Sự phân bố của năng suất sơ
cấp trong sinh quyển Thực vật tạo nên nguồn thức ăn sơ cấp
cho mọi sinh vật dị dưỡng. Sức sản xuất
sơ cấp hay thứ cấp của các hệ sinh thái
hoặc một phần bất kỳ của chúng đều
được xác định như tốc độ, với nó năng
lượng được đồng hóa bởi sinh vật sản
xuất hay sinh vật tiêu thụ.
Nói chung, năng suất sinh học
(Productivity) của một hệ sinh thái là khả
năng hay điều kiện tốt đảm bảo cho sự
thành tạo năng suất hay là mức độ giàu
có, phì nhiêu của hệ. Trong một quần xã
sinh vật giàu có hay một quần xã sinh vật
có năng suất cao, số lượng sinh vật có thể
nhiều hơn những quần xã nghèo, năng
suất thấp, nhưng đôi khi lại không đúng
như vậy, nếu như sinh vật trong quần xã
giàu bị biến đổi hay thoát đi nhanh.
Chẳng hạn một thửa ruộng mật điền lắm
sâu bọ thì mùa màng thu hoạch lại thấp
hơn một thửa ruộng xấu, tuy nhiên, tổng
năng lượng lại cao hơn Nói đến năng
suất sinh học ta thấy có bao hàm ý niệm
lợi ích đối với con người, bởi vậy không
nên lầm lẫn sinh khối (Biomass) hiện
nhôm làm cho đất bị kết vón trở thành
đá ong hoá. Tuy nhiên, ở vùng vĩ độ
thấp, nền nhiệt cao quanh năm, độ ẩm và
lượng mưa lớn nên năng suất sinh học
của các hệ sinh thái tự nhiên rất cao. O.
Dum (1983) đã đánh giá năng suất sơ cấp
của các hệ sinh thái trong sinh quyển như
sau :
Các hệ
sinh thái
Diện tích
(106km
2
)
PG
(kcal/m
2
/năm)
Tổng PG
(106kcal/m
2
/
năm)
43,6
Tổng số
Trên
cạn:
Hoang
mạc và
đồng rêu
Đ
ồng cỏ
và bãi
chăn thả
Rừng
khô
Rừng
lá
kim ôn
đớI
B
ắc bán
cầu
Đất
cày
cấy
40,0
42,0
9,4
57,4
(không
đầu tư
hay đầu
tư ít)
Rừng
ẩm ôn
đớI
Các hệ
nông
nghiệp
thâm
canh
Rừng
ẩm
thường
xanh
nhiệt
đớI và
cận
nhiệt
đớI
Tổng số
Tổng s
ố
chung
và giá
trị
tầng, ngăn cản sự luân chuyển muối dinh
dưỡng từ đáy lên bề mặt, trừ những khu
vực nước trồi (Upwelling). Ngược lại ở
vĩ độ ôn đới, khối nước trong năm có thể
được xáo trộn từ 1 đến 2 lần, tạo điều
kiện phân bố lại nguồn muối dinh dưỡng
trong toàn khối nước.
Thu Nga