TRƯỜNG
KHOA……………………
TIỂU LUẬN
Đề tài
Quản lý và trả lương cho cán
bộ công nhân viên của công
ty
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
LỜI NÓI ĐẦUTiền lương luôn là vấn đề được xã hội quan tâm, bởi ý nghĩa kinh tế
xã hội to lớn của nó. Đối với người lao động tiền lương luôn là nguồn thu
nhập quan trọng nhất giúp họ đảm bảo được cuộc sống bản thân và gia
đình. Đối với một doanh nghiệp, tiền lương vốn là một phần không nhỏ
của chi phí sản xuất và đối với nền kinh tế đất nước tiền lương là sự cụ
thể hoá quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động
trong xã hội tạo ra. Vì vậy, việc xây dựng tháng lương, quỹ lương, lựa
Tiền lương là một phần thu nhập quốc dân được biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch
cho nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà mỗi người
cống hiến.
Tiền lương trong nền kinh tế thị trường.
Đặc biệt là trong khu vực sản xuất kinh doanh. tiền lương là
một số lượng tiền tệ m0à người sử dụng lao động trả cho người lao động
theo giá trị sức lao động, là hao phí trên cơ sở thỏa thuận theo hợp đồng
lao động.
Tiền lương tối thiểu.
Là mức tiền lương trả cho người lao động làm những công
việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao
động giản đơn và một phần tích lũy, tái sản xuất sức lao động.
Tiền lương danh nghĩa.
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất
lao động và hiệu qủa làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ,
kinh nghiệm làm việc,… ngay trong quá trình lao động.
Tiền lương thực tế.
Được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các
loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được
bằng tiền lương danh nghĩa của họ và được tính bằng công thức sau:
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
sáng tạo của họ, làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao đối với công việc.
tiền lương cao hay thấp là yếu tố quyết định đến ý thức công việc của họ
đối với Công ty. Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mà phần
lớn lao động được tuyển dụng trên cơ sỡ hợp đồng lao động, người lao
động có quyền lựa chọn làm việc cho nơi nào mà họ cho là có lợi nhất. Vì
vậy chính tiền lương điều kiện đảm bảo cho Doanh nghiệp có một đội
ngũ lao động lành nghề. Thông qua tiền lương, người lãnh đạo hướng
người lao động làm việc theo ý định của mình, nhằm tổ chức hợp lý, tăng
cường kỷ luật lao động cũng như khuyến khích tăng năng suất lao động
trong sản xuất.
Về mặt nội dung, tiền lương là phạm trù kinh tế tổng hợp, cụ thể là:
Tiền lương là một phạm trù trao đổi
.
Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, nhưng cũng như các
loại hàng hoá khác, khi được đem ra mua – bán trên thị trường thì nó phải
tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, giá cả hàng hoá sức lao động
phải ngang bằng với giá cả các tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiến
hành tái tạo sức lao động. Trong điều kiện hiện nay khi cung về lao động
lớn hơn cầu về lao động thì việc mua bán sức lao động thực sự chưa tuân
thủ đúng nguyên tắc này một số trường hợp người lao động phải chấp
nhận tiền công rẽ, không bằng với sức lao động mà người lao động bỏ ra
hay nói cách khác: sự trao đổi không ngang giá đã gây ra nhiều tiêu cực
trong XH và chúng ta cần phải có những biện pháp để hạn chế.
Tiền lương là một phạm trù phân phối .
Sản xuất hàng hoá của Doanh nghiệp , của cải vật chất của
XH do người lao động làm ra và nó được phân phối lại cho người lao
việc, thời gian, tay nghề và năng suất lao động như nhau thì tiền lương
được hưởng như nhau, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác,…
Chế độ XH hiện nay, nguyên tắc này không mất đi mà tiếp tục tồn tại.
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc
độ tăng bình quân.
Qui định này là một nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền
lương vì có như vậy mới tạo cơ sở cho giảm giá thành và tăng tích lũy.
Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, một phần giá trị
mới sáng tạo, tiền lương là hình thức và là công cụ cơ bản thực hiện
nguyên tắc này. Điều đó đồng thời có nghĩa rằng xét ở tầm vĩ mô, chỉ
được phép phân phối và tiêu dùng trong phạm vi thu nhập quốc dân, tốc
độ tăng tiền lương không được tăng hơn tốc độ tăng năng suất lao động .
Tiền lương bình quân tăng lên phụ thuộc vào những nhân tố
chủ quan do nâng cao năng suất lao động ( nâng cao trình độ lành nghề,
giảm bớt tổn thất về thời gian lao động …).
Năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố
trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan khác (áp dụng
kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên…). Như vậy, tốc độ
tăng năng suất lao động rõ ràng là có khả năng khách quan lớn hơn tốc độ
tăng của tiền lương bình quân.
Không những thế, khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ
tăng năng suất lao động với tiền lương thực tế, giữa tích lũy và tiêu dùng.
Trong thu nhập quốc dân ta thấy chúng có mối quan hệ liên hệ trực tiếp
với tốc độ phát triển khu vực I ( sản xuất tư liệu sản xuất) và khu vực II
(sản xuất vật phẩm tiêu dùng). Do yêu cầu của tái sản xuất mở rộng đòi
hỏi khu vực I phải tăng nhanh hơn khu vực II. Tốc độ tăng của tổng sản
phẩm XH (I + II) lớn hơn tốc độ tăng của khu vực II làm cho sản phẩm
XH tính bình quân theo đầu người lao động tăng. Vậy trong phạm vi nền
Không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định cho từng
vùng, từng ngành.
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Người lao động làm đêm, làm thêm giờ phải cho nghỉ hoặc trả lương
thêm theo qui đinh.
Doanh nghiệp trả lương và các khoản phụ cấp trực tiếp cho từng
người lao động trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn tại nơi làm việc và bằng tiền
mặt.
Khi Doanh nghiệp bố trí lao động tạm thời chuyến sang làm một
công việc khác thì tiền lương không được thấp hơn mức lương của công
viêc trước.
Khi Doanh nghiệp phá sản thì tiền lương phải ưu tiên thanh toán cho
người lao động trước.
Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.
Đảm bảo tính đơn giản, dễ hiểu.
III. Một số chế độ trả lươngvà các hình thức trả lương.
III. 1. Các chế độ trả lương.
Chế độ tiền lương cấp bậc.
a. Khái niệm.
Là một văn bản qui định của Nhà nước mà các Doanh nghiệp dựa
vào đó để trả lương cho công nhân theo chất lượng lao động của họ.
b. Các yếu tố của chế độ tiền lương cấp bậc.
b.1.Thang lương :
Là bảng xác định tỷ lệ tiền lương giữa những công nhân cùng nghề
hoặc cùng nhóm nghề giống nhau theo trình độ và cấp bậc của họ. Mỗi
thang lương có một số bậc lương và các hệ số phù hợp với các bậc đó.
Thang lương thực tế.
Chỉ tiêu
I II III IV
V VI
V
II
Hêsố lương 1.35 1.47
1.62 1.78 2.18 2.67 3.28
H
ệ số tăng tuyệt
đối
0.12
0.15 0.16 0.40 0.49 0.61
Hệ số tăng t
ương
đối
8.9 9.2 9.89 22.4 22.47 22.8
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Là lượng tiền để trả lương lao động cho một đơn vị thời gian, phù
hợp với các bậc trong thang lương, thường thì nhà nước quy định mức
suất lợi nhuận thực hiện trên vốn giao, tất cã những cái trên người ta dùng
phương pháp cho điểm và chuyển sang hạng, số hạng càng cao thì hệ số
lương càng cao.
III.2 Các hình thức trả lương .
1. Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Theo hình thức này thì tiền lương của công nhân được căn cứ vào
đơn giá sản phẩm và số lượng sản phẩm được chế tạo đảm bảo chất
lượng. Công thức tính tiền lương sản phẩm được xác định như sau:
TLsf : Tiền lương sản phẩm.
DGi : Đơn giá từng loại sản phẩm.
SFi : Số lượng từng loại sản phẩm.
i : Chủng loại sản phẩm.
Tiền lương sản phẩm phụ thuộc vào sản phẩm i. Đơn giá là số lượng
tiền tệ quy định đề tài cho người lao động khi chế tạo một sản phẩm đảm
bảo chất lượng.
Đơn giá được tính bằng công thức:
Scn :suất lương cấp bậc công
M
TG
: Mức thời gian quy định sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
TLsf =
n
mặt chất lượng.
Để có được mức sản phẩm thì phải có chi phí lớn cho cấp bậc công
việc so với trả lương thời gian.
c. Phạm vi áp dụng.
Xuất phát từ mục đích hay mục tiêu trả lương sản phẩm, làm thế nào
để khuyến khích công nhân làm ra nhiều sản phẩm, do đó chỉ áp dụng với
nơi nào cần nhiều sản phẩm và những nơi sản xuất thủ công bán cơ giới,
những nơi sản xuất gián đoạn có chu kỳ.
d. Điều kiện để áp dụng.
Chỉ có khi nào áp dụng trả lương theo sản phẩm và có hiệu quả. Lựa
chọn và xây dựng các định mức có căn cứ khoa học. Có 2 loại định mức:
mức sản lượng và mức thời gian. Tổ chức phục phụ nơi làm việc tạo điều
kiện cho người lao động được thuận lợi, tạo ra được nhiều sản phẩm và
rút ngắn thời gian định mức. Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm kê,
kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm để xác định được chất lượng, số lương sản
phẩm để làm căn cứ trả lương đúng cho người công nhân.
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
e. Các chế độ trả lương theo sản phẩm.
e.1. Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Tiền lương của công nhân được phụ thuộc vào đơn giá và sản lượng
sản phẩm mà công nhân đó chế tạo đảm bảo chất lượng.
Công thức tính :
Trong đó:
ĐG : Đơn giá sản phẩm.
L : Lương theo cấp bậc công việc.
Q : Mức sản lượng.
Scv là suất lương cấp bậc công việc của từng công nhân .
Msl là Mức sản lượng quy định sản xuất ra trong một đơn vị thời
gian
Mtg là Mức thời gian quy định sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Ưu điểm:
Khuyến khích công nhân trong tổ nâng cao trách nhiệm trước tập thể
quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ hai nhóm.
Nhược điểm:
ĐGtt =
M
stt
n
i
Scv
1
=
n
i
Scv
1
x Mtg
ĐG =
MxQ
L Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Tiền lương sẽ được trả theo số lượng mà công nhân hoàn thành ghi
trong phiếu giao khoán.
Chế độ lương khoán khuyến khích công nhân hoàn thành nhiệm vụ
trước thời hạn, đảm bảo đã ghi chất lượng công việc thông qua hợp đồng
giao khoán.
e.5. Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng.
Chế độ trả lương này về thực chất là các chế độ trả công sản phẩm kể
trên kết hợp với các hình thức tiền thưởng.
Khi áp dụng hình thức trả lương này, toàn bộ sản phẩm được áp dụng
theo đơn giá cố định còn tiền thưởng sẽ căn cứ vào trình độ hoàn thành và
hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng của chế độ
tiền lương quy định.
Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng (Lth) được tính theo công
thức: Trong đó :
L: Tiền lương trả theo sản phẩm với đơn giá cố định.
m: % tiền thưởng cho 1% hoàn thành kế hoạch.
h: % hoàn thành vượt mức chỉ tiêu thường.
Hình thức này khi áp dụng đây là điều kiện tốt khi áp dụng để tạo
động lực thúc đẩy khuyến khích người công nhân làm việc tốt hơn.
t
c
: Tỉ lệ của số tiền tiết kiệm về chi phí sản xuất gián tiếp cố định
dùng để tăng đơn giá.
d
1
: Tỉ trọng của tiền công công nhân sản xuất trong giá thành sản
phẩm khi hoàn thành vượt mức sản lượng 100%.
Tiền công của công nhân được tính theo công thức sau:
Trong đó:
Q
1
: Là sản lượng thực tế.
K =
d
td
ccd
x
1
x100
Q
Q
Lương giờ.
Lương ngày.
Lương tháng.
Nhược điểm của chế độ trả lương này là mang tính chất bình quân,
không khuyến khích sử dụng hợp lí thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên
vật liệu, tập trung công suất của máy móc để tăng năng suất lao động.
Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng:
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời
gian giản đơn với tiền thưởng, khi đạt được chỉ tiêu về số lượng và chất
lương đã quy định.
Chủ yếu áp dụng với những công nhân phụ làm những công việc
phụ. Ngoài ra còn áp dụng đối với công nhân chính làm việc ở những
khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá cao, tự động hoá hoặc những công
việc tuyệt đối đảm bảo chất lương.
Tiền thưởng được tính bằng cách lấy lương trả theo thời gian đơn
giản nhân với thời gian làm việc thực tế sau đó cộng với tiền thưởng. Chế
độ trả lương này có nhiều ưu điểm không những phản ánh trình độ thành
thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt với thành tích công tác
của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng đã đạt được. Vì vậy, nó
khuyến khích người lao động quan tâm đến trách nhiệm và kết quả công
tác của mình. Do đó, cùng với ảnh hưởng của tiến bộ kĩ thuật, chế độ này
ngày càng được mở rộng.
IV. Tiền thưởng:
1.Định nghĩa:
Tiền thưởng thực chất là khoản bổ sung cho tiền lương nhằm quán
triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao dộng và gắn với hiệu quả sản xuất
kinh doanh của đơn vị.
loại I và loại II trong một thời gian nhất định.
Điều kiện xét thưởng: cần xác định rõ tiêu chuẩn chất lượng các loại
sản phẩm, phải tổ chức kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm.
Nguồn thưởng: dựa vào chênh lệch giá trị sản phẩm, các loại đạt
được so với tỷ lệ sản lượng đạt được.
+Thưởng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Qu¶n trÞ nh©n lùc
NguyÔn §×nh Ph¬ng
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành và hoàn thoành vượt mức kế hoạch
sản xuất.
Điều kiện xét thưởng: đối với công nhân sản xuất và công nhân trực
tiếp sản xuất kinh doanh phải hoàn thành mức lao động được giao, bảo
đảm chất lượng và yêu cầu về qui trình và qui phạm kỹ thuật.
+Thưởng tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và vật liêu.
Chỉ tiêu xét thưởng: hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu tiết
kiệm vật tư.
Điều kiện xét thưởng: tiết kiệm vật tư nhưng phải đảm bảo qui phạm
kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, an toàn lao động, làm tốt công
tác thống kê, hoạch toán số lượng và giá trị vật tư tiết kiệm được.
V. PHÚC LỢI
1. Khái niệm.
Phúc lợi là phần hỗ trợ thêm nhằm đảm bảo đời sống cho người lao
động và tạo điều kiện thuận lợi để tái sản xuất sức lao động.
2. Các loại phúc lợi.
Bao gồm hai loại phúc lợi bắt buộc và không bắt buộc.
Phúc lợi bắt buộc là khoản mà Doanh nghiệp phải trả cho
công nhân viên trong Công ty theo qui định của nhà nước.
Phúc lợi không bắt buộc là khoản Doanh nghiệp tự chi trã
cho công nhân theo quy định của Công ty.
a. Phúc lợi bắt buộc.
giúp Công ty khai thác tốt tiềm năng như công tác tổ chức sản xuất tốt, tổ
chức quản lý lao động, hạch toán chi phí … được thực hiện tốt hơn. Trả
lương hợp lý giúp Doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất mà vẫn
thu được lợi nhuận cao, công tác tiền lương trong các Doanh nghiệp bao
gồm rất nhiều nội dung, từ việc lập và sử dụng qũy lương, lựa chọn các
chế độ trả lương cho người lao động phù hợp, việc tính toán phân phối
tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong Doanh nghiệp đúng, đủ, công
bằng là một vấn đề cấp bách và cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các Doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh dưới sự điều tiết của bàn tay vô hình (thị trường) và bàn
tay hữu hình( Nhà nước ) thì việc quản lý sản xuất kinh doanh cần phải có