Tài liệu Đề tài “Giải thích tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước” - Pdf 10




Đề Tài: Giải thích tác động tràn của FDI đến
khu vực kinh tế trong nước

LỜI MỞ ĐẦU
FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá và
xã hội. Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo, kỳ
vọng lớn nhất của việc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế.


Mục lục

Trang
Lời mở đầu 2

Phần một: Lý luận chung
I. FDI
1. Các khái niệm 4
2. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế ở các nớc
đang phát triển 5
II. Tác động tràn của fdi:
1. Khái niệm 8
2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn 8

Phần hai: Tác động tràn của FDI đến khu vực kinh
tế trong nớc
I. Tình hình thu hút FDI của Việt Nam trong những năm qua 10
II. Tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nớc
1. Kênh di chuyển lao động 14
2. Kênh phổ biến và chuyển giao công nghệ 15
3. Kênh liên kết sản xuất 16
4. Kênh cạnh tranh 18
III. Phân tích định lợng tác động tràn
1. Tác động tràn của FDI tới năng suất lao động của doanh nghiệp 20
trong nớc
2. Khả năng hấp thụ tác động tràn của khu vực kinh tế trong nớc 22

Phần ba: Một số giải pháp 26


sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
theo quy định của luật này.
Kể từ năm 1996 thì khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào
khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài.
Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một
nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để
cú c quyn s hu v qun lý hoc quyn kim soỏt mt thc th kinh t ti
quc gia ú vi mc tiờu ti a hoỏ li ớch ca mỡnh.
Nh vy u t trc tip nc ngoi bao gi cng l mt dng quan h kinh t
cú nhõn t nc ngoi: ch u t, vn u t, a im u t t cỏc quc gia
khỏc nhau. Nhõn t nc ngoi õy khụng ch th hin s khỏc bit v quc
tch hoc lónh th c trỳ thng xuyờn ca cỏc bờn tham gia vo quan h u t
trc tip nc ngoi m cũn th hin vic di chuyn t bn trong u t trc tip
vt ra khi biờn gii mt quc gia.
Qua ú ta cú th thy c u t trc tip nc ngoi hin nay cú hai c
im ni bt ú l: cú s di chuyn t bn trong phm vi quc t v ch u t trc
tip tham gia vo quỏ trỡnh hot ng s dng vn v qun lý i tng u t.
Trong thc tin, FDI c thc hin theo nhng hỡnh thc khỏc nhau, trong ú
nhng hỡnh thc c ỏp dng ph bin bao gm:
+ Hp tỏc kinh doanh trờn c s hp ng hp tỏc kinh doanh
+ Doanh nghip liờn doanh
+ Doanh nghip 100% vn nc ngoi
Ngoi nhng hỡnh thc u t trờn, cũn mt vi hỡnh thc u t 100% vn
nc ngoi khỏc nh BOT (xõy dng - kinh doanh - chuyn giao), BTO (xõy dng
- chuyn giao - kinh doanh), BT (xây dựng - chuyển giao)

FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu t phát triển mà còn là một luồng
vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu t quốc tế khác, bởi FDI dựa trên
quan điểm dài hạn về thị trờng, về triển vọng tăng trởng và không tạo ra nợ
cho chính phủ nớc tiếp nhận đầu t, do vậy, ít có khuynh hớng thay đổi khi
có tình huống bất lợi.
2.2. FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển:
Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trởng và sự phát
triển của mọi quốc gia, đối với các nớc đang phát triển thì vai trò này càng
đợc khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cờng khả năng công nghệ luôn là một
trong những mục tiêu u tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy
nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải
có một trình độ phát triển nhất định của khoa học - kỹ thuật.
Lênin cũng đã từng khẳng định: Không có kỹ thuật đại t bản chủ nghĩa
đợc xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không
có một tổ chức nhà nớc có khoa học khiến cho hàng triệu ngời phải tuân
theo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất
và phân phối sản phẩm thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội đợc.
Đầu t nớc ngoài (đặc biệt là FDI) đợc coi là nguồn quan trọng để phát
triển khả năng công nghệ của nớc chủ nhà. Vai trò này đợc thể hiện qua hai
khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sãn có từ bên ngoài vào và sự phát
triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nớc chủ
nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng đợc nớc chủ nhà mong đợi từ các
nhà đầu t nớc ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đờng FDI thờng đợc thực hiện
chủ yếu bởi các TNC (công ty xuyờn quốc gia), dới các hình thức chuyển giao
trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi
nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ đợc chuyển giao giữa các chi nhánh
của các TNC sang nớc chủ nhà (nhất là các nớc đang phát triển đợc thông
qua các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà
bên nớc ngoài nắm phần lớn cổ phần dới các hạng mục chủ yếu nh tiến bộ

lao động đã tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ. Điều này không chỉ mang lại
cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải
phóng phụ nữ ở các nớc này.
FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nớc
chủ nhà thông qua các dự án đầu t vào lĩnh vực giáo dục đào tạo. Các cá
nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài có cơ hội học
hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý
tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải
thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các
công ty bạn hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nớc tiếp nhận
đầu t còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những ngời làm việc trong các
doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nớc
hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.
Đầu t nớc ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cờng sức khoẻ và
dinh dỡng cho ngời dân nớc chủ nhà thông qua các dự án đầu t vào
ngành y tế, dợc phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm.
2.4. FDI giúp mở rộng thị trờng và thúc đẩy xuất khẩu:
Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất
khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nớc chủ nhà đợc khai thác
có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Các nớc đang phát triển
tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh đợc nhng vẫn
rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trờng quốc tế. Bởi thế, khuyến khích
đầu t nớc ngoài hớng vào xuất khẩu luôn là u đãi đặc biệt trong chính
sách thu hút FDI của các nớc này. Thông qua FDI các nớc tiếp nhận đầu t
có thể tiếp cận với thị trờng thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các
TNC thực hiện. ở tất cả các nớc đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò
quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong
hệ thống sản xuất và thơng mại quốc tế. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng
đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai
thác đợc hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị

Vậy Tác động tràn là tác động gián tiếp xuất hiện khi có mặt của các doanh
nghiệp FDI làm cho các doanh nghiệp trong nước thay đổi hành vi của mình như
thay đổi công nghệ, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh…
Có 4 kênh xuất hiện tác động tràn nhiều nhất: kênh di chuyển lao động, kênh
phổ biến & chuyển giao công nghệ, kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh tranh.

2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn:
2.1. Kênh di chuyển lao động:
Lao động có kỹ năng chuyển từ doanh nghiệp FDI tới doanh nghiệp trong nước
được coi là một kênh quan trọng có thể tạo ra tác động tràn tích cực. Tác động tràn
xảy ra nếu như số lao động này sử dụng kiến thức đã học được trong thời gian làm
việc tại các doanh nghiệp FDI vào công việc trong doanh nghiệp trong nước. Có
hai cách để tạo ra tác động tràn. Đó là số lao động này tự thành lập Công ty riêng
hoặc làm thuê cho các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong cùng ngành mà
doanh nghiệp FDI đang hoạt động.
2.2. Kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ:
Đây là một kênh rất quan trọng để tạo ra tác động tràn tích cực của FDI.
Sự chuyển giao có 3 loại: Chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp là hình thái
chuyển giao giữa công ty đa quốc gia (MNC) với công ty con tại nước ngoài tức
doanh nghiệp FDI.
Hình thái thứ hai là chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh
nghiệp bản xứ hoạt động trong cùng ngành. Người quản lý bản xứ làm việc trong
doanh nghiệp FDI sau khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm có thể mở công ty riêng
cạnh tranh lại với công ty FDI. Đối với doanh nghiệp FDI đây là một sự tổn thất
nhưng đối với kinh tế của nước nhận FDI thì đây là hiện tượng tốt vì công nghệ
được lan truyền sang toàn xã hội góp phần tăng cường nội lực. Một thí dụ khác của
hình thái nµy là xí nghiệp bản xứ đã có s½n và hoạt động cạnh tranh trong cùng
lãnh vực với doanh nghiệp FDI có thể quan sát, nghiên cứu hoạt động của doanh
nghiệp FDI từ đó cải thiện hoạt động của mình. Có thể gọi hình thái thứ hai liên
quan đến chuyển giao công nghệ là sự chuyển giao hàng ngang giữa các doanh

Phần hai
TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ
TRONG NƯỚC

I. TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
QUA:
Từ đầu thập niên 1990, kinh tế vĩ mô của Việt Nam được ổn định, tốc độ phát
triển kinh tế cũng lên quỹ đạo và ở mức tương đối cao. Quan hệ với Trung Quốc và
các nước khác trong khu vực đã bình thường hoá. Nhật đã quyết định viện trợ trở
lại (1992) và Hội nghị các nhà tài trợ giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng đã
được quyết định sẽ tổ chức hằng năm (bắt đầu năm 1993). Sự chuyển biến thuận
lợi nầy cùng với vị trí địa lý tốt, tình hình chính trị, xã hội ổn định và một nước có
dân đông, có nguồn lao động phong phú đã làm cho Việt Nam trở thành môi
trường đầu tư nhiều tiềm năng. Theo kết quả thăm dò hằng năm về kế hoạch đầu tư
nước ngoài của vài ngàn doanh nghiệp lớn Nhật Bản do Ngân hàng hợp tác quốc tế
Nhật Bản (JBIC) thực hiện, Việt Nam đã sớm trở thành một trong những môi
trường mà doanh nghiệp Nhật chú ý. Việt Nam xếp thứ 5 trong lần thăm dò năm
1992. Năm 1993 Việt Nam ở vị trí thứ 4 và trong 2 năm liên tiếp sau đó đã vươn
lên vị trí thứ 2. Từ năm 1996 vị trí của Việt Nam giảm nhưng hầu như năm nào
cũng nằm trong 5 nước được doanh nghiệp Nhật đánh giá cao về tiềm năng.
Việt Nam tiếp tục được nước ngoài đánh giá cao về tiềm năng nhưng dòng chảy

ngoại lực đều cần tăng cường.

Xét về chất, FDI tại Việt Nam cho đến nay có các đặc tính chưa mang lại hiệu
quả tích cực cho phát triển kinh tế. Trước hết có thể thấy tỉ trọng của FDI trong sản
xuất công nghiệp khá cao (gần 40% năm 2000) nhưng chỉ chiếm độ 10% trong lao
động công nghiệp (Biểu 1). Dĩ nhiên điều đó cũng có nghĩa là năng suất lao động
của các doanh nghiệp FDI cao hơn các thành phần kinh tế khác. Nhưng FDI ít tạo
ra công ăn việc làm không phải chỉ vì lý do đó mà chủ yếu vì cho đến nay FDI có
khuynh hướng tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu và ít dùng lao động.
Như Biểu 1 cho thấy, vị trí của FDI trong tổng nhập khẩu cao hơn trong tổng xuất
khẩu. Dĩ nhiên các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nhiều nguyên liệu và máy móc để
phục vụ cho cả các dự án đầu tư hướng về xuất khẩu nhưng nếu phần lớn FDI là
hướng về xuất khẩu thì tỉ lệ của FDI trong nhập khẩu sẽ thấp hơn nhiều.
Để phân tích sâu hơn tính chất của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, ta thử
chia khu vực công nghiệp chế biến thành 23 ngành và tính thử tỉ lệ của tư bản dùng
cho mỗi lao động (viết tắt là K/L) và tỉ lệ xuất khẩu trong tổng doanh số bán ra
(viết tắt là E/S) trong từng ngành. Thống kê về tư bản được tính bằng cách cộng tất
cả kim ngạch đầu tư đã thực hiện từ trước đến thời điểm cuối năm 2002. Thống kê
về lao động lấy số liệu vào cuối năm 2002, kim ngạch xuất khẩu và doanh số bán
ra là của năm 2002.
Trong Hình 3, trục tung đo tỉ lệ E/S và trục hoành đo tỉ lệ K/L. Ta thấy ngay
rằng trừ một vài ngoại lệ, những ngành có hàm lượng lao động cao (tỉ lệ K/L thấp)
là những ngành mà FDI hoạt động chủ yếu là phục vụ xuất khẩu (tỉ lệ E/S cao),
điển hình là may mặc, giày dép, chế biến đồ gỗ, Điều này hợp với lý luận cơ bản
về kinh tế quốc tế vì Việt Nam là nước phong phú về lao động nên có lợi thế so
sánh trong các ngành có hàm lượng lao động cao.

Nhưng cho đến nay những ngành mà kim ngạch FDI chiếm vị trí hàng đầu là
những ngành thay thế nhập khẩu. Bốn ngành có kim ngạch FDI nhiều nhất (kim
thuộc, thực phẩm và đồ uống, ô tô xe máy và hoá chất) chiếm tới 53% tổng kim

này tự mở Công ty và 18% trả lời lao động chuyên đi làm cho các doanh nghiệp
trong nước (số còn lại trả lời không biết). Như vậy, tuy tính linh hoạt về di chuyển
lao động khá cao của khu vực doanh nghiệp FDI trong ba nhóm ngành trên, nhưng
1/3 số lao động chỉ di chuyển trong nội bộ khu vực doanh nghiệp FDI và rất có thể
phần lớn trong số họ là lao động có kỹ năng. Kết quả này có phần ủng hộ cho nhận định
về hiện tượng co cụm về lao động của khu vực FDI hay thấy ở các nước đang phát triển.
Chỉ có 4,6% doanh nghiệp trong nước thuộc nhóm ngành chế biến thực phẩm trả
lời đã tiếp nhận lao động từ doanh nghiệp FDI, trong khi không doanh nghiệp nào trong
hai nhóm còn lại tuyển được lao động từ các doanh nghiệp FDI chuyển sang.
Để tăng hiệu quả việc di chuyển lao động, điều tiên quyết của Việt Nam là cần
tăng cường giáo dục, đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực cần thiết. Chính sách gần
đây của Việt Nam (hạn chế doanh nghiệp FDI chỉ được dùng người nước ngoài
trong giới hạn 3% tổng lao động trong công ty) là không có cơ sở khoa học và chỉ
làm môi trường FDI ở Việt Nam xấu hơn.
Về việc di chuyển lao động, chưa có số liệu đầy đủ để phân tích có hệ thống
nhưng những thông tin liên quan thu thập được trong mấy năm qua cho thấy là
hiệu quả chuyển giao rất yếu vì các lý do sau: Thứ nhất, phần lớn đối tác phía Việt
Nam trong các liên doanh FDI là doanh nghiệp quốc doanh (SOEs). Người quản
lý, lãnh đạo kinh doanh được gửi tới các liên doanh thường là cán bộ ở SOEs hoặc
ở các bộ chủ quản của SOEs liên quan. Trong số nầy cũng có nhiều người vốn có
tinh thần doanh nghiệp, tinh thần trách nhiệm và ham học hỏi nên đã làm việc hiệu
quả trong các liên doanh, tích cực hấp thu tri thức và kinh nghiệm từ đồng nghiệp
nước ngoài. Nhưng một phần khá lớn họ là những người hành động như các quan
chức và dồn hết quan tâm về những vấn đề khác, thay vì làm cho liên doanh phát
triển. Thứ hai, nguyên tắc nhất trí 100% thành viên hội đồng quản trị áp dụng vào
việc quyết định các vấn đề kinh doanh trong liên doanh kéo dài quá lâu, cải thiện
quá chậm gây ảnh hưởng hoạt động của doanh nghiệp FDI. Vì lý do nầy, MNCs
đầu tư ở Việt Nam có khuynh hướng lập doanh nhgiệp 100% vốn nước ngoài thay
vì liên doanh. Các liên doanh trong quá khứ cũng có khuynh hướng xin chuyển
sang hình thức 100% vốn nước ngoài

dựa trên các lợi thế về công nghệ do Công ty cung cấp. Vì vậy, khả năng tiếp cận
công nghệ mới của các Công ty con hoạt động ở nước nhận đầu tư càng cao, càng
có lợi cho quá trình sinh ra tác động tràn tích cực qua rò rỉ công nghệ. Tuy nhiên,
kết quả điều tra cho thấy tới 70% doanh nghiệp FDI rất ít khi tiếp cận với công
nghệ từ Công ty mẹ chuyển giao và 36% cho rằng ý tưởng đổi mới công nghệ bắt
nguồn từ nhu cầu thực tiễn cũa. Như vậy, thực tế là các doanh nghiệp FDI ở Việt
Nam hoạt động khá độc lập với Công ty mẹ ở nước ngoài đặc biệt là trong đầu tư
đổi mới công nghệ. Có 2 cách lý giải cho điều này. Một là bản thân các Công ty
mẹ cũng là Công ty nhỏ, do đó năng lực cho hoạt động R&D không cao và không
thể hỗ trợ nhiều cho các Công ty con. Lý giải này phù hợp với nhận định khá phổ
biến hiện nay là các Công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là các Công
ty vừa và nhỏ. Cách lý giải thứ 2 là Việt Nam chưa phải là thị trường đầu tư trọng
tâm, hoặc trình độ công nghệ trong nước yếu dẫn đến không cần thiết phải đầu tư
với công nghệ cao hơn. Chúng tôi cho rằng có thể trong thực tiễn cả hai cách lý
giải này đều đúng và bổ sung cho nhau.
Như vậy, dù phân tích dưới góc độ nào, kết quả điều tra mẫu 93 doanh nghiệp
phần nào phản ánh thực tế ở Việt Nam là ít thấy biểu hiện về tác động tràn tích cực
thông qua kênh chuyển giao công nghệ và nếu xuất hiện thì các tác động cũng chỉ
ở mức thấp. Theo như kết quả điều tra thì tác động này dễ xảy ra hơn đối với nhóm
ngành dệt may và chế biến thực phẩm.

3. Kênh liên kết sản xuất:
Kết quả điều tra cho thấy, chỉ 31% nguyên liệu sản xuất mà các doanh nghiệp
FDI sử dụng được mua từ các doanh nghiệp trong nước, số còn lại mua từ doanh
nghiệp FDI, nhập khẩu hoặc mua trực tiếp từ hộ gia đình. Quan trọng hơn, chỉ số
này hầu như không thay đổi qua 3 năm từ 2001 – 2003. Về lý do nhập khẩu
nguyên liệu, có tới 42,6% doanh nghiệp FDI cho rằng nguyên liệu đó không có ở
Việt Nam, 15% cho rằng có những giá cao hơn nhập ngoại, 25% cho rằng chất
lượng không tốt bằng nguyên liệu ngoại nhập.
Kết quả cũng tương tự khi xem cơ cấu nguồn cung cấp nguyên liệu của các


Xuất khẩu 79.96 79.43 79.81
Tiêu thụ nội địa 20.04 20.57 20.19
Bán cho doanh nghiệp trong nước 35.79 33.97 34.11
Bán cho doanh nghiệp FDI 3.16 2.78 2.78
Tự phân phối 61.06 63.25 63.11
Thực phẩm

Xuất khẩu 2.58 27.76 23.21
Tiêu thụ nội địa 7.42 72.24 76.79
Bán cho doanh nghiệp trong nước 60.08 48.39 48.39
Bán cho doanh nghiệp FDI 13.06 13.48 13.03
Tự phân phối 26.85 38.14 38.58
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của CIEM
Hiệu quả lan toả từ FDI đến các thành phần khác trong nền kinh tế càng cao
thì nội lực càng được tăng cường. Qua sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các
doanh nghiệp trong nước (SOEs, doanh nghiệp tư nhân, các đơn vị cá thể, ), công
nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI đến các thành
phần khác của nền kinh tế. Để kiểm chứng hiệu quả nµy, xét ngành cụ thể là
ngành may mặc:
Dệt vải và may mặc là những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam.
Năm 2001, hai ngành nµy chiếm độ 11% giá trị tính thêm trong toàn bộ ngành
công nghiệp chế biến.Từ đầu thập niên 1990s, may mặc trở thành ngành xuất khÈu
hàng đầu của Việt Nam. Vào giữa thập niên 1990, ngành nµy chiếm 15% tổng kim
ngạch xuất khẩu và độ 50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Với sự lớn
mạnh của ngành da giày và một số ngành xuất khẩu khác, vị trí của ngành may
mặc có giảm nhưng vẫn chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001.
Trước giai đoạn may mặc là các giai đoạn kéo sợi, dệt và dệt kim. Theo Biểu 7,
số doanh nghiệp FDI hiện diện khá đông đảo trong tất cả các giai đoạn, đặc biệt là
khá tích cực trong giai đoạn may mặc. Trong hai ngành may mặc và dệt nầy, các

cấp các sản phẩm chất lượng cao và/hoặc không đảm bảo các điều kiện về giao
hàng. Doanh nghiệp tư nhân trong nước còn quá yếu.
4. Kênh cạnh tranh:
Thực tế cho thấy, trong khi khu vực doanh nghiệp FDI chịu sức ép cạnh tranh
lớn nhất giữa các doanh nghiệp này với nhau, thì các doanh nghiệp trong nước lại
cho rằng họ đang chịu sức ép cạnh tranh mạnh ngang nhau từ doanh nghiệp FDI và
chính các doanh nghiệp trong nước. Trong khi doanh nghiệp FDI chịu áp lực mạnh
nhất về sản phẩm (chủng loại, mẫu mã mới), thì doanh nghiệp trong nước lại đánh
giá cao nhất sức ép về công nghệ có trình độ cao hơn từ phía doanh nghiệp FDI.
Đánh giá về sức ép cạnh tranh
Doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp trong nước
DN NN DN TN DN FDI Hộ GĐ
DN trong
nước
DN FDI Hộ GĐ
Vệ thị phần 4.18

4.88

7.00

2.81

6.02 6.62

2.85

Về sản phẩm

4.00


6.25

2.36

5.76 7.00

3.23

Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của CIEM
Điều tra này cũng phản ánh phần nào việc các doanh nghiệp FDI liên tục tung
các sản phẩm mới ra thị trường, trong khi các doanh nghiệp trong nước dường như
vẫn đang phải dòn sức lực vào dây chuyền và công nghệ sản xuất.
Bột giặt Daso đang phải đối mặt với Omo, Tide; sữa Vinamilk, Nutifood phải
cạnh tranh với Nestle, Abott, Mead&Johnson, Dumex ; bia Sài Gòn, Laser đang
"chống trả" Heineken, Tiger, Foster…Thị trường hàng điện tử Việt Nam dù nhỏ
nhưng có sự hiện diện đầy đủ của các "anh hào" điện tử toàn cầu: Sony, Panasonic,
Toshiba, Samsung, LG Các DN Việt Nam rất vất vả trong cuộc cạnh tranh này,
thất bại là khả năng khó tránh khỏi". Hiện các sản phẩm lắp ráp trong nước đang
chiếm khoảng 70% thị phần hàng điện tử Việt Nam, tuy nhiên phần lớn vẫn là
những thương hiệu của các tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới.
Theo nghiên cứu của Công ty GFK trong năm 2004, các sản phẩm thương hiệu
Việt Nam chỉ chiếm 6% thị phần sản phẩm điện tử nghe nhìn; 48% là các sản
phẩm có thương hiệu Nhật Bản và 35% là các thương hiệu Hàn Quốc Đối với
sản phẩm điện tử gia dụng, thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 3%; các thương hiệu
Nhật chiếm 53%; các thương hiệu Hàn Quốc là 35%
Một số DN sản xuất hàng tiêu dùng trong nước đã nỗ lực rất lớn và đạt được
những thành quả bước đầu trong cuộc cạnh tranh với các thương hiệu nước ngoài.
Có thể kể sản phẩm nước tăng lực Number One của Công ty Tân Hiệp Phát như
một điển hình. Bất ngờ xuất hiện một cách ấn tượng trên thị trường với phong cách

i
, hopdong
i
, Dtinh
i
,
Dnganh).
Kết quả và đánh giá.
Ở mặt bằng chung, ngoại trừ biến hopdong, tất cả các biến khác đều có tác
động dương tới thay đổi NSLĐ. Tuy nhiên, ở từng nhóm ngành và từng nhóm
doanh nghiệp, đóng góp của các biến là khác nhau. Đặc biệt chú ý là lao động có
tay nghề không ảnh hưởng tới thay đổi về NSLĐ của các nhóm ngành phân tích và
của nhóm doanh nghiệp tư nhân trong nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân trong
nước ở ngành dệt - may và cơ khí - điện tử từ thậm chí cả vốn và lao động kỹ năng
đều không có tác động rõ rệt tới thay đổi NSLĐ của doanh nghiệp. Kết quả này
phản ánh phần nào thực trạng ở Việt Nam là các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu sử
dụng lao động phổ thông là chính và doanh nghiệp dệt may và cơ khí -điện tử cũng
là các doanh nghiệp nhỏ xét về vốn. Ngoài rakết quả tính toán cho thấy ở những đô
thị lớn có ảnh hưởng tích cực đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm dệt may nói
chung và thuộc nhóm DNNN, nhưng lại không có ảnh hưởng đến nhóm doanh
nghiệp tư nhân trong nước. Điều này có thể là do sản phẩm của các doanh nghiệp
tư nhân khó cạnh trang được với cùng loại sản phẩm do các doanh nghiệp khác sản
xuất tại các đô thị lớn. Do vậy, doanh nghiệp tư nhân thường cung cấp sản phẩm
cho các thị trường có sức mua thấp hơn, chẳng hạn ở vùng nông thôn.
Kết quả kiểm định ở ước lượng I cho biết sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI
làm thay đổi NSLĐ của các doanh nghiệp trong nước theo hướng tích cực hay cho
thấy dấu hiệu của việc xuất hiện tác động tràn tích cực. Ở góc độ ngành, biến
tytrong có dấu dương ở tất cả các nhóm ngành, ở cả hai nhóm doanh nghiệp nhưng
chỉ có ý nghĩa ở nhóm ngành chế biến thực phẩm. Xét trên giác độ loại hình doanh
nghiệp, sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI dường như không có ảnh hưởng gì tới

Cơ khí
điện tử
Cuongdovon

159341* 16548*** 0.1831 27757*** 1597* 16541*** 0.1898 0.297565(6.39) (162.97) (3.31) (5.85) (6.95) (382.23) (4.66) (176)
Trinhdo 2896** 2582** 0.221 5907*** 28914** 258** 0.2218 6093**

(21.48) (19.27) (5.54) (4.94) (33.2) (17.53) (5.44) (18.51)
Quymo 38075** 38666** 0.3171 1.243*** 38099*** 386** 0.3149 1.299**

(47.66) (43.52) (6.03) (15.14) (63.76) (52.45) (6.16) (14.69)
Dsohuu 1.0278** 7412** 8351* 3.251*** (43.41) (44.93) (12.38) (5.38)

Dtinh 16708** 01965* 24326** 0.1891 16812** 0.0201 247.56* 0.2723

(22.73) (6.33) (14.44) (0.57) (37.71) (3.88) (10.14) (5.62)
Chiphoi1

1.0209** 73543** 8172** 3.1675**

(47.87) (55.84) (1502) (14.45)
Chiphoi2

1.0498*** 7554** 97895* 4.5405**


Hệ số tự do 5.7478***

5.7986** 4.363** 15.692*** 5.745*** 5.7958*** 4.363** 15.58***

(302.01) (59.83) (15.08) (19.52) (1651.93) (65.23) (12.83) (91.15)
Số quan sát 10591 2994 1389 429 10591 2994 1389 429
R
2
0.6328 0.4887 0.4595 0.5568 0.6386 0.4857 0.4599 0.553
Giá trị p

0.1721 0.0681 0.1074 0.0311

Chú thích:
1. Biến phụ thuộclà năng suất lao động bình quân, tính bằng giá trị gia tăng/số nhân công. Mô hình được ước
lượng dưới dạng logarit
2. Giá trị trong ngoặc ở phía dưới mỗi dong là giá trị kiểm định t, dựa trên điều chỉnh sai số chuẩn cho phương
sai không đồng đều.
3. Các dấu *, **, *** thể hiện mức độ ý nghĩa tương ứng 10%, 5% và 1%;
4. Giá trị p là giá trị xác suất của kiểm định F khi kiểm định sự bằng nhau của hai biến chiphoi1 và chiphoi2.
Tuy nhiên, việc lý giải trên thực tế là rất phức tạp do đó tách bạch rạch ròi tác
động tràn qua từng kênh, vì vậy cùng khó có thể kết luận một cách chính xác về
việc không có tác động tràn trong DNNN. Chẳng hạn, tác động tràn tích cực có thể
xuất hiện ở kênh này, nhưng lại là tiêu cực qua kênh khác và cuối cùng là triệt tiêu
lẫn nhau, thể hiện qua kết quả ước lượng mô hình trên.

2. Khả năng hấp thụ tác động tràn của doanh nghiệp trong nước
Nhiều nghiên cứu định lượng cho các nước đang phát triển, nhất là các nước
nghèo đã chỉ ra sự xuất hiện tác động tràn qua kênh tiếp thu công nghệ còn phụ

doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và vừa có khả năng hấp thụ tác động tràn tích
cực mạnh hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn xét cả tiêu thức vốn lẫn lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status