoạt động
xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đi EU để rút ra thách thức và thuận
lợi .
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
2.3. Cơ cấu của ngành dệt may Việt Nam .
Theo thống kê cuối năm 1995 , tổng số cơ sở dệt may là 109369.
Trong đó : số cơ sở dệt là 74633, may là 34736 đơn vị . Hiện nay các cơ
sở dệt may phân bố hầu như khắp các tỉnh thành trong cả nước . Song ,
hiệu quả hoạt động của các cơ sở ở các tỉnh khác nhau là khác nhau .
Nguyên liệu của ngành may cũng vậy , vải trong nước cung cấp cho
may công nghiệp rất ít doanh nghiệp đáp ứng được , Mặc dù , một vài
năm gần đây công nghệ dệt của ta đã có những bước tiến đáng kể nhưng
nhìn chung chưa đồng bộ , chất lượng vải chưa cao. Tính trong toàn bộ
năm 1998 lượng bông nhập khẩu là 78 triệu USD , lượng sợi các loại là
207 triệu USD , vải các loại là 418 triệu USD . Đáng chú ý là lượng vải
nhập khẩu cho gia công là 392 triệu USD , trong khi lượng vải nhập
khẩu cho kinh doanh là 27 triệu USD . Chính vì thế , giảm bớt sự phụ
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
thuộ về nguyên liệu trong ngành dệt – may vừa là mong muốn chủ quan
vứa là yêu cầu khách quan .
Ngoài ra ngành dệt may còn phải nói đến đổi mới công nghệ , theo
đánh giá chung thiết bị và công nghệ của ngành dệt may Việt Nam hiện
nay lạc hậu khoảng 10-20 năm so với thế giới . Tuy nhiên so với năm
gần đây , có khá nhiều thiết bị , máy móc tiên tién đã được đưa vào sản
xuất thay thế cho thiết bị cũ , đặc biệt là ngành may . Nhiều doanh
nghiệp đã trang bị nhữnh thiết bị chuyên dùng như máy thêu tự động ,
máy cắt , hệ thống ủi hơi hập từ các nước công nghiệp tiên tiển . Điều
đáng buồn là việc đầu tư trong ngành dệt may không được xem xét dưới
các góc độ bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững của một ngành nói
riêng và của toàn nền kinh tế nói chung . Đầu tư không đồng bộ giữ
ngành may và ngành dệt và giữa các công đoạn trong quá trình sản xuất
của một doanh nghiệp . Hầu hết , các chủng loại máy may và công nghệ
đang sử dụng trong nghành may đều là máy mới . Ngược lại ngành dệt
may chưa có sự thoả đáng , ngành dệt còn 50% thiết bị đã sử dụng trên
20 năm . Sự đồng bộ này còn được thể hiện ngay ở lượng FDI vào
ngành dệt may Việt Nam trong những năm vừa qua .
dệt may Việt Nam vẫn tăng 30% sau khi hiệp định dệt may Việt Nam
EU giai đoạn 1998-2000 có hiệu lực , chiếm khoảng 45% so với tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may EU thực sự là một thị trường xuất
khẩu chủ đạo của ngành dệt may Việt Nam .
Đối với hàng hoá trong lĩnh vự dệt may nhập từ EU vào Việt Nam , tỷ
lệ hàng thành phẩm rất ít , chủ yếu là các loại máy móc , thiết bị , vật tư
nguyên liệu và hoá chất . Mặc dù chất lượng hàng dệt may của EU rất
cao , nhưng kích thước mẫu mã mầu sắc lạI không phù hợp với thị hiếu
của người Việt Nam .
Nhìn chung cơ cấu trao đổi hàng hoá đã thể hiện đúng khả năng và
nhu cầu của mỗi bên . Cơ cấu trao đổi này cũng hoàn toàn phù hợp với
mục tiêu của công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá mà Việt Nam
đang theo đuổi . Trong những năm tới , chúng ta cần phải tiếp tục khai
thác thị trường EU theo hướng này . Có như vậy chúng ta mới tận dụng
được tiềm năng của mình và khai thác được các mặt mạnh của EU .
Thành quả đã đạt được trong những năm qua là kết quả của những lỗ
lực từ hai phía . Phía Việt Nam , chúng ta không ngừng cải tiến mẫu
mã , nâng cao chất lượng , hạ giá thành sản phẩm để đáp ứng nhu cầu
23
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
các khách hàng EU . Ngược lại EU cũng dành cho chúng ta những điều
kiện có lợi để thúc đẩy quan hệ buôn bán mặt hàng này . Tuy nhiên ,
việc thâm nhập một thị trường kỹ tính như EU trong khi chúng ta chưa
phải là thành viên của WTO quả là đIều hết sức khó khăn . Mặc dù , kim
ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường EU có tăng , song đó vẫn chưa
phải là tất cả những gì chúng ta mong đợi . Nguyên nhân của việc này
cũng chính là khó khăn thách thức má các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam phải đối đầu khi thâm nhập thị trường EU .
thiết bị phục vụ nghiên cứu mẫu mốt có thể nói gần như không có gì :
không có hệ thống máy vi tính, việc thiết kế làm bằng thủ công, sự hiểu
biết thị hiếu mẫu mốt nước ngoài quá ít ( vì không có tài chính cử cán
bộ đi khảo sát ) , cán bộ nghiên cứu của Viện vốn được đào tạo cơ bản
nhưng so với tình hình hiện giờ thì đã lạc hậu, không được bổ túc thêm .
25