GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG CHO CÁN BỘ CÔNG TY SỨ HẢI DƯƠNG - Pdf 33

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
I. TIỀN LƯƠNG
1. Các quan điểm cơ bản về tiền lương.
Tiền lương (hay được gọi là tiền công) là một phạm trù kinh tế, đây là số
tiền mà người sử dụng lao độngtrả cho người lao động khi họ hoàn thành một
công việc nào đó.Tiền lương có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau phụ thuộc
vào tong thời kỳ và cách tiếp cận khác nhau .
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp về thực chất
tiền lương dưới chế độ chủ nghĩa xã hội là một phần thu nhập Quốc dân, biểu
hiện dưới hình thái tiền tệ, được nhà nước phân phối có ké hoạch cho công nhân
viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng của mỗi ngường đã cống hiến.
Tiền lương phản ánh việc trả công cho cán bộ công nhân viên, dựa theo nguyên
tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động .
Hiện nây chúng ta đã chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao câpsang cơ chế thị trường. Do đócác quan điểm truyền thốngđẫ không
còn phù hợp. Tiền lương được coi là giá cả của sức lao động và chịu sự chi phối,
tác động củagiá cả thị trường do quan hệ cung cầu về sức lao động, giá cả hàng
hóa, dịch vụ. Mặc khác, tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tốđể bảo đảm về
nguồn thu nhập, tiền lương cũng là một trong những yếu tố cấu thành chi phí sản
xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp. Vì vậy tiền lương là biểu hiện bằng tiền
của giá trị sức lao động mà người sử dụng phải trả cho người lao động tuân theo
các nguyên tắc cung cầu, giá cả của thị trường và pháp luật hiện hành củanhà
nước.
Trong cơ chế thị trường, tiền lương được nhìn nhận từ nhiều khâu của quá
trình tái sản xuất. Sức lao động là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quá trình tái sản xuất nên tiền lương là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là
giá cả sức lao động và là phạm trù của sự trao đổi, nó đòi hỏi ngang giá của tư

Như vậy, tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa
mà còn phụ thuộc vào giá cả củacác loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ
cần thiết mà họ muốn mua. Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương
thực tế được thể hiện qua công thức sau:
I
TLTT =
TLDN
I
GC
I
TLTT
= I
TLDN
x

I
SMĐT
Trong đó I
TLDN
: Chỉ số tiền lương danh nghĩa.
I
GC
: Chỉ số giá cả.
I
SMĐT
: Chỉ số sức mua đồng tiền.
Như vậy, với một mức tiền lương nhất định, nếu giá cả hàng hóa thị trường

Tiền lương thực chất chỉ là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động theo một thoả thuận nào đó dựa trên những quy định của nhà
nước. Song tiền lương lại là lợi ích vật chất mà người lao động nhận được để nuôi
sống bản thân và gia đình mình, duy trì quá trình tái sản xuất tự nhiên và xã hội.
Do đó chức năng, vai trò của tiền lương rất quan trọng. Cụ thể tiền lương có các
chức năng sau:
+ Tiền lương bảo đảm chức năng tái sản xuất sức lao động : bao gồm cả tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động. Điều này có nghĩa tiền
lương mà người lao động nhận được không chỉ nuôi sống bản thân và gia đình
mình mà còn một phần dành để nâng cao trình độ về mọi mặt cho bản thân và gia
đình, một phần để tích luỹ. Có như vậy mới bảo đảm quá trình tái sản xuất diễn ra
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
liên tục được. Hiện nay ở nước ta nhà nước quy định tiền lương mà người sử
dụng lao động trả cho người lao động phải cao hơn mức lương tối thiểu ( hiện
nay tiền lương tối thiểu ở nước ta quy định là 290.000đ/tháng) mức lương tối
thiểu được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống nhu cầu thiết yếu của con người. Do
đó hầu như tiền lương ở các doanh nghiệp đã bảo đảm được chức năng tái sản
xuất sức lao động, góp phần tạo ra cơ cấu hợp lý trong nền kinh tế khuyến kích
phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ. Tiền lương là đòn bẩy kinh tế thu hút người
lao động làm việc hăng say, nhiệt tình thúc đẩy tăng năng suất lao động, khuyến
khích nâng cao trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, gắn trách nhiệm cá nhân với tập
thể và công việc.
+ Tiền lương bảo đảm chức năng thanh toán: Tiền lương được người lao
động ding thanh toán cho các tư liệu sinh hoạt hàng ngày. Chức năng này giúp
cho việc tính toán các khoản chi tiêu dựa trên tiền lương của mình và tự điều
chỉnh, cân đối chi tiêu cho hợp lý.
+ Tiền lương là thước đo độ cống hiến của người lao động : chức năng này
chính là biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động.
4. Yêu cầu của việc tổ chức tiền lương .

BS
+V
TG
Trong đó: V
C
: Tổng quỹ tiền lương chung năm kế hoạch
V
KH
: Quỹ tiền lương chung năm kế hoạch để xây dựng đơn
giá.
V
PC
: Quỹ các khoản phụ cấp lương và các chế độ khác.
V
BS
: Quỹ tiền lương bổ sung.
V
TG
: Quỹ tiền lương làm thêm giờ.
Sau khi quyết toán tài chính trước khi xây dựng quỹ tiền lương thực hiện
doanh nghiệp phải đánh giá và xác định các khoản nộp ngân sách nhà nước, nộp
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khi đó quỹ tiền lương thực hiện được xác định
như sau:
V
TH
=(V
ĐG
* C
SXKD
) +V

đ
/ tháng.
Đây là giới hạn dưới của khung lương tối thiểu của tất cả các đơn vị trong
công ty. Theo quy định mức lương tối thiểu cho các doanh nghiệp được điều
chỉnh theo ngành, vùng phần tăng thêm tối đa không quá 1,5 lần so với lương tối
thiểu do nhà nước quy định. Mức tiền lương tối thiểu được xác định theo công
thức sau:
TL
Minđc
= TL
Min
x (1 + k
đc
)
k
đc
= k
1
+ k
2
Trong đó :
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
TL
Minđc
: Tiền lương tối thiểu điều chỉnh tối đa doanh nghiệp được phép áp
dụng.
TL
Min
: Mức lương tối thiểu chung do nhà nước quy định

8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xác trong công tác trả lương, nguyên tắc này là căn cứ để xây dựng các thang
lương, bảng lương và các hình thức trả lương khác. Nó còn thể hiện trong cơ chế
và phương thức trả lương.
+Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương
bình quân.
Năng suất lao động không ngừng tăng lên, đó là một quy luật. Tiền lương
của người lao động cũng tăng lên không ngừng do nhiều yếu tố khách quan.Tăng
tiền lương và tăng năng suất lao động có liên hệ chặt chẽ với nhau.
Tăng tiền lương dẫn tới tăng chi phí sản xuất. Tăng năng suất lao động lại
làm cho chi phí trong từng đơn vị sản phẩm giảm. Một doanh nghiệp chỉ thực sự
kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng như chi phí trong một đơn vị
sản phẩm giảm, tức mức giảm chi phí do tăng năng suất lao động phải lớn hơn
mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao đời sống của người lao động.
+ Nguyên tắc 3 : Đảm bảo mối quan hệ hợp lí về tiền lương giữa người lao
động làm các nghề khác nhau.
Do đặc điểm và tính chất phức tạp về kỹ thuật, công nghệ, quy mô của
doanh nghiệp khác nhau. Điều này làm cho tính chất của công việc khác nhau đòi
hỏi trình độ, kinh nghiệm của từng người trong mỗi công việc cũng khác nhau.
Điều kiện, môi trường làm việc có ảnh hưởng đến hiệu quả của công việc
và ngay cả những doanh nghiệp có sự khác nhau, kéo theo những sự khác nhau
về đời sống vật chất tinh thần, văn hoá tập quán. Những sự khác nhau đó gay ảnh
hưởng và làm cho mức sống của mỗi người lao động hưởng lương khác nhau.
• Các chế độ tiền lương.
+ Chế độ tiền lương cấp bậc.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368

- Điều kiện để phân phối quỹ tiền lương .
+ Đối với phòng ban : Các chức năng nhiệm vụ phải được phân công ràng
cho từng cá nhân đúng chức danh tiêu chuẩn nghiệp vụ công việc và phải có kế
hoạch thực hiện tiến độ công việc.
+ Đối với cá nhân : được đánh giá và xếp đúng vào tiêu chuẩn nghiệp vụ,
có kế hoạch thực hiện tiến độ công việc.
4. Hình thức trả lương.
4.1. Chế độ trả lương theo thời gian.
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với người làm công tác
quản lý, đặc biệt đối với những công việc có tính chất ổn định, chức năng nhiệm
vụ không thể tiến hành định mức chặt chẽ và chính xác hoặc vì tính chất của sản
xuất không thể trả lương theo sản phẩm được.
Công thức áp dụng như sau: L
cn
= L
cb
x T
Trong đó:
L
cn
: Lương cấp bậc
L
cb
: Lương cá nhân
T : Thời gian lao động thực tế
Có 3 loại lương theo thời gian là:
- Lương giờ: Tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc
- Lương ngày: Tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc
thực tế trong tháng.
- Lương tháng : Tính theo mức lương cấp bậc tháng.

4.4 Chế độ trả lương kết hợp giữa trả lương theo thời gian, theo năng
suất, kết quả của một nhóm hay toàn công ty, hiệu quả kinh doanh của công ty.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đây là hình thức kết hợp của nhiều yếu tố để khắc phục nhược điểm của
các chế độ trả lương thuần tuý chỉ theo một tiêu thức nhất định nó thường chỉ nên
áp dụng cho các phòng ban như phòng tổ chức hành chính ( hay phòng nhân sự,
phòng tổ chức lao động tiền lương ), phòng kế hoạch...
Bên cạnh các hình thức trả lương đó các doanh nghiệp cũng nên có kết hợp
trả một khoản lương cố định cho họ để cuộc sống của họ không bị bấp bênh.
5. Chế độ tiền thưởng.
Tiền thưởng thực chất là khoản tìên bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt
hơn nguyên tắc phân phối theo lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Tiền thưởng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất đối với
người lao động trong quá trình làm việc. Qua đó nâng cao năng suất lao động,
nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian làm việc.
Có các hình thức thưởng như sau:
+Nâng cao doanh thu cho doanh nghiệp.
+Mở rộng thị trường và thị phần của doanh nghiệp.
+Giảm chi phí giá thành.
+Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm.
+Thưởng tiết kiệm vật tư.
+Thưởng hoàn thành vượt mức lao động .
+thưởng tổng kết cuối năm, vào cá dịp lễ Tết.
+ v.v...
Điều kiện thưởng: là những điều kiện đưa ra để xác định những tiền đề,
những chuẩn mực để thực hiện một hình thức thưởng nào đó, đồng thời với điều
kiện đó được dùng để kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu thưởng. Nhân viên
phải phải đạt được mức mức đề ra thì mới được thưởng, không đạt được mức đó

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chế độ trả lương đối với những người đi học tập, đi công tác, tham gia
hoạt động đảng, đoài , hoạt động văn hoá vă nghệ.
- Chế độ trả lương đối với công nhân viên học nghề, tập sự.
- Kỳ trả lương, địa điểm trả lương.
- Trường hợp khấu trừ lương .
- Chế độ nâng bậc lương .
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRẢ
LƯƠNG CHO BỘ PHẬN QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP
Tiền lương được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau giữa chủ đầu tư,
chủ doanh nghiệp với các nhân viên của mình. Chi phí về tiền lương cao dẫn tới
chi phí sản xuất tăng, đó là điều mà không một doanh nghiệp nào mong muốn.
Nhưng những nhân viên được mức tiền lương cao sẽ có điều kiện nâng cao đời
sống, làm cho họ yêu công việc của mình hơn. Mặc dù mâu thuẫn như vậy nhưng
cả hai đều cần đến nhau: Chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp cần có những nhiệm vụ
để tạo ra lợi nhuận , nhóm người này cần chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp để có việc
làm và thu nhập. Đối với bộ phận quản lý được trả lương thoả đáng sẽ là là động
lực kích thích năng lực sáng tạo lám tăng hiệu suất làm việc, nâng cao hiệu quả
kinh doanh làm tăng doanh thu, giảm giá thành đơn vị sản phẩm, tăng lợi nhuận
đặc biệt là sự mở rộng thị trường, nâng cao thị phần của doanh nghiệp tạo hình
ảnh tốt trong mắt trong người tiêu dùng, không ngừng tái sản xuất mở rộng.
Ngược lại nếu doanh nghiệp trả lương không hợp lý chỉ quan tâm đến lợi nhuận
thuần tuý không chú ý đúng mức tới bộ phận này có thể sẽ dẫn tới một thảm kịch
không thể lường trước được là nhân viên của mình sẽ rời bỏ khỏi công ty đặc
biệt những người biết hết bí mật của công ty chạy sang làm cho đối thủ kinh
doanh.
Bởi vậy việc trả lương phải làm sao vừa thoả mãn yêu cầu của doanh
nghiệp vừa thoả mãn yêu cầu của bộ phận này để tiền lương phát huy hết vai trò,
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status