Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ bán hàng nội địa ở công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội" - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp

1
Lời nói đầu
Từ khi chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường đã làm cho nền kinh tế sôi động hơn với sự cạnh tranh bình đẳng
giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại muốn tồn
tại để tự khẳng định mình và có chỗ đứng vững chắc trên thị tr
ường đòi hỏi
hàng hoá bán ra phải được thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận.
Mục tiêu của doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn
và phát triển vốn để tạo tiền đề cho việc mở rộng thị phần trong nước cũng
như nước ngoài. Để bắt kịp xu thế phát triển và không bị đẩy ra khỏi “cuộ
c
chơi ”, các doanh nghiệp thương mại phải tổ chức tốt nghiệp vụ bán hàng,
bán hàng là khâu quyết định trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Bán hàng hay còn gọi là tiêu thụ là khâu cuối cùng trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Để tiêu thụ đạt hiệu quả, hàng
hoá bán ra phải có chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức c
ạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại trên thị trường. Bởi có tiêu thụ tốt sản phẩm doanh
nghiệp mới đảm bảo hoạt động kinh doanh được thường xuyên liên tục.
Qua đó doanh nghiệp sẽ tăng nhanh vòng quay vốn, có thu nhập để bù đắp
chi phí và tích luỹ vốn đầu tư phát triển. Bán hàng có ý nghĩa đối với doanh
nghiệp thương mại, với nền kinh tế cũng như toàn xã h
ội. Nó có ảnh hưởng
trực tiếp mang tính quyết định đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp
thương mại. Nó cung cấp một lượng sản phẩm hàng hóa thiết yếu cho nhu
cầu hàng ngày của người dân và nhu cầu sản xuất của các nghành kinh tế

ết hợp với
thực tiễn kinh doanh và kế toán nghiệp vụ bán hàng tại công ty xuất nhập
khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội từ đó có những ý kiến đề xuất nhằm hoàn
thiện hơn nữa kế toán nghiệp vụ bán hàng ở công ty.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương :
Chương 1
: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện kế toán nghiệp vụ bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại.
Chương 2
: Thực trạng kế toán nghiệp vụ bán hàng nội địa tại công ty xuất
nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội
Chương 3
: Phương hướng hoàn thiện kế toán nghiệp vụ bán hàng nội địa
ở công ty xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm Hà Nội
Luận văn tốt nghiệp

3
Do thời gian thực tập có hạn, kinh nghiệm thực tế chưa có, khả năng
lý luận còn nhiều hạn chế nên bản luận văn này khó tránh khỏi những sai
sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô giáo,
các cô chú anh chị phòng kế toán của công ty để đề tài của em được hoàn
thiện hơn nữa.

Chương 1

Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện kế toán nghiệp vụ
bán hàng trong các doanh nghiệp thương mạI

1.1
Một số vấn đề chung về nghiệp vụ bán hàng

Đó là việc thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, nền
kinh tế của nước ta có trình độ phát triển cao, môi tr
ường sinh thái được bảo
vệ, kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo cùng với kinh tế
hợp tác làm nền tảng cho chế độ xã hội mới, Nhà nước quản lý nền kinh tế
vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, kinh tế của ta
là nền kinh tế dân tộc hoà nhập với nền kinh tế thế giới.
Xét trên góc độ vi mô thì doanh nghiệp l
à "tế bào" của thực thể kinh tế
thì nó cũng chịu sự tác động của các hoạt động trong nền kinh tế. Mà trước
tiên nó sẽ chịu sự tác động của các quy luật trong nền kinh tế thị trường.Như
các quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu và lưu thông tiền tệ.
Nhưng dù là nền kinh tế thị trường theo đường lối TBCN hay theo
đường lối XHCN thì nó cũng có nhữ
ng đặc trưng chung nhất định.Vì vậy
trước tiên chúng ta phải đi tìm hiểu về các đặc điểm này để từ đó mới dẫn
dắt theo con đường mà ta lựa chọn.
Trước tiên, ta phải thấy rằng nền kinh tế thị trường có tính tự chủ của
các chủ thể kinh tế rất cao. Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì
các doanh nghiệp hoạt động rất bị
động tất cả đều do cấp trên đưa xuống
các chỉ tiêu phải hoàn thành kế hoạch trong năm...điều này khiến cho các
doanh nghiệp không có sự năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Nhưng trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp luôn
phải vận động để làm sao có thể bù đắp được chi phí và kinh doanh có lãi
Luận văn tốt nghiệp

5
đồng thời phải chịu trách nhiệm trước kết quả sản xuất kinh doanh của
mình.

trọng.

Luận văn tốt nghiệp

6
1.1.1.2 ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đối với nghiệp vụ bán
hàng
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp trước hết
phải giải đáp các vấn đề: kinh doanh hàng hoá gì, hướng tới đối tượng
khách hàng nào và kinh doanh như thế nào.
Nếu như trước đây các doanh nghiệp thương mại hoạt động theo một
hệ thố
ng các chỉ tiêu từ trên xuống dưới: vốn do nhà nước cấp, kế hoạch
mua bán, giá cả đã có sẵn chỉ việc tuân theo, lãi doanh nghiệp hưởng, lỗ nhà
nước chịu…Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường không còn được nhà
nước bao cấp nữa, các doanh nghiệp thương mại phải tự tìm hướng đi cho
mình, tự hạch toán độc lập. Do vậy, mỗi doanh nghiệp thương mại phải
đề
ra chiến lược kinh doanh đúng đắn để có thể đạt được mục tiêu của mình
trong cuộc cạnh tranh đầy khắc nghiệt này. Có thể nói, tiêu thụ hàng hoá
trong nền kinh tế thị trường là quá trình gồm nhiều hoạt động: nghiên cứu thị
trường, nghiên cứu người tiêu dùng, các chính sách và hình thức bán
hàng…để doanh nghiệp tiếp cận được với khách hàng, thoả mãn nhu cầu
của khách hà
ng. Do có sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế nên doanh
nghiệp phải nắm bắt rõ nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, phục vụ cho họ
những sản phẩm tốt nhất cả về kiểu dáng, chất lượng, giá cả cùng các dịch
vụ kèm theo.
Vì vậy các nhà kinh doanh cần tìm kiếm những biện pháp thúc đẩy
tiêu thụ hàng hoá và từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nói

ền sở hữu hàng hoá chuyển cho người mua, người
bán không còn quyền sở hữu về số hàng đã bán.
Thực hiện quá trình bán hàng, đơn vị bán xuất giao cho khách hàng
một khối lượng hàng hoá nhất định theo thoả thuận hoặc hợp đồng đã ký
kết và sẽ nhận lại từ khách hàng một khoản tiền tương ứng với giá bán số
hàng hoá
đó.
Doanh thu bán hàng được hình thành đó chính là nguồn bù đắp chi phí
và hình thành kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Về nguyên tắc chỉ khi nào chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ đơn vị
bán sang khách hàng và khách hàng thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh
toán thì hàng mới được coi là bán, lúc đó mới phản ánh doanh thu. Do đó tại
thời điểm xác nhậ
n là bán hàng và ghi nhận doanh thu có thể doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp

8
thu được tiền hàng hoặc cũng có thể chưa thu được vì người mua mới chấp
nhận trả.

1.1.2.2 Vai trò của bán hàng
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tuần hoàn vốn và nó là
cơ sở để xác định kết quả bán hàng.
Với các doanh nghiệp, bán được hàng thì mới có thu nhập để bù đắp
chi phí đã bỏ ra và có lãi. Xác định chính xác doanh thu bán hàng l
à cơ sở để
đánh giá các chỉ tiêu kinh tế –tài chính, trình độ hoạt động của đơn vị và
thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước.
Đối với người tiêu dùng công tác bán hàng đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng. Chỉ có thông qua bán hàng thì tính hữu ích của hàng

gian) để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho người sản xuất để tiếp tục sản
xuất ra sản phẩm. Hàng hoá sau khi bán vẫn còn nằm trong l
ưu thông, hoặc
trong sản xuất, chưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Bán hàng theo
phương thức này thường bán với khối lượng lớn và có thời hạn thu hồi vốn
nhanh.
Trong doanh nghiệp thương mại, bán buôn hàng hoá thường áp dụng
hai phương thức:
♦ Bán buôn qua kho
: là phương thức bán hàng mà hàng hoá được đưa về
kho của đơn vị rồi mới tiếp tục chuyển bán. Bán buôn qua kho được tiến
hành dưới hai hình thức:
- Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp : theo hình thức
này bên mua cử cán bộ nghiệp vụ trực tiếp đến nhận hàng trực tiếp tại kho
của bên bán. Số hàng được xác định là
tiêu thụ khi đại diện bên mua ký nhận
hàng và đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ.
- Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng : theo hình thức này bên
bán xuất kho để giao hàng cho bên mua tại địa điểm người mua đã qui định
trong hợp đồng kinh tế giữa hai bên bằng phương tiện vận tải tự có hoặc
thuê ngoài. Khi hàng hoá vận chuyển thì vẫn thuộc bên bán. Chứ
ng từ gửi
hàng đi là phiếu gửi hàng, vận đơn vận chuyển. Chứng từ bán hàng cũng là
hoá đơn hoặc phiếu xuất kho kiêm hoá đơn. Hàng hoá gửi đi chưa phải là
bán mà vẫn thuộc quyền sở hữu doanh nghiệp. Hàng gửi đi được xác định
là tiêu thụ khi bên mua trả tiền hoặc chấp nhận trả ti
ền.
Luận văn tốt nghiệp

10

chủng loại, mẫu mã. Trong bán lẻ có thể áp dụng các hình thức sau:
♦ Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp
: Đây là hình thức bán hàng mà
nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho
khách. Trong hình thức này nhân viên bán hàng là người chịu trách nhiệm
Luận văn tốt nghiệp

11
vật chất về số hàng đã nhận ra quầy để bán lẻ. Để phản ánh rõ số lượng
hàng nhận ra và đã bán thì nhân viên bán hàng phải tiến hành hạch toán
nghiệp vụ trên các thẻ hàng ở quầy hàng. Thẻ hàng được mở cho từng mặt
hàng để ghi chép sự biến động của hàng hóa trong từng ca, từng ngày. Cuối
ca, ngà
y nhân viên bán hàng phải kiểm tiền, làm giấy nộp tiền bán hàng
trong ca, cuối ngày để ghi chép vào thẻ và lập báo cáo bán hàng. Phương
thức này áp dụng phổ biến ở những công ty thương mại bán lẻ vì tiết kiệm
được lao động, khách mua hàng thuận tiện nhưng nếu không quản lý chặt
chẽ dễ xảy ra tiêu cực, mất tiền…
♦ Hình thức bán hàng thu ti
ền tập trung: Là phương thức bán hàng mà
nghiệp vụ bán hàng và thu tiền tách rời nhau, mỗi quầy hàng có nhân viên
thu ngân làm nhiệm vụ viết hoá đơn hoặc tích kê thu tiền của khách mua
hàng. Khách hàng sẽ cầm hoá đơn hoặc tích kê đến nhận hàng ở quầy do
nhân viên thu ngân giao và trả hoá đơn, tích kê cho nhân viên bán hàng. Cuối
ca, cuối ngày nhân viên thu ngân kiểm tiền làm giấy nộp tiền bán hàng, còn
nhân viên bán h
àng căn cứ vào số hàng đã giao theo các hoá đơn và tích kê
thu lại hoặc kiểm kê hàng hoá còn lại cuối ca, cuối ngày để xác định hàng
hóa đã giao, lập báo cáo bán hàng trong ca(ngày). Đối chiếu số tiền nộp theo
giấy nộp tiền với doanh thu bán hàng theo các báo cáo bán hàng để xác định

bên nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ trựctiếp bán hàng, thanh toán tiền cho
doanh nghiệp thương mại và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hà
ng gửi đại
lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và được xác định là tiêu thụ
khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên đại lý thanh toán hoặc nhận giấy
báo chấp nhận thanh toán.

1.1.2.4 Giá cả hàng hoá
Các doanh nghiệp thương mại hiện nay trên thị trường đều cạnh tranh
với nhau bằng giá cả và chất lượng hàng hoá. Tuy nhiên, dù hàng hoá có
chất lượng tốt đ
i chăng nữa mà giá lại quá cao thì không thể thu hút được
khách hàng. Bởi vậy, giá cả là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng,
là vũ khí chiến lược có vai trò quyết định đến doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là một tiêu
chí quan trọng, là mục tiêu cuối cùng mà mỗi doanh nghiẹp đều hướng tới.
Vì thế
, việc xác định giá bán là một công việc rất khó khăn, mỗi doanh
nghiệp phải tự xác định cho mình mức giá phù hợp dựa vào nhu cầu thị
Luận văn tốt nghiệp

13
trường, điều kiện của mình…Hiện nay doanh nghiệp thường xác định giá
bán theo công thức:

Giá bán = Giá mua thực tế + Thặng số thương mại
Thặng số thương mại = Giá mua thực tế x Tỉ lệ(%)thặng số thương mại
Từ đó ta có:
Giá bán = Giá mua thực tế x [ 1+Tỉ lệ (%) thặng số thương mại ]


được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng phảI thu. Việc cho khách hàng
nợ hay là thanh toán sau đối với doanh nghiệp chỉ hạn chế trong một thời
gian ngắn mà cho một số ít khách hàng mua bán thường xuyên, có tín nhiệm,
làm ăn lâu dài.

1.1.2.6 Phạm vi và thời điểm ghi chép
Trong doanh nghiệp thương mạ
i, bán hàng là khâu cuối cùng của hoạt
động kinh doanh và có tính quyết định đến cả quá trình kinh doanh. Bởi vậy,
việc xác định đúng hàng bán có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho việc xác
định chính xác doanh thu bán hàng, từ đó tạo đIều kiện cho việc tổ chức kế
toán bán hàng được khoa học và theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu của
khách hàng để đôn đốc khách hàng thanh toán kịp thời.
H
àng hoá được gọi là hàng bán khi doanh nghiệp xuất giao hàng cho
khách hàng đã thu được tiền ngay hoặc khách hàng đã chấp nhận thanh toán.
Theo quy định hiện nay, hàng hoá của doanh nghiệp được xác định là hàng
bán trong các trường hợp:
- Thực hiện bán hàng theo phương thức trả ngay ( đã thu được tiền mặt,
séc, giấy báo có…)
- Thực hiện bán hàng theo phương thức trả chậ
m, khoản tiền này được
goi là khoản phải thu của khách hàng. Doanh thu này là doanh thu trả chậm.
- Khách hàng ứng trước tiền mua hàng của doanh nghiệp. Khi chuyển
hàng trả cho khách thì hàng hoá đó được coi là hàng bán và khi đó doanh
thu bán hàng cũng được ghi nhận.
Như vậy, thời điểm để xác định hàng bán không phải tính từ lúc xuất
giao hàng cho khách h
àng mà phải căn cứ vào thời điểm thanh toán của
khách hàng, tức là lúc doanh nghiệp thu được tiền về nếu khách hàng thanh

thanh toán, từng loại hàng hoá và từng khách hàng. Đôn đốc thanh toán, thu
hồi đầy đủ tiền hàng.
- Tính toán xác định đúng đắn kết quả từng loại hoạt động và thực hiện
nghiêm túc cơ chế phân phối lợi nhuận. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nước theo quy định. Luận văn tốt nghiệp

16
1.1.4 Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ bán hàng
Mục tiêu lớn nhất đối với mỗi doanh nghiệp là có thể cạnh tranh trên
thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận, qua đó mở rộng thị phần
nhằm khẳng định chỗ đứng của mình. Trong các doanh nghiệp, kế toán là
công cụ đắc lực phục vụ cho việc quản lý hoạt động kinh doanh và lậ
p kế
hoạch tiêu thụ. Để phát huy vai trò của kế toán đối với hoạt động kinh doanh,
kế toán bán hàng cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ:
1.1.4.1 Ghi chép, phản ánh kịp thời đầy đủ doanh thu bán hàng.
1.1.4.2 Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ các khoản giảm trừ doanh thu và
xác định đúng doanh thu thuần của hàng hoá đã tiêu thụ.
1.1.4.3 Tính toán chính xác giá mua thực tế của hàng hoá đã tiêu thụ, nh
ằm
xác định đúng đắn kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Trị giá
hàng xuất bán được xác định theo một trong các phương pháp sau:
♦ Phương pháp giá thực tế đích danh
: Theo phương pháp này, hàng hoá
được xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập
vào cho đến lúc xuất dùng ( trừ trường hợp điều chỉnh ). Khi xuất hàng hoá
nào sẽ tính theo giá thực tế của hàng hoá đó. Phương pháp này thường sử


Trị giá mua Giá mua thực tế đơn vị Số lượng hàng hoá xuất
của hàng hoá = hàng hoá nhập kho theo x kho trong kỳ thuộc số
xuất kho trong kỳ từng lần nhập kho trước lượng từng lần nhập
kho

Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả giảm hoặc có xu
hướng giảm.
♦ Phương pháp nhập sau – xu
ất trước: Theo phương pháp này cũng phải
xác định được đơn giá thực tế của từng lần nhập kho và giả thiết lô hàng
nào nhập sau thì xuất trước, nhập trước thì tính sau. Khi xuất bán căn cứ
vào trị giá thực tế lúc nhập để tính trị giá thực tế của hàng xuất bán. Công
thức tính:

Trị giá mua của Giá mua thực tế Số lượng hàng hoá
h
àng hoá xuất = đơn vị hàng hoá x xuất kho trong kỳ
Luận văn tốt nghiệp

18
kho trong kỳ nhập kho theo thuộc số lượng
từng lần nhập kho sau từng lần nhập kho

Phương pháp này thích hợp trong trường hợp lạm phát.
Trên thực tế tình hình kinh doanh luôn biến động đòi hỏi các doanh
nghiệp thương mại phải biết thích ứng với sự thay đổi này. Do đó, nhà
quản lý nên áp dụng phương pháp tính giá mua hàng xuất kho cho phù hợp
đồng thời phải nắm b
ắt kịp thời thông tin từ thị trường, từ khách hàng để


♦ Tài khoản 511 “ Doanh thu bán hà
ng ”: Tài khoản này dùng để phản
ánh tổng doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán
Kết cấu và nội dung TK 511
511
- Các khoản giảm trừ doanh thu: - Doanh thu bán hàng theo giá
+ giảm giá hàng bán ghi trên hoá đơn
+ doanh thu hàng bị trả lại
+ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất khẩu phải nộp ( nếu có )
- Kết chuyển doanh thu thuần

Tài khoả
n này gồm 4 tài khoản cấp 2:
+ TK5111 “ Doanh thu bán hàng hoá ”
+ TK5112 “ Doanh thu bán thành phẩm ”
+ TK5113 “ Doanh thu cung cấp dịch vụ ”
+ TK5114 “ Doanh thu trợ cấp giá ”

♦ Tài khoản 512 “ Doanh thu bán hàng nội bộ ”: Tài khoản này dùng để
phản ánh doanh thu bán hàng cho các đơn vị nội bộ doanh nghiệp.
Kết cấu và nội dung TK 512 : Tương tự như TK 511
Tài khoản này gồm 3 tài khoản cấp 2
+ TK5121 “ Doanh thu bán hà
ng hoá ”
+ TK5122 “ Doanh thu bán thành phẩm ”
Luận văn tốt nghiệp

20

hoá, thành phẩm, dịch của hàng hoá, thành phẩm
vụ đã bán ra trong kỳ dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ
Luận văn tốt nghiệp

21
sang TK 911

♦ Tài khoản 157 “ Hàng gửi đi bán ”: Được sử dụng để theo dõi giá trị
của hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ theo phương thức chuyển hàng hoặc nhờ
bán đại lý, ký gửi đã hoàn thành bàn giao cho người mua nhưng chưa được
xác định là tiêu thụ.
Kết cấu và nội dung TK 157
157
- Trị giá hàng hoá đã chuy
ển - Trị giá hàng hoá, dịch vụ
bán hoặc giao cho cơ sở đại lý đã được xác định là tiêu thụ
- Giá thành dịch vụ đã hoàn - Trị giá hàng hoá bị bên
thành nhưng chưa được chấp mua trả lại.
nhận thanh toán.

Dư nợ:
- Trị giá hàng hoá đã gửi đi
chưa được xác định là tiêu thụ

♦ Tài khoản 131 “ Phả
i thu của khách hàng ”: Phản ánh tình hình thanh
toán giữa doanh nghiệp với người mua, người đặt hàng về số tiền phải thu
đối với hàng hoá, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ.
Kết cấu và nội dung TK 131
131

Với mỗi phương thức bán hàng chúng ta có cách hạch toán riêng, tuỳ
theo doanh nghiệp thương mại áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương
pháp nà
o. Theo quy định thì kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp phảI
được tiến hành theo phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) và
phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK). Đồng thời tuỳ theo doanh nghiệp áp
dụng thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thuế hay phương pháp
trực tiếp mà hạch toán cho phù hợp.

Luận văn tốt nghiệp

23
*Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp
KKTX
♦ Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Kế toán bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
tại kho

Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp
thương mại để nhận hàng. Sau khi xuất kho hàng hoá, đại diện bên mua ký
nhận đủ hàng và đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ thì hàng hoá được xác định
là tiêu thụ.

Sơ đồ 1

111,112,131 3331 531 511 111,112,131 811

Giảm VAT Doanh thu Chiết khấu
đầu ra bán hàng


coi như bên bán chi hộ và phải thu của bên mua.

Sơ đồ 2:

156 157 632 511 111,112,131,141 1388

X/kho h.hoá K/chuyển Doanh thu bán hàng CPVC chi hộ
chuyển bán giá vốn bên mua

1381 3331 641
T/giá hàng VAT CPVC bên
thiếu đầu ra bán chịu
Trị giá hàng
bị trả lại về nhập kho
Luận văn tốt nghiệp

25

Trường hợp bán hàng có chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán và
hàng bị trả lại kế toán hạch toán tương tự như bán buôn qua kho theo hình
thức giao hàng trực tiếp tại kho.

Cuối kỳ kế toán tính và kết chuyển doanh thu thuần của số hàng thực
tế trong kỳ:
Nợ 511 Doanh thu thuần
Có 911
- .Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực
tiếp.

Sơ đồ 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status