Tài liệu Lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại - Pdf 10

Lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại
LỰA CHỌN BẤT LỢI
Thuật ngữ lựa chọn bất lợi (adverse selection) được gắn với ngành bảo
hiểm. Sự lựa chọn người mua bảo hiểm không phải là một mẫu ngẫu nhiên của
tổng thể dân số, mà là một nhóm người với thông tin riêng về tình huống cá nhân
của mình. Điều này làm cho những người mua bảo hiểm có xu hướng thu lợi từ
hợp đồng bảo hiểm cao hơn mức bình quân. Ví dụ, nếu một công ty bảo hiểm phát
hành một hợp đồng bảo hiểm y tế cá nhân, trong đó cam kết trang trải chi phí y tế
khi mang thai và sinh đẻ, thì có thể đánh cược một cách khá chắc chắn rằng những
người mua hợp đồng này đa số sẽ là các phụ nữ có kế hoạch sinh con trong tương
lai gần. Kế hoạch sinh con là thông tin riêng, tức là đặc điểm không quan sát được
của người mua bảo hiểm và điều này có tác động rất lớn tới chi phí bảo hiểm. Việc
cung cấp bảo hiểm mang thai và sinh đẻ một cách toàn diện cho từng cá nhân chịu
ảnh hưởng bởi vấn đề lựa chọn bất lợi một cách nghiêm trọng. Do vậy, ở Hoa Kỳ
không còn có kiểu bảo hiểm toàn diện như thế này và hầu hết bảo hiểm y tế là do
khu vực tư nhân thực hiện.
Ở nhiều nước, sự không đầy đủ của dịch vụ bảo hiểm y tế tư nhân đã khiến
chính phủ phải quốc hữu hóa dịch vụ y tế, mặc dù kết quả đạt được là cả tích cực
lẫn tiêu cực. Ở Hoa Kỳ, khu vực tư nhân đã phản ứng bằng cách phát triển một
thông lệ hoạt động mới - bảo hiểm y tế nhóm - với vai trò thay thế một phần cho
việc thiếu vắng thị trường các hợp đồng bảo hiểm y tế. Theo thông lệ hiện đại,
phần lớn bảo hiểm mang thai và sinh đẻ được cung cấp thông qua các kế hoạch
bảo hiểm y tế do tổ chức sử dụng lao động đóng góp. Theo hình thức này, bảo
hiểm mang tính tự động và bắt buộc đối với tất cả các thành viên của một nhóm
người lao động. Do việc tham gia không phải tự nguyện và do lợi ích bảo hiểm
mang thai và sinh đẻ được gắn với các lợi ích y tế khác, công ty bảo hiểm có thể
đảm bảo có được một tập hợp đa dạng người mua bảo hiểm và tránh được tình
trạng lựa chọn bất lợi.
Một ví dụ thứ hai về lựa chọn bất lợi là bảo hành xe hơi. Xe mới thường có
bảo hành, trong đó nhà sản xuất trả tiền cho mọi vấn đề nảy sinh (trừ bảo trì định
kỳ) đối với xe hơi trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như một năm hay

việc ai là người ở phía bên kia giao dịch. Điều này không còn đúng khi có lựa
chọn bất lợi. Trong mô hình tân cổ điển, mỗi doanh nghiệp có một tập hợp xác
định các kế hoạch khả thi về kỹ thuật. Mỗi kế hoạch bao gồm những thứ mà doanh
nghiệp phải mua và bán để thực hiện kế hoạch. Khi có lựa chọn bất lợi, nguồn lực
cần để cung cấp bảo hiểm phụ thuộc không chỉ vào việc bao nhiều hợp đồng bảo
hiểm được bán mà con vào các đặc điểm không quan sát được của người mua.
Doanh nghiệp không thể xác thực được tính khả thi kỹ thuật của kế hoạch sản xuất
của mình nếu không biết hỗn hợp các đặc điểm không quan sát được của khách
hàng. Những điều này không chỉ phụ thuộc vào kế hoạch của doanh nghiệp mà
còn vào những sản phẩm bảo hiểm của các đối thủ cạnh tranh, vào giá của những
sản phẩm, và vào hỗn hợp các đặc điểm của toàn dân số. Trong mô hình tân cổ
điển, không một yếu tố nào trong những yếu tố trên được phép tác động đến tính
khả thi kỹ thuật của một kế hoạch sản xuất.
Lựa chọn bất lợi và đóng cửa thị trường
Khi vấn đề lựa chọn bất lợi trở nên đặc biệt nghiêm trọng, thì có thể không
có mức giá nào mà lượng cung hàng hóa của người bán bằng với lượng cầu của
người mua. Vấn đề là giá phải đồng nhất đối với mọi người mua, cho dù chi phí
phục vụ từng loại khách hàng có thể khác nhau, vì người bán không quan sát được
đối tượng nào có chi phí cao và đối tượng nào có chi phí thấp. Tuy nhiên, chỉ có
những người nào có thông tin riêng ch thấy mức giá là có lợi thì mới mua. Đó
thường là những người (như các phụ nữ có kế hoạch sinh con và đang tính toán
mua bảo hiểm với các lợi ích khi sinh đẻ) có chi phí phục vụ cao. Nếu việc bán sản
phẩn còn có thêm chi phí quản lý thì giá sẽ phải đủ cao để người bán có thể hòa
vốn trong tình huống mà cả những người định giá sản phẩm cao nhất cũng không
mua. Mọi mức giá thấp hơn mức giá hòa vốn này sẽ chỉ thu hút những người mà
chi phí phục vụ cao hơn giá bán. Do vậy, thị trường hoàn toàn sụp đổ. Thị trường
sụp đổ trong khi nếu không có thông tin riêng thì thương mại lẽ ra là có lợi. Ví dụ,
chi phí mua bảo hiểm sinh đẻ có thể vô cùng cao, đến mức cao hơn cả chi phí
thanh toán dịch vụ y tế trực tiếp.
Phát tín hiệu và sàng lọc

cuộc sống hàng ngày. Ví dụ, bạn thường cận thận hơn rất nhiều khi lái một chiếc
xe thuê mà mình phải chịu trách nhiệm tài chính đối với mọi sự hỏng hóc so với
trường hợp mua bảo hiểm để không phải chịu trách nhiệm trang trải chi phí nếu
đụng xe. Tương tự, nếu một người mua bảo hiểm y tế để không phải chịu hầu như
bất cứ chi phí nào khi đi khám bệnh thì người sẽ có xu hướng sử dụng các dịch vụ
y tế các loại với tần suất nhiều hơn: đến bác sĩ để khám bệnh, đến phòng cấp cứu,
yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc, khám thai, v.v… Trong mỗi trường hợp, việc mua
bảo hiểm làm thay đổi hành vi, từ đó làm tăng chi phí cho bên cung cấp bảo hiểm.
Các tác động về hiệu quả của tâm lý ỷ lại
Mặc dù khái niệm tâm lý ỷ lại có ý tiêu cực, nhưng không phải mọi thay
đổi hành vi do bảo hiểm gây ra là không mong muốn về mặt xã hội. Đó là vì một
số lợi ích xã hội có thể không được thể hiện trong thương lượng giữa bên cung cấp
bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Ví dụ, việc gia tăng số lần đến khám thai sẽ có
tác động làm tăng sức khoẻ của cả mẹ và con, một tác động phù hợp với những
mục tiêu của xã hội. Hơn nữa, công ty bảo hiểm có thể không gặp phải tâm lý ỷ lại
nếu định mức phí bảo hiểm đủ cao để bù đắp cho chi phí. Mặc dù vậy, tâm lý lại
có tác động đến khả năng thực hiện các thỏa thuận hai bên cùng có lợi và thường
gây ảnh hưởng xấu cho hiệu quả.
Tâm lý ỷ lại trong bảo hiểm tạo ra vấn đề về hiệu quả bởi vì những lợi ích
gia tăng mà người mua bảo hiểm được hưởng do thay đổi hành vi thường không
bằng chi phí. Điều này xảy ra vì người mua bảo hiểm khi thay đổi hành vi không
xem xét tất cả các loại ích và chi phí liên quan đến quyết định của mình. Hơn nữa,
bản chất của bảo hiểm là cho điều này là không thể tránh khỏi. Trong ví dụ thuê
xe, khi không có bảo hiểm ta chịu toàn bộ chi phí nếu không sử dụng xe cẩn thận;
nhưng khi đã được bảo hiểm thì việc giữ xe cẩn thận không đem lại lợi ích thêm
nào cả.
Động cơ khuyến khích thay đổi hành vi sẽ không gây trục trặc gì cả nếu ta
có thể dễ dàng xác định khi nào hành vi là phù hợp và đề phòng việc sử dụng quá
mức. Tuy nhiên, giám sát như vậy thường không thể làm được hoặc ít nhất cũng là
rất tốn kém. Hãng cho thuê xe hầu như không có cách thức hữu hiệu về mặt chi

hoạt động giám sát và kiểm chứng. Đôi khi người ta có ý tưởng ngăn chặn hành vi
không thích hợp bằng cách trực tiếp loại trừ nó trước khi nó xảy ra. Ví dụ, các
công ty Mỹ không được phép công bố các báo cáo tài chính trước khi những báo
cáo này được kiểm toán độc lập kiểm chứng. Trong các tình huống khác, giám sát
có mục tiêu giảm thiểu khả năng thực hiện hành vi tư lợi, không hiệu quả cho xã
hội, nhưng lại trốn thoát mà không ai phát hiện ra được. Trong trường hợp này,
các kết quả của giám sát là cơ sở để thưởng và phạt. Ví dụ, công nhân thường
được yêu cầu nhấn đồng hồ tính giờ khi đến và rời nơi làm việc, và sẽ bị cắt lương
hay chịu các hình phạt khác nếu đến muộn hay về sớm. Giám sát cũng được sử
dụng làm cơ sở cho hệ thống thưởng khi có hành vi tốt.
Trong một số tình huống, giám sát hành vi thực tế hay kiểm chứng tính
đúng đắn của một báo cáo có thể quá tốn kém nên không đáng để thực hiện. Tuy
nhiên, vẫn có thể quan sát được kết quả và tạo ra các động cơ khuyến khích để
tưởng thưởng cho hành vi tốt. Ví dụ, thậm chí nếu không thể giám sát được sự cẩn
thận và kỹ năng của công nhân bảo trì máy, thì người ta vẫn có thể tính được tỷ lệ
thời gian máy bị hỏng hóc. Nếu tỷ lệ hư hỏng máy hoàn toàn được quyết định bởi
hiệu quả làm việc của công nhân bảo trì thì việc gắn tiền lương vào tỷ lệ hỏng hóc
máy sẽ hoàn toàn tương đường với gắn tiền lương vào mức độ cẩn thận và kỹ
năng. Tuy nhiên, mối liên kết hoàn hảo giữa hành động không quan sát được và
kết quả tạo ra quan sát được là rất hiếm. Thường thì hành vi của con người chỉ xác
định được một phần kết quả và không thể nào tách biệt một cách chính xác tác
động của hành vi. Ví dụ, tổng doanh số của một doanh nghiệp phụ thuộc không
chỉ vào nỗ lực của nhân viên bán hàng mà còn vào một loạt các yếu tốc khác như
giá và chính sách quản cáo của doanh nghiệp, giá và chính sách khuyến mãi của
đối thủ cạnh tranh và các điều kiện khác ảnh hưởng đến cầu của người tiêu dùng.
Do vậy, tưởng thưởng trên cơ sở của kết quả làm cho thu nhập của các nhân viên
bán hàng bị phụ thuộc vào các yếu tố ngẫu nhiên, không kiểm soát được. Một tác
động tương tự cũng nảy sinh khi kết quả hoàn toàn được xác định bởi nỗ lực của
công nhân nhưng không thể đo lường một cách chính xác, mà chỉ được ước tính
với một sai số ngẫu nhiên, không biết trước. Như vậy, trong trường hợp này thì thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status