Một số giải pháp hoàn thiện công tác trả lương tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà - Pdf 97

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, bất kỳ một doanh nghiệp nào
thuộc bất kỳ một thành phần kinh tế nào cũng phải phát huy mọi nguồn lực
sẵn có của mình để tăng năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm, từng bước
cải thiện đời sống nguời lao động
Một trong những công cụ để quản lý sản xuất, quản lý lao động đó chính
là chính sách tiền lương. Doanh nghiệp phải có chính sách trả lương như thế
nào để có thể thu hút một đội ngũ lao động giỏi, làm việc hiệu quả và ổn định
phù hợp với mục tiêu sản xuất của doanh nghiệp. Chúng ta cần phải hiểu tiền
lương là một vấn đề nhạy cảm, nó liên quan đến lợi ích của người lao động và
của người sử dụng lao động: đối với người lao động thì đó là một khoản thu
nhập còn đối với người sử dụng lao động thì đó lại là một khoản chi phí.
Người lao động muốn tăng thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày của mình, còn người sử dụng lao động lại muốn tối thiểu hoá chi phí tiền
lương để đạt được lợi nhuận tối đa
Vậy làm thế nào để sử dụng tiền lương có tác động tốt cho cả cho cả hai
bên là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp
hiện nay là phân phối tiền luơng như thế nào, để tiền lương thực sự trở thành
một yếu tố quan trọng phát huy khả năng tiềm ẩn của người lao động, giảm
chi phí giá thành và nâng cao chất lưọng sản phẩm. Qua đó giúp doanh nghiệp
phát triển và khẳng định mình trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Trong thời gian vừa qua nền kinh tế của nuớc ta đã có nhiều biến đổi đó là
hệ quả của việc gia nhập WTO. Nhận thức được vấn đề đó các doanh nghiệp
cũng đã chuyển mình để tồn tại và phát triển, đặc biệt là công tác trả lương đã
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được coi trọng. Tuy nhiên các chính sách trả lương của doanh nghiệp cũng

này chúng ta đã từng quan niệm tiền lương là một phần thu nhập quốc dân
được nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động. Tuy nhiên tiền
lương còn mang tính chất bình quân, dàn đều, chưa quán triệt được nguyên tắc
phân phối tiền lương theo lao động. Vì vậy hiệu quả của công tác trả lương
chưa được phát huy.
Trong cơ chế thị trường khi sức lao động trở thành một loại hàng hoá,
người lao động làm thuê và được trả đúng giá trị sức lao động của họ. Theo bộ
luật lao động Việt Nam: “Tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sữ dụng lao
động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động đã hao phí, trên cơ sở
thảo thuận theo hợp đồng lao động. Mức lương của người lao động không
thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước qui định” (điều 55 Bộ luật lao
động). Do vậy tiền lương ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thông qua vai trò khuyến khích người lao động
Theo quan điểm của tổ chức lao động thế giới (ILO): “Tiền lương là sự trả
công hoặc thu nhập bất luận tên gọi hay cách tính như thế nào, có thể biểu
hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động
và người lao động hoặc luật pháp, do người sử dụng lao động trả cho người
lao động theo hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ
phải làm”
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của nước ta hiện nay, phạm
trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế
Đối với thành phần kinh tế và khu vực hành chính sự nghiệp tiền lương là số
tiền mà các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan tổ chức của nhà nước trả cho
người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong
hệ thống thang bảng lương do nhà nước qui định
Đối với thành phần kinh tế không phải nhà nước, tiền lương chịu sự tác động,

cả của sức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người cung ứng
sức lao động tuân theo nguyên tắc cung – cầu và pháp luật hiện hành của nhà
nước. Tiền lương trở thành một khoản chi phí sản xuất, là một bộ phận cấu
thành giá trị sản phẩm, là khoản thu nhập chính với ngưòi lao động. Do vậy
tiền lương ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới kết quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp thông qua vai trò khuyến khích người lao động
1.1.3 Vai trò của tiền lương
Tiền lương đóng vai trò thúc đẩy vật chất đối với người lao động và là
đòn bẩy để đảm bảo cho quá trình sản xuất phát triển, không những thế tiền
lương còn ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an sinh xã hội. Vì vậy tiền lương
không những ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp và người lao động mà nó
còn ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội:
Vai trò của tiền lương đối với người lao động
Tiền lương là một khoản thu nhập chủ yếu của người lao động nhằm trang trải
chi tiêu cho nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và các nhu cầu khác. Vì vậy
tiền lương là động lực chính thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn nếu
tiền lương mà họ nhận được xứng đáng với sức lao động mà họ bỏ ra. Ngược
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lại nếu tiền lương thấp và không công bằng sẽ khiến người lao động bất mãn,
không hăng say làm việc dẫn đến công việc trì trệ
Mặt khác tiền lương còn ảnh hưởng đến uy tín, địa vị của người lao động
trong xã hội
Vai trò của tiền lương đối với doanh nghiệp
Tiền lương là một phần chi phí sản xuất của doanh nghiệp vì vậy doanh
nghiệp phải làm thế nào để tối thiểu hóa chi phí một cách hợp lý nhất để tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp
Mặt khác tiền lương là công cụ hữu hiệu để kích thích người lao động làm
việc hiệu quả và là công cụ để thu hút nhân tài trên thị truờng, đảm bảo họ

Tổ chức tiền lương phải tạo động lực cho người lao động làm việc với
năng suất không ngừng nâng cao.
Tiền lương phải là động lực kích thích người lao động hăng say lao động,
thần sáng tạo và gắn bó với công việc, tác động tích cực đến phân công lao
động trong xã hội và trong từng xí nghiệp.
Tổ chức tiền lương phải đảm bảo đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, là động lực
trực tiếp với tinh thần thái độ người lao động. Đồng thời tiền lương phải tăng
hiệu quả hoạt động quản lý kể cả hiệu quả hoạt động quản lý tiền lương
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương
Các nguyên tắc trả lương là những tiền đề cơ bản để đảm bảo trả lương
một cách hợp lý. Ở Việt Nam thì tổ chức tiền lương có những nguyên tắc cơ
bản sau đây:
Nguyên tắc thứ 1: Trả lương ngang nhau cho các lao động như nhau
Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động. Và với
những người lao động khác về tuổi, giới tính, trình độ nhưng có hao phí sức
lao động như nhau thì được trả lương như nhau.
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên cạnh đó đối với những công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh
giá công việc chính xác để trả lương hợp lý theo công sức lao động
Nguyên tắc thứ 2: Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động tăng nhanh hơn
tốc độ tăng tiền lương bình quân
Tốc độ tăng năng suất lao động tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình
quân đó là của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển
Nguyên nhân:
Tiền lương tăng là do trình độ tổ chức và quản lý ngày càng có hiệu quả
hơn. Còn tăng năng suất lao động thuộc về kĩ năng, trình độ tổ chức, đổi mới
công nghệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Như vậy năng suất lao
động có khả năng khách quan hơn tiền lương

nghiệp
1.3.1 Các qui định của nhà nước
Để xây dựng chế độ tiền lương hợp lý trong doanh nghiệp cần phải căn
cứ các qui định của nhà nước. Nhà nước đưa ra tiền lương tối thiểu chung, hệ
thống thang bảng lương, các qui định về xây dựng đơn giá tiền lương, xây
dựng quĩ lương… bắt buộc các doanh nghiệp thực hiện thống nhất theo qui
định của tổ chức tiền lương của nhà nước ban hành.
Qui đinh về tiền lương tối thiểu: Tiền lương tối thiểu cần đảm bảo thu
nhập tối thiểu về nhu cầu sinh học và xã hội. Mức lương tối thiểu được ấn
định là bắt buộc đối với những người sữ dụng lao động. Hiện nay ở nước ta
mức lương tối thiểu được qui định là 540 000đ/tháng. Và mức lương tối thiểu
được ấn định theo giá sinh hoạt đảm bảo cho người lao động làm công việc
đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động giản
đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm
căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác nhau
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đối với các doanh nghiệp khác nhau sẽ áp dụng các qui định khác nhau để
tiến hành công tác trả lương cho phù hợp, đãm bảo các nguyên tắc trả lương
Qui định về hệ thống thang lương, bậc lương, hệ số lương, phụ cấp lương
Tuân thủ qui định của pháp luật về thang lương, bảng lương, hệ số lương và
bậc lương tại nghị định sô 205/2004/NĐ-CP
Các doanh nghiệp nghiêm chỉnh chấp hành luật lao động, không nhận trẻ
em dưới 15 tuổi vào làm việc, đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng.
Phụ nữ khi sinh con thì được hưởng chế độ theo qui định (nghỉ từ 4- 6 tháng
và hưởng quyền lợi nghỉ thai sản). Điểm này cần được đặc biệt chú ý ở các
doanh nghiệp có nhiều lao động nữ như các xí nghiệp may mặc, dày da…
Nhà nước qui định: người sữ dụng lao động phải đóng quĩ bảo hiểm xã
hội bằng 15% so với tổng quĩ lương, người lao động đóng 5% tiền lương.

Số lượng, tính chất công việc quyết định đến qui mô, cơ cấu nguồn nhân
lực, hình thức trả lương, phương pháp trả lương, các chế độ…
Yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách tiền lương của doanh
nghiệp đó là trang bị kỹ thuật, vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở, kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp
1.4 Các hình thức trả lương
1.4.1 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Khái niệm: Là hình thức căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm sản
xuất ra của mỗi người và đơn giá lương sản phẩm để trả cho người lao động.
Công thức:
TL = ĐG x Qtt
Trong đó: TL : Tiền lương nhận được
ĐG : Đơn giá tiền lương sản phẩm
Qtt : Số lượng sản phẩm thức tế mà người lao động làm được
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Như vậy mục tiêu của trả lương theo sản phẩm là khuyến khích tăng năng suất
lao động, người lao động còn có thể được trả lương theo số lương đơn vị sản
phẩm mà họ sản xuất ra.
Ưu điểm:
Làm tăng năng suất lao động do hình thức này quán triệt nguyên tắc phân phối
tiền lương theo lao động đó là tiền lương phụ thuộc vào số lượng và chất
lượng sản phẩm mỗi người làm ra
Mặt khác việc tính toán tiền lương cũng đơn giản và có thể được giải thích rõ
ràng với người lao động
Đồng thời nó cũng nâng cao tính tự chủ, chủ động trong khi làm việc của
người lao động nhằm phát huy khả năng sáng tạo của họ
Nhược điểm:
Tuy nhiên, trả công theo sản phẩm có thể dẫn tới tình trạng làm cho người lao

thiết bị.
- Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm cần được tiến hành một cách
chặt chẽ chính xác, nhằm đảm bảo sản phẩm có chất lượng tốt, tránh
khuynh hướng chạy theo sản lượng để tăng thu nhập, làm ra các sản
phẩm sai hỏng không đúng qui cách và yêu cầu đồng thời đảm bảo trả
lương công bằng. Bên cạnh đó thì cần phải bồi dưỡng, nâng cao nghiệp
vụ cho cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹ thuật, kiểm tra chất lượng
sản phẩm
- Xây dựng đơn giá lương sản phẩm phải chính xác trên cơ sở xác định cấp
bậc công việc và định mức lao động chính xác. Nếu cấp bậc công việc
được đánh giá cao hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sản phẩm sẽ cao và
ngược lại. Do đó nếu doanh nghiệp chưa có cấp bậc công việc thì phải xây
dựng cấp bậc công việc, nếu có rồi thì phải rà soát lại và kịp thời sửa đổi
cấp bậc lác hậu
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Cần phải tổ chức tốt công tác đời sống cho công nhân viên yên tâm phấn
khởi sản xuất và phục vụ sản xuất. Trước hết là vấn đề thu nhập tiền lương,
kế đến là an toàn lao động, các vấn đề thiết yếu trong lao động, sinh hoạt
đời sống của công nhân như: ăn, mặc, đi lại…đều phải được giải quyết tốt
Các chế độ trả lương theo sản phẩm
Đối với các đối tượng công nhân viên chức làm việc ở các bộ phận khác nhau,
tính chất công việc khác nhau thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn các hình thức trả
lương theo sản phẩm phù hợp để mang lại hiệu quả nhất và tính toán đơn giản
nhất. Các chế độ trả lương sản phẩm thường được áp dụng hiện nay là:
Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể
Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng

việc mà các cá nhân phải có sự liên kết, phối hợp với nhau cùng hoàn thành
mà không thể xác định chính xác khối lượng công việc của từng người. Cụ thể
là các hoạt động lao động chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của cả nhóm
như lắp ráp các thiết bị, sản xuất các bộ phận làm việc theo dây chuyền, trong
nom máy liên hợp.
Công thức:
TLnhóm = ĐG x Qt
Trong đó:
ĐG =
1
1
Q
Li
n
i

=
=

=
×
n
i
TiLi
1
Hoặc ĐG =
L
x T
Với:


văn phòng…
Ưu điểm của hình thức trả lương này là đơn giản, dễ tính. Có thể quản lý
nhân viên một càch dễ dàng về thời gian làm việc, đi làm có đúng giờ hay
không.
Nhược điểm: Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bộc lộ một số nhược điểm như là
chưa gắn thu nhập của mỗi người với kết quả lao động mà họ đã đạt được
trong quá trình sản xuất. Bởi vì tiền lương của họ chỉ phụ thuộc vào thời gian
mà họ tham gia lao động chứ không được đánh giá trực tiếp từ chất lượng sản
phẩm mà họ làm ra. Điều này cũng không phát huy được khả năng sáng tạo
của lao động
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Các điều kiện trả lương theo thời gian có hiệu quả
Để hạn chế những nhược điểm trên của chế độ trả lương theo thời gian thì
cần phải tạo động lực cho lao động dựa trên các khuyến khích tài chính hay
phi tài chính. Đặc biệt cần đưa ra các mức tiêu chuẩn thực hiện công việc một
cách chính xác và kiểm tra giám sát chặt chẽ
Các chế độ trả lương theo thời gian
Một trong những biện pháp để trả lương theo thời gian có hiệu quả đó là
sử dụng hai hình thức trả lương sau đây:
 Chế độ trả lương thời gian đơn giản:
Là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được của mỗi người lao động do mức
lương cấp bậc và thời gian làm việc của người đó qui định
Công thức tính:
Ltt = Lcb x T
Trong đó:
Ltt : Tiền lương thực tế người lao động nhận được
Lcb : Tiền lương cấp bậc
T : Thời gian làm việc của người lao động

 Đối với doanh nghiệp
Tiền lương là một bộ phận của chi phí sản xuất vì vậy doanh nghiệp phải trả
lương như thế nào cho phù hợp để vừa tăng năng suất vừa tăng chất lượng sản
phẩm mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc trả lương cho lao động. Mặt khác kích
thích tinh thần lao động, học hỏi và sáng tạo của lao động. Tổ chức tiền lương
tốt sẽ tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa người lao động với kết quả sản xuất kinh
doanh. Đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mặt khác với nền kinh tế vận động và có nhiều thay đổi, nhà nước đưa ra
những chính sách nhằm điều tiết nền kinh tế phát triển tuân theo pháp luật của
nhà nước và qui luật chung của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp phải
tuân thủ các qui định này và chuyển mình cho phù hợp với thời cuộc
Không chỉ chịu sự điều tiết của nhà nuớc mà các doanh nghiệp cũng phải
đối mặt với thị trường với các doanh nghiệp khác cùng cạnh tranh và tồn tại,
vì vậy cần phải có những chính sách thay đổi phù hợp để tăng khả năng cạnh
tranh như: ngành nghề sản xuất, phương pháp quản lý…Đặc biệt là trong bối
cảnh chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới như hiện nay đặc biệt là nền
kinh tế Mỹ, tình trạng lạm phát cao, giá cả tiêu dùng tăng vọt dẫn đến tiền
lương thực tế giảm
Truớc tình cảnh đó để có thể khuyến khích, động viên người lao động làm
việc và giữ chân họ thì doanh nghiệp phải có sự thay đổi về các chế độ lương
thưởng, ưu đãi thoả đáng cho người lao động
 Đối với người lao động
Tiền lương là một khoản thu nhập chính của người lao động và nó là mối
quan tâm hàng ngày của họ. Vì vậy nó là động lực chính giúp người lao động
nâng cao năng suất lao động, có ý thức trong lao động và tìm mọi cách học
hỏi để nâng cao trình độ lành nghề…

có mặt trên khắp mọi nơi trong thị trường nội địa và xuất khẩu sang một số
nước như Bungari, Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là các nước Trung Đông
Để đứng vững trên thị trường và phát triển như hiện nay, công ty đã trải
qua các giai đoạn sau:
Từ năm 1959 đến năm 1965
Năm 1959: Xưởng thực nghiệm ra đời với qui định của tổng công ty nông
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thổ sản Miền Bắc (trực thuộc Bộ ngoại thương) để ngiên cứu hạt Trân châu
(Tapioca)
Từ giữa năm 1959 đến tháng 6/1960 nghiên cứu thử nghiệm và sản xuất
mặt hàng miến từ nguyên liệu đậu xanh
Ngày 25/12/1960 Xưởng sản xuất Hoàng Mai ra đời (đây là bước hình
thành đầu tiên của công ty)
Ngoài sản phẩm chính là miến xí nghiệp còn sản xuất nước giấm, tinh bột
ngô
Từ năm 1966 đến năm 1970
Trong thời kì này, nhiệm vụ của nhà máy dã có sự chuyển hướng để phù
hợp với tình hình chiến tranh
Từ năm 1966: Viện thực phẩm đã lấy đây là cơ sở sản xuất vùa thực
nghiệm các đề tài nghiên cứu thực phẩm để phổ biến cho các địa phương, giải
pháp hậu cần tại chổ. Từ đây nhà máy mang tên thực nghiệm Hải Hà
Tháng 6/1970: Doanh nghiệp tiếp nhận một phân xưỡng của xí nghiệp
bánh kẹo Hải Châu với công suất 900 tấn/năm với nhiệm vụ sản xuất kẹo, nha
và được đổi tên là nhà máy thực phẩm Hải Hà với 500 cán bộ công nhân viên
Từ năm 1970 đến năm 1985
Gặp không ít khó khăn nhưng vẫn hoàn thành kế hoạch với tổng sản lượng
là 9495000 đồng, trong đó có 1283000 lít dấm và 2064,94 tấn kẹo các loại
trên năm

Từ cuối năm 2003 đến nay
Căn cứ nghị định số 55/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2003 của chính
phủ qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ công
nghiệp
Căn cứ nghi định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về
việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xét đề nghị của Công ty Bánh Kẹo Hải Hà (Công văn số 159 ngày 25
tháng 8 năm 2003), Phương án cổ phần hoá Công ty Bánh Kẹo Hải Hà và
Biên bản thẩm định Phương án của Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp
Bộ ngày 26 tháng 9 năm 2003
Theo đề nghị của Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp và Vụ trưởng
Vụ Tổ chức - Cán bộ
Quyết định: Chuyển Công ty Bánh Kẹo Hải Hà thành Công ty cổ phần
Bánh Kẹo Hải Hà,
Vốn điều lệ của Công ty cổ phần là 36.500.000.000 đồng (Ba sáu tỷ năm
trăm triệu đồng chẵn)
- Tỷ lệ cổ phần của Nhà nước : 51,00 %;
- Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong Công ty : 49,00 %- Tên giao
dịch quốc tế : HAIHA CONFECTIONNERY JOINT STOCK COMPANY
- Tên viết tắt : HAIHACO
Trong thời gian đó đến nay Hải Hà luôn bám sát được thi hiếu của người
tiêu dùng. Sản phẩm của Hải Hà được đánh giá cao về chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm, đặc biệt là về mẩu mã và chủng loại đa dạng. Vì vậy trong
nhưng năm gần đây công ty cổ phân bánh kẹo Hải Hà liên tục đạt danh hiệu
hàng Việt Nam chất lượng cao, giữ vững và mở rộng thị trường tiêu thụ.
2.1.1.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý


trường
Phòng
Vật Tư
Phòng
Tài Vụ
Chi
Nhánh
HCM
Nhà máy BK
Hải Hà 1
Xí Nghiệp
Chew
Xí Nghiệp
Phụ Trợ
Xí Nghiệp
Bánh
Nhà Máy BK
Hải Hà 2
Xí Nghiệp
Kẹo
2.1.3 Một số đặc điểm và kết quả sản xuất kinh doanh đạt được
Kết quả hoạt động trong sản xuất kinh doanh
Trong những năm gần đây sản phẩm bánh kẹo của công ty được mở
rộng tăng cả về số lượng, chủng loại mẩu mã bao bì và tiêu thụ được nhiều
trên thị trường, đặc biệt là dòng kẹo chew mới ra đời chiếm phần lớn số lượng
tiêu thụ của công ty
SV: Nguyễn Thị Linh Lớp: QTNL 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong năm 2006 có sự giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status