www.document.vn
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nói đến hoạt động sản xuất kinh doanh thì vấn đề hiệu quả
kinh tế luôn được các doanh nghiệp quan tâm và chú trọng. Đây là sự so sánh giữa
toàn bộ chi phí bỏ ra và kết quả thu lại được. Muốn làm được điều này đòi hỏi mỗi
chúng ta phải có tri thức trong hoạt động sản xuất và quản lý.
Tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó
có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp, nó góp phần to lớn đến sự tồn
tại và phát triển của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khâu
tiêu thụ hàng hoá của quá trình sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp gắn liền
với thị trường, luôn luôn vận động và phát triển theo sự biến động phức tạp của các
doanh nghiệp.
Chính vì vậy, công tác tiêu thụ hàng hoá luôn luôn được nghiên cứu, tìm tòi,
bổ xung để được hoàn thiện hơn cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhằm mục đích không
ngừng nâng cao hiệu quả của kinh doanh, hiệu năng quản lý.
Trong những năm gần đây, thị trường nước ngoài là một vấn đề nổi trội, vấn
đề quan tâm của các doanh nghiệp. Từ khi thực hiện chính sách mở cửa Việt Nam
đã thiết lập được nhiều mối quan hệ hợp tác thương mại với nhiều nước trên thế
giới. Vì vậy, hàng hoá của các nước cũng được nhập khẩu vào Việt Nam với khối
lượng khá lớn nên công tác tiêu thụ hàng hoá càng cần được hoàn thiện hơn. Để tồn
tại và phát triển trên thị trường, ngoài việc cung cấp cho thị trường một khối lượng
sản phẩm nhất định với chất lượng cao, chủng loại mẫu mã phù hợp, các doanh
nghiệp cần phải thực hiện tốt công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá.
Xây dựng tổ chức công tác hạch toán kế toán khoa học hợp lý là một trong
những cơ sở cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc ra quyết định chỉ đạo, điều
hành kinh doanh có hiệu quả. Công tác kế toán nói chung, hạch toán tiêu thụ hàng
hoá nói riêng ở các doanh nghiệp đã được hoàn thiện dần song mới chỉ đáp ứng
được yêu cầu quản lý ở các doanh nghiệp với mức độ còn hạn chế. Bởi vậy, bổ sung
và hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nói chung, hạch toán tiêu thụ hàng hoá nói
riêng luôn là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp.
Trang 1
HƯỞNG ĐẾN HẠCH TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU
THỤ HÀNG HOÁ.
Cơ chế thị trường là sự cạnh tranh gay gắt, muốn tồn tại và kinh doanh có lãi
buộc các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại phải tự tìm nguồn vốn và
nơi tiêu thụ hàng hoá. Doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường, được thị
trường chấp nhận về chất lượng sản phẩm điều này được doanh nghiệp đặc biệt
quan tâm, làm thế nào để tăng lượng sản phẩm tiêu thụ trên một thị trường rộng lớn
với đầy rẫy những cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Vì vậy mà công tác hạch
toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ là một trong những phần hành
chủ yếu trong doanh nghiệp. Mặt khác hiệu quả của khâu tiêu thụ hàng hoá không
tách rời mà gắn liền với kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
Trong những năm gần đây, với sự đổi mới kinh tế của đất nước thì các
phương thức tiêu thụ hàng hoá cũng đa dạng hơn, phong phú hơn. Điều này cũng
góp phần làm ảnh hưởng đến công tác hạch toán tiêu thụ hàng hoá trong doanh
nghiệp. Bên cạnh đó là những chi phí mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường
cũng làm ảnh hưởng đến công tác xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.Chính
những thay đổi này đã góp phần ảnh hưởng đến công tác hạch toán tiêu thụ hàng
hoá và xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp.
II SỰ CẦN THIẾT PHẢI HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ.
1. Khái niệm và đặc điểm của hàng hoá.
a) Khái niệm hàng hoá.
Trang 3
www.document.vn
Hàng hoá là sản phẩm đã kết thúc giai đoạn cuối cùng của một quy trình
công nghệ sản xuất và đã được kiểm tra bảo đảm đủ tiêu chuẩn chất lượng và có thể
nhập kho hay đem bán.
b) Đặc điểm của hàng hoá.
Hàng hoá thực chất không giống nhau nhưng có cùng đặc điểm:
- Hàng hoá là sản phẩm đã hoàn tất ở giai đoạn cuối cùng của quy trình công
kinh doanh. Một doanh nghiệp được coi là kinh doanh có hiệu quả khi và chỉ khi
toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh đều được bù đắp bằng
doanh thu và có lợi nhuận. Từ đó doanh nghiệp có điều kiện để mở rộng kinh
doanh,tăng doanh thu, mở rộng thị trường kinh doanh,củng cố và khẳng định vị trí
của doanh nghiệp trên thương trường, đứng vững và phát triển mạnh trong điều kiện
cạnh tranh như ngày nay.
3. Các yêu cầu quản lý tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ.
a. Nội dung yêu cầu quản lý nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu
thụ
- Nắm chắc sự vận động của từng nhóm, loại hàng hoá trong quá trình xuất,
nhập và tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị, theo dõi tình hình
thực hiện kế hoạch bán ra ở từng cửa hàng, bộ phận kinh doanh xuất phát từ nguyên
tắc nhà quản lý phải biết kinh doanh mặt hàng nào có hiệu quả và có triển vọng
nhất. Việc quản lý chủ yếu kết thúc khi người sở hữu hàng hoá được chuyển giao và
doanh nghiệp có doanh thu bán hàng.
- Nắm bắt, theo dõi chặt chẽ việc thực hiện biểu giá cả hợp lý cho từng loại
sản phẩm hàng hoá, từng phương thức bán hàng, từng địa điểm kinh doanh. Có làm
tốt việc quản lý giá sẽ giúp hàng hoá của doanh nghiệp thích ứng được với thị
trường, tiêu thụ hàng hoá được nhiều, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người
tiêu dùng.
- Quản lý, đôn đốc thu hồi nhanh và đầy đủ tiền bán hàng cụ thể là kiểm tra
số tiền thu được sau khi tiêu thụ được hàng chuyển về doanh nghiệp dưới hình thức
nào, số lượng là bao nhiêu, chiều hướng phát sinh các khoản nợ khó đòi như thế
nào..... kể từ khi doanh nghiệp ký kết hợp đồng cho đến khi doanh nghiệp thực sự
thu được tiền và các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ như chiết khấu, giảm giá, hàng
bán bị trả lại, nhận trước tiền hàng. Sau khi quá trình tiêu thụ kết thúc cần phải quản
lý việc xác định kết quả kinh doanh, đảm bảo tính đúng, tính đủ kết quả kinh doanh
Trang 5
www.document.vn
đã đạt được và thực hiện nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận ( nếu có). Thực
Trang 6
www.document.vn
kế toán tiêu thụ, đánh giá đúng năng lực của doanh nghiệp thông qua kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Thông tin do kế toán cung cấp là căn cứ để đánh giá tính hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh, phù hợp với các quyết định tiêu thụ hàng hoá đã được
thực thi, từ đó phân tích và đưa ra các biện pháp quản lý,chiến lược kinh doanh phù
hợp với các điều kiện thực tế, khả năng của doanh nghiệp nhằm nâng cao doanh lợi
hơn nữa.
b. Nhiệm vụ của kế toán trong quản lý tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả tiêu thụ
Để thực hiện tốt vai trò nói trên, kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết
quả tiêu thụ có những nhiệm vụ sau:
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, chính xác và kịp thời khối lượng hàng hoá
bán ra và giá vốn chính xác của chúng nhằm xác định đúng kết quả kinh doanh nói
chung hoặc từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá, hàng hoá riêng lẻ nói riêng, các
khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, cũng như phân bổ chúng cho
các đối tượng có liên quan.
- Cung cấp thông tin về tình hình tiêu thụ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp
quản lý và điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua việc ghi chép
hạch toán quá trình tiêu thụ mà kiểm tra được tiến độ thực hiện kế hoạch tiêu thụ và
kế toán lợi nhuận, các kỹ thuật thanh toán, các dự toán chi phí, quản lý chặt chẽ tiền
bán hàng, theo dõi quá trình thanh toán tiền bán hàng và tỷ lệ thu nhập cho ngân
sách.
- Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp, phản ánh tình hình phân phối lợi nhuận.
- Lập và gửi báo cáo tiêu thụ, doanh thu, kết quả kinh doanh theo yêu cầu
quản lý của ban lãnh đạo. Định kỳ phân tích kinh tế đối với hoạt động tiêu thụ hàng
hoá, thu nhập và phân phối lợi nhuận, tư vấn cho ban lãnh đạo lựa chọn phương án
kinh doanh có hiệu quả nhất.
a. Quy trình thực hiện tiêu thụ hàng hoá.
Tiêu thụ hàng hoá là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, tức
là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ trạng thái của vật chất tiền tệ và hình thành
kết quả của bán hàng, trong đó doanh nghiệp giao hàng cho khách hàng và khách
hàng trả tiền cho doanh nghiệp theo giá thoả thuận. Thông qua quá trình tiêu thụ,
Trang 8
www.document.vn
nhu cầu của người sử dụng một phần nào đó được thoả mãn và giá trị của hàng hoá
đó được thực hiện .
Quá trình tiêu thụ cơ bản được chia làm hai giai đoạn :
- Giai đoạn thứ nhất: Đơn vị bán xuất giao hàng cho đơn vị mua thông qua
hợp đồng kinh tế đã được ký. Đây là quá trình vận động của hàng hoá nhưng chưa
xác định được kết quả của việc bán hàng.
- Giai đoạn thứ hai: Khi khách hàng nhận được hàng theo đúng chủng loại
trên hợp đồng kinh tế, khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Đến đây quá
trình bán hàng kết thúc, hàng hoá được coi là tiêu thụ và hình thành kết quả kinh
doanh .
Những đặc điểm của quá trình tiêu thụ :
- Có sự thỏa thuận giữa người mua, người bán về số lượng, chất lượng chủng
loại của hàng hoá trên cơ sở hợp đồng kinh tế.
- Có sự thay đổi quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá từ người bán sang
người mua thông qua quá trình bán hàng.
- Người bán giao cho người mua một lượng hàng hoá và nhận được tiền hoặc
được chấp nhận thanh toán. Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán hàng, được
dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và
hình thành nên kết quả của việc tiêu thụ hàng hoá trong kỳ của doanh nghiệp.
Tiêu thụ hàng hoá bao gồm :
- Tiêu thụ ra ngoài: Là việc bán hàng cho các đơn vị khác hoặc cá nhân trong
và ngoài doanh nghiệp .
- Tiêu thụ nội bộ: Là việc bán hàng giữa các đơn vị thành viên cùng trong
hạch toán vào doanh thu và doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ Nhà nước.
Chứng từ kế toán sử dụng là hoá đơn GTGT hoặc phiếu xuất kho do doanh
nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 3 liên: 1 liên giao cho người nhận hàng, 2
liên chuyển cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán.
- Bán lẻ:
Theo hình thức này, hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng, bán lẻ
là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động của hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu dùng. Đối tượng của bán lẻ là mọi cá nhân trong và ngoài nước muốn có một
giá trị sử dụng nào đó không phân biệt giai cấp, quốc tịch.
Đặc trưng của phương thức bán lẻ là kết thúc nghiệp vụ bán hàng thì sản
phẩm rời khỏi lĩnh vực lưu thông đi vào lĩnh vực tiêu dùng giá trị sử dụng của sản
Trang 10
www.document.vn
phẩm được thực hiện. Hàng bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, và thanh toán ngay và
thường bằng tiền mặt nên thường ít lập chứng từ cho từng lần bán. Bán lẻ được chia
làm 2 hình thức:
+.Bán lẻ thu hồi trực tiếp .
+ Bán lẻ thu hồi tập trung.
b2. Phương thức tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng chờ chấp nhận.
Căn cứ vào hợp đồng đã ký, đến ngày giao hàng, doanh nghiệp sẽ xuất kho
để chuyển hàng cho bên mua bằng phương tiện của mình hoặc đi thuê ngoài đến địa
điểm đã ghi trong hợp đồng, chi phí vận chuyển này do bên nào chịu tuỳ thuộc vào
sự thoả thuận của hai bên và được ghi trong hợp đồng kinh tế. Hàng gửi đi vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, khi người mua thông báo đã được nhận hàng
và chấp nhận thanh toán thì số hàng đó được coi là tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán
vào doanh thu.
Chứng từ sử dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn
kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 4 liên: 1 liên
gửi cho người mua, 2 liên gửi cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán, 1 liên
thủ kho giữ .
định. Thông thường số tiền thanh toán ở các kỳ bằng nhau, trong đó một phần là
doanh thu gốc một phần là lãi suất trả chậm.
b5. Phương thức tiêu thụ nội bộ.
Tiêu thụ nội bộ là việc mua bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ giữa các
đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong
cùng một công ty, tập đoàn, liên hiệp các xí nghiệp ...Ngoài ra, tiêu thụ nội bộ còn
bao gồm các khoản sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất biến, tăng, xuất trả lương,
thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Các phương pháp xác định giá vốn hàng hoá tiêu thụ.
a. Đánh giá hàng hoá theo giá vốn :
- Giá thành hàng hoá nhập kho được xác định phù hợp với từng nguồn nhập:
+ Hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất, chế tạo được đánh giá theo chi phí sản
xuất, kinh doanh thực tế bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sản xuất
chung.
+ Hàng hoá thuê ngoài gia công, được đánh giá theo chi phí thực tế gia công
gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đem gia công. Chi phí thuê ngoài gia công và
các chi phí khác liên quan trực tiếp đến quá trình gia công như chi phí vận chuyển,
Trang 12
www.document.vn
chi phí làm thủ tục xuất kho nguyên vật liệu đem gia công, nhập kho thành phẩm để
hoàn thành gia công.
- Đối với hàng hoá xuất kho cũng phải được thể hiện theo giá vốn thực tế.
Hàng hoá xuất kho cũng có thể theo những giá thực tế khác nhau ở từng thời điểm
trong kỳ hạch toán, nên việc hạch toán xác định giá trị thực tế hàng hoá xuất kho có
thể áp dụng một trong các phương pháp chủ yếu sau :
+ Phương pháp giá đơn vị bình quân:
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo
giá bình quân ( bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước hoặc bình quân sau
mỗi lần nhập).
Giá thực tế vật
Lượng thực tế vật liệu tồn trước khi nhập cộng lượng nhập
Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập lại khắc phục nhược
điểm của 2 phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm của phương
pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần.
+ Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nhập trước thì xuất trước,
xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất.
Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế vật liệu mua trước sẽ được
dùng làm giá thực tế vật liệu xuất trước và do vậy giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ
là giá thực tế của số vật liệu mua vào sau cùng. Phương pháp này thích hợp trong
trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm.
+ Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO).
Phương pháp này giả định vật liệu mua sau cùng sẽ được xuất trước tiên,
ngược lại với phương pháp nhập trước, xuất trước ở trên. Phương pháp nhập sau
xuất trước thích hợp trong trường hợp lạm pháp.
+ Phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này, vật liệu được xác định giá trị theo đơn chiếc hay
từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trường hợp điều
chỉnh). Khi xuất vật liệu nào sẽ tính theo giá thực tế của vật liệu đó. Do vậy, phương
pháp này còn có tên gọi là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá trị
thực tế đích danh và thường sử dụng với các loại vật liệu có giá trị cao và có tính
tách biệt.
+ Phương pháp giá hạch toán:
Theo phương pháp này, toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ được tính giá
hạch toán (Giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định tronh kỳ). Cuối kỳ kế toán sẽ tiến
hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá thực tế theo công thức:
Trang 14
www.document.vn
Giá vật liệu thực tế xuất dùng
(hoặc tồn kho cuối kỳ)
+
Trị giá hạch toán hàng hoá
nhập kho trong kỳ
Phương pháp này áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp nhưng thường là
doanh nghiệp có loại quy mô lớn, khối lượng hàng hoá tiêu thụ nhiều, tình hình
nhập xuất diễn ra thường xuyên, việc xác định giá hàng ngày khó khăn và ngay cả
tronh trường hợp xác định được song tốn kém nhiều chi phí, không hiệu quả cho
công tác kế toán. Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được hệ
thống giá hạch toán khoa học, hợp lý.
3. Hạch toán tiêu thụ hàng hoá theo phương pháp kê khai thường xuyêna.
a. Chứng từ và tài khoản kế toán sử dụng.
Trang 15
www.document.vn
* Các chứng từ kế toán sử dụng.
- Hoá đơn GTGT.
- Hoá đơn bán hàng.
- Hoán đơn tự in, chứng từ đặc thù.
- Bảng kê bán lẻ.
- Giấy báo Có của ngân hàng, phiếu thu...
* Các tài khoản kế toán sử dụng.
- Tài khoản 155 - Thành phẩm: Tài khoản này được sử dụng để phản ánh giá
trị hiện có, tình hình biến động của các loại thành phẩm nhập kho của doanh nghiệp
theo giá thành thực tế (giá thành công xưởng thực tế)
Bên Nợ: Các Nghiệp vụ ghi tăng giá thành thực tế thành phẩm.
Bên Có: Các Nghiệp làm giảm giá thành thực tế thành phẩm.
Dư Nợ: Giá thành thực tế thành phẩm tồn kho.
- Tài khoản 157 - Hàng gửi bán: Tài khoản này dùng để phản ánh giá vốn
hàng gửi bán, ký gửi, đại lý ( trị giá mua của hàng hoá; giá thành công xưởng của
sản phẩm, dịch vụ ) chưa xác định là tiêu thụ. Tài khoản 157 được mở chi tiết theo
từng loại sản phẩm dịch vụ, hàng hoá, từng lần gửi hàng, từ khi gửi đi cho đến khi
trường hợp sau :
+ Hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thuế, doanh thu bán hàng ghi theo giá bán chưa có thuế
GTGT.
+ Hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp và hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế xuất khẩu, doanh thu bán hàng ghi theo giá thanh toán với người mua gồm
cả thuế phải chịu.
- Tài khoản 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ: Tài khoản này được dùng để phản ánh
doanh thu của số hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, sản phẩm tiêu thụ nội bộ giữa các xí
nghiệp trực thuộc trong cùng một Tổng công ty, công ty tập đoàn...
Tài khoản512 cuối kỳ không có số dư và được mở chi tiết thành 3 tài khoản
cấp 2:
+ Tài khoản 5121 - Doanh thu bán hàng hoá.
+ Tài khoản 5122 - Doanh thu bán sản phẩm.
+ Tài khoản 5123 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
Trang 17
www.document.vn
(Nội dung phản ánh tương tự như tài khoản 511)
- Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán: Tài khoản này dùng để xác định giá vốn
của hàng hoá, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ. Tài khoản 632 không
có số dư và có thể được mở chi tiết theo từng mặt hàng, từng dịch vụ, từng thương
vụ... tuỳ theo yêu cầu cung cấp thông tin và trình độ cán bộ kế toán cũng như
phương tiện tính toán của từng doanh nghiệp. Riêng trong các doanh nghiệp thương
mại, tài khoản 632 còn phản ánh cả phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ trong kỳ.
Nội dung ghi chép tài khoản 632 như sau:
Bên Nợ: + Tập hợp giá vốn của hàng đã tiêu thụ trong kỳ( trị giá mua của
hàng hoá; giá thành thực tế của dịch vụ, sản phẩm).
+ Phí thu mua phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.
Bên có: + Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá đã bán bị người mua trả lại.
Trang 19
TK 155 TK 157 TK 632 TK 511 TK 111, 112
(1)
TK 3331
(3)
(2)
TK 511
TK 33311
TK 515
(1)
(2)
(3)
TK 511
(5)
TK 111, 112
(4)
(6)
www.document.vn
(1) Doanh thu theo giá bán thu tiền ngay (không kể thuế GTGT).
(2) Thuế GTGT phải nộp tính trên giá bán thu tiền ngay.
(3) Lợi tức trả chậm.
(4) Số tiền người mua trả lần đầu.
(5) Tổng số tiền còn phải thu của người mua.
(6) Thu tiền của người mua các kỳ sau.
Trang 20
www.document.vn
* Phương thức bán hàng qua các đại lý. (ký gửi)
(1) Xuất kho hàng hoá gửi bán.
(2a) Giá vốn hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
(2b) Tổng giá thanh toán, thuế GTGT phải nộp,
Bên Nợ: Trị giá thành phẩm tồn kho cuối kỳ.
Bên Có: Kết chuyển trị giá thành phẩm tồn kho đầu kỳ.
Dư Nợ: Trị giá thành phẩm tồn kho tại thời điểm kiểm kê.
- Tài khoản 157 - Hàng gửi bán:
Bên Nợ: Trị giá hàng gửi bán cuối kỳ.
Bên Có: Kết chuyển trị giá hàng gửi bán đầu kỳ.
Dư nợ: Trị giá hàng gửi bán chưa bán được tại thời điểm kiểm kê.
- Tài khoản 631 - Giá thành
Bên Nợ: Kết chuyển trị giá thành phẩm dở dang đầu kỳ.
Bên Có: Kết chuyển trị giá thành phẩm dở dang cuối kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
- Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán
Bên Nợ: - Giá vốn hàng bán chưa tiêu thụ đầu kỳ.
- Tổng giá thành sản phẩm, dịch vụ sản xuất hoàn thành trong
kỳ.
Bên Có: - Kết chuyển giá vốn hàng bán chưa tiêu thụ cuối kỳ.
- Kết chuyển giá vốn hàng bán chưa tiêu thụ trong kỳ.
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư.
- Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản: TK 511, TK 512, TK
521, TK 531, TK 532, TK 154 ...
b. Phương pháp hạch toán
(1) Kết chuyển trị giá hàng tồn kho cuối kỳ và hàng gửi bán chưa được tiêu thụ.
(2) Kết chuyển trị giá hàng tồn kho đầu kỳ và hàng gửi bán chưa được tiêu thụ.
Trang 22
TK 155,157 TK 632
(1)
(2)
TK 154 TK 631
(3)
(4)
www.document.vn
Bên Có: Kết chuyển toàn bộ chiết khấu thương mại vào bên nợ tài khoản
511,512.
Cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 3 tiểu khoản:
+ TK 5211 - Chiết khấu hàng hoá.
+ TK 5212 - Chiết khấu thành phẩm.
+ TK 5213 - Chiết khấu dịch vụ.
- Trình tự hạch toán:
b.Hàng bán bị trả lại.
- Nội dung: là những hàng hoá đã được coi là tiêu thụ nhưng bị khách hàng
trả lại do không phù hợp với yêu cầu của khách.
- Tài khoản sử dụng.
Tài khoản 531 - Hàng bán bị trả lại: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do không
đúng quy cách, phẩm chất hoặc do vi phạm hợp đồng kinh tế...
Nội dung ghi chép của tài khoản 531 như sau:
Bên Nợ: Tập hợp doanh thu của hàng bán bị trả lại chấp nhận cho người mua
trong kỳ (đã trả lại tiền cho người mua hoặc tính trừ vào nợ phải thu).
Bên Có: Kết chuyển số doanh thu của hàng bán bị trả lại.
Tài khoản 531 cuối kỳ không có số dư.
- Trình tự hạch toán.
Trang 24
TK 111,112,131,... TK 521 511,512
Các khoản chiết khấu
phát sinh trong kỳ
Kết chuyển toàn bộ
chiết khấu
TK 632 TK 156 TK 111,112,131 TK 531 TK 511
(1)
(3)