LUẬN VĂN ĐỀ TÀI: Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động tại Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân
hàng Luận văn tốt nghiệp
1MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
15
1.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý và hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.
15
1.3.2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tổ chức quản
lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
17
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VLĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ
TẠI CÔNG TY IN - THƯƠNG MẠI - DỊCH VỤ NH NN
0
& PTNT VIỆT NAM
19
2.1. Vài nét về Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
&
PTNT Việt Nam .
19
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty In - Thương
mại - Dịch vụ Ngân hàng NN0 & PTNT Việt Nam.
19
2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty In - Thương
mại - Dịch vụ Ngân hàng.
25
2.3.2. Những khó khăn, tồn tại cần khắc phục. 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ Ở CÔNG TY IN - THƯƠNG MẠI -
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG.
57
3.1. Phương hướng hoạt động của Công ty trong thời gian tới.
57
3.1.1. Những quan điểm cần quán triệt. 57
3.1.2. Phương hướng hoạt động. 58
3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐ tại Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng.
583.2.1. Chủ động trong công tác huy động và sử dụng VLĐ. 59
3.2.2. Tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh. 62
3.2.3. Tổ chức tốt công tác tiêu thụ, thanh toán tiền hàng và thu
hồi công nợ.
64
3.2.4. Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích kinh tế. 66
biến động của thị trường, với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp
trong và ngoài nước. Muốn có được hiệu quả cao trong SXKD, tăng sức cạnh
tranh của mình các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để huy động và sử
dụng vốn sao cho hợp lý. Đây là việc làm cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa
sống còn đối với các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia.
Xuất phát từ những vấn đề bức xúc nêu trên và qua thời gian thực tập
tại Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam.
Tôi quyết định lựa chọn đề tài: "Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng " làm khoá luận tốt
nghiệp của mình.
2. Kết cấu của khoá luận
Kết cấu của khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm
3 chương.
Chương 1: Vốn lưu động và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp.
Chương 2: Tình hình sử dụng VLĐ và hiệu quả sử dụng VLĐ tại Công
ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam.
Luận văn tốt nghiệp
4
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng VLĐ tại Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
&
PTNT Việt Nam.
5
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu
thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn
nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được
liên tục trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Để hình thành nên tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp cần phải
có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về
những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng
trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận
động liên tục, chuyển hoá từ hình thái này qua hình thái khác. Sự vận động
của vốn lưu động qua các giai đoạn có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
T
T-H-SX-H’- T’
Ä T
Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lưu thông, quá trình vận động của
vốn lưu động theo trình tự sau:
T
T – H – T’
Ä T
Sự vận động của vốn lưu động trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ
hình thái ban đầu là tiền tệ sang các hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng
quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động.
Cụ thể là sự tuần hoàn của vốn lưu động được chia thành các giai đoạn như
sau:
phẩm.
1.1.1.2. Phân loại vốn lưu động.
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân
loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Thông
thường có những cách phân loại sau đây:
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia
thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế,
công cụ dụng cụ.
Luận văn tốt nghiệp
7
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành
phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý ); các khoản vốn đầu tư ngắn
hạn(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ) các khoản thế chấp,
ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải
thu, các khoản tạm ứng ).
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động
trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều
chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
* Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Theo cách này vốn lưu động có thể chia thành hai loại:
- Vốn vật tư, hàng hoá: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu
hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn
điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt
giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp
được tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết; là số vốn lưu động được hình thành
từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn
góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng
hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ
chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các
doanh nghiệp khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu,
trái phiếu.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh
nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong
kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có
Luận văn tốt nghiệp
9
chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ
tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình.
* Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn.
Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu
động tạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên.
- Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ
yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh
hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật
tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân
chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang
hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động. Có
nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với
yêu cầu của công tác quản lý. Thông qua các phương pháp phân loại giúp
cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử
dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công
tác quản lý kỳ này để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng
như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu
vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau.
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng
không giống nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn
những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng.
Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có
hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động.
Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ của doanh
nghiệp.
- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh
nghiệp với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao
hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ
của chủng loại vật tư cung cấp.
- Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản
xuất của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của
chu kỳ sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất.
Luận văn tốt nghiệp
hiệu quả cao trong SXKD.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp đã sử
dụng VLĐ để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bình
thường và liên tục. Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng
Luận văn tốt nghiệp
12
hiệu quả từng đồng vốn lưu động. Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả VLĐ
được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ luân chuyển VLĐ.
Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở
tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn
lưu động luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng
cao và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển VLĐ có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân
chuyển(số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn(số ngày của một vòng quay
vốn). Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm. Công thức tính như sau:
M
VLĐ
Trong đó:
L: số lần luân chuyển(số vòng quay) của VLĐ trong kỳ.
M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
VLĐ; vốn lưu động bình quân trong kỳ.
Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quay VLĐ.
Công thức được xác định như sau:
360 (VLĐ x 360)
L M
) - V
LĐ0
= V
LĐ1
– V
LĐ0
360
Trong đó: V
tktđ
: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.
V
LĐ0
, V
LĐ1
: Vốn lưu động bình quân năm báo cáo và năm kế hoạch.
M1 : Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch
K
1
: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
Điều kiện để có VLĐ tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyển vốn kỳ
kế hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và vốn
lưu động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo.
- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng
thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ. Công thức xác định số VLĐ tiết
kiệm tương đối như sau:
M
1
V
(H) VLĐ
Số DT tạo ra trên 1 đồng VLĐ càng lớn thì hiệu suất của VLĐ
càng cao.
* Hàm lượng VLĐ(hay còn gọi là mức đảm nhận VLĐ).
Hàm lượng VLĐ là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng
doanh thu. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng VLĐ, chỉ
tiêu này được tính như sau:
Hàm lượng : 1
H
Trong đó:
H:hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
* Mức doanh lợi VLĐ(tỷ suất lợi nhuận VLĐ)
Phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng LNTT hoặc sau
thuế TN, TSLĐ vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả của VLĐ càng
cao.
- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ trước thuế và lãi vay: chỉ tiêu này phản ánh
mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của thuế TNDN và chưa tính đến
VLĐ được hình thành từ nguồn nào.
Công thức tính như sau:
LN trước thuế và lãi vay
Tỷ suất VLĐ trước thuế và lãi vay = x 100%
VLĐ
Trong đó:
VLĐ: vốn lưu động bình quân trong kỳ.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động tính với lợi nhuận trước thuế.
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của VLĐ chưa có sự tác động của
thuế TNDN.
Công thức tính như sau:
LN trước thuế
Tỷ suất VLĐ trước thuế = x 100%
Do sự chu chuyển của VLĐ diễn ra không ngừng nên thiếu vốn thì việc
chuyển hoá hình thái sẽ gặp khó khăn, VLĐ không luân chuyển được và quá
trình sản xuất do đó bị gián đoạn.
Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công ty quản lý tài chính
doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ cũng chính là nâng cao hiệu
quả của hoạt đông sản xuất kinh doanh. Quản lý VLĐ không những đảm bảo
sử dụng VLĐ hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tiết
kiệm chi phí, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp
thời. Do đặc điểm của VLĐ là luân chuyển nhanh, sử dụng linh hoạt nên nó
góp phần quan trọng đẩm bảo sản xuất và luân chuyển một khối lượng lớn
sản phẩm. Vì vậy kết quả hoạt động của doanh nghiệp là tốt hay xấu phần lớn
là do chất lượng của công tác quản lý VLĐ quyết định.
Luận văn tốt nghiệp
16
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng VLĐ phải được hiểu trên
hai khía cạnh:
+ Một là, với số vốn hiện có có thể cung cấp thêm một số lượng sản
phẩm với chất lượng tốt, chi phí hạ nhằm tăng thêm lợi nhuận doanh ntghiệp.
+ Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất kinh doanh nhằm tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu bảo đảm tốc độ
tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn.
Hai khía cạnh đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới trong công tác
quản lý và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và VLĐ nói riêng.
Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, vì vậy nền kinh tế
muốn phát triển thì doanh nghiệp hoạt động phải có hiệu quả. Như đã phân
tích ở trên, sử dụng hiệu quả VLĐ là một nhân tố tích cực nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, không thể phủ
nhận vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ đối với sự phát triển
tăng lên, thể hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu
động định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn
giúp cho doanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển,
trang thiết bị, kỹ thuật được cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công
nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động,
nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị
trường. Đặc biệt khi khai thác được các nguồn vốn, sử dụng tốt nguồn vốn
lưu động, nhất là việc sử dụng tiết kiệm hiệu quả VLĐ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh để giảm bớt nhu cầu vay vốn cũng như việc giảm chi phí về
lãi vay.
Từ những lý do trên, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công
tác quản lý và sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp. Đó là một trong
những nhân tố quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp, xa hơn
nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
1.3. Một số biện pháp tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả tổ chức
quản lý và sử dụng vốn lưu động.
Việc tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động chịu ảnh hưởng bởi rất
nhiều nhân tố khác nhau. Để phát huy những nhân tố tích cực đòi hỏi nhà
quản trị phải nắm bắt được những nhân tố chủ yếu tác động đến công tác tổ
chức quản lý và sử dụng vốn lưu động.
1.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý và hiệu quả sử
dụng vốn lưu động.
* Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý vốn lưu
động.
Luận văn tốt nghiệp
18
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu
trưởng chậm nên sức mua của thị trường bị giảm sút. Điều này làm ảnh
hưởng đến tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
19
sẽ khó tiêu thụ hơn, doanh thu sẽ ít hơn, lợi nhuận giảm sút và như thế sẽ
làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng.
+ Rủi ro: do những rủi ro bất thường trong quá trình sản xuất kinh
doanh mà các doanh nghiệp thường gặp phải trong điều kiện kinh doanh của
cơ chế thị trường có nhiều thành phần kinh tế tham gia cùng cạnh tranh với
nhau. Ngoài ra doanh nghiệp còn gặp phải những rủi ro do thiên tai gây ra
như hoả hoạn, lũ lụt mà các doanh nghiệp khó có thể lường trước được.
+ Do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nên sẽ làm
giảm giá trị tài sản, vật tư vì vậy, nếu doanh nghiệp không bắt kịp điều này
để điều chỉnh kịp thời giá trị của sản phẩm thì hàng hoá bán ra sẽ thiếu tính
cạnh tranh làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói
riêng.
+ Ngoài ra, do chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự thay đổi về chính
sách chế độ, hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp.
* Các nhân tố chủ quan:
Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ
quan của chính bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
VLĐ cũng như toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp.
+ Xác định nhu cầu vốn lưu động: do xác định nhu cầu VLĐ thiếu
chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh,
điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng vốn lưu động
mang lại là cao nhất.
1.3.2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tổ chức quản lý và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp nhà nước cũng như mọi doanh
nghiệp khác đều bình đẳng trước pháp luật, phải đối mặt với cạnh tranh, hoạt
động vì mục tiêu lợi nhuận, tự chủ về vốn. Do đó, việc nâng cao sử dụng vốn
sản xuất kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng là vấn đề quan
trọng và cần thiết. Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, các doanh nghiệp
cần phải thực hiện tốt một số biện pháp sau:
-Thứ nhất, phải xác định chính xác số VLĐ cần thiết cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động
VLĐ đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho
hoạt động sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đồng thời tránh tình trạng ứ
đọng vốn, thúc đẩy VLĐ luân chuyển nhanh nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
Xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên, cần thiết để đảm bảo
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được tiến hành liên
tục, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao. Trong điều kiện các Doanh nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
21
chuyển sang thực hiện hạch toán kinh tế theo cơ chế thị trường, mọi nhu cầu
về VLĐ cho sản xuất kinh doanh các Doanh nghiệp đều phải tự tài trợ thì
việc xác định đúng nhu cầu VLĐ sẽ giúp Doanh nghiệp:
- Tránh được tình trạng ứ đọng vốn, sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm,
nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
- Đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được tiến
hành bình thường và liên tục.
0
& PTNT VIỆT NAM
2.1. Vài nét về Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
&
PTNT Việt Nam .
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty In - Thương mại -
Dịch vụ Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam.
2.1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam.
Công ty có trụ sở chính tại tầng 5 toà nhà C3, phường Phương Liệt - Quận
Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội. Công ty được hình thành trên cơ sở sự sáp
nhập và hợp nhất ba đơn vị là: Nhà In Ngân hàng I, Nhà In Ngân hàng II và
Công ty Đầu tư Thương mại Dịch vụ Ngân hàng.
- Nhà In Ngân hàng I được thành lập ngày 15/11/1945, thành lập lại
theo quyết định số 08/QĐ-NHNN ngày 20/01/1993 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước. Có trụ sở chính tại số 10 Chùa Bộc - Quận Đống Đa - Thành phố
Hà Nội.
- Nhà In Ngân hàng II được thành lập ngày 25/05/1976, thành lập lại
ngày 20/01/1993 theo Quyết định số 07/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam. Có trụ sở chính tại số 422 đường Trần Hưng Đạo -
Quận 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhà In Ngân hàng I và Nhà In Ngân hàng II đã được sáp nhập vào
Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam theo Quyết định số 1309/QĐ-NHNN ngày
móc thiết bị, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên, ngày
29/01/2004 Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng đã được thành lập
theo Quyết định số 50/QĐ/HĐQT-TCCB của Hội đồng quản trị Ngân hàng
NN
0
và PTNT Việt Nam. Kể từ đó Công ty trở thành một đơn vị kinh tế với đủ
tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có, được Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam cấp 100% vốn điều lệ là 80tỷ VND. Hiện nay Công ty đang
từng bước khẳng định vị trí của mình, hoạt động SXKD ngày càng mở rộng
đáp ứng tốt nhu cầu của ngành Ngân hàng ngoài ra còn đáp ứng được nhu
cầu của các đơn vị tổ chức kinh tế khác ngoài ngành.
Hiện nay Công ty đã và đang ngày một trưởng thành, lớn mạnh gồm 4
đơn vị kinh tế trực thuộc là:
- Nhà In Ngân hàng I; Nhà In Ngân hàng II; Trung tâm Quảng cáo;
Công ty Xây dựng và Dịch vụ Ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh của Công ty không ngừng được mở rộng trên
phạm vi toàn quốc.
2.1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng là một doanh nghiệp
Nhà nước, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về hoạt
động kinh doanh và tài chính của mình, chịu sự ràng buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ đối với Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam. Phải tự bù đắp chi phí
và đảm bảo kinh doanh có lãi trên cơ sở tuân theo những nguyên tắc của chế
độ hạch toán kinh tế.
* Nhiệm vụ cơ bản của Công ty là: Phục vụ các nhu cầu về dịch vụ,
thương mại cho hoạt động của Ngân hàng NN
- Thiết kế, thi công các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho hoạt
động của Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam.
- Nhận làm dịch vụ uỷ thác về huy động, tiết kiệm, uỷ thác phát hành
trái phiếu cho Ngân hàng NN
0
& PTNT Việt Nam và đại lý phát hành các sản
phẩm Ngân hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ khác theo uỷ quyền của Ngân hàng NN
0
&
PTNT Việt Nam và theo quy định của pháp luật.
2.1.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Là một đơn vị kinh tế hạch toán độc lập với nhiều chức năng trên các
lĩnh vực thương mại, du lịch, dịch vụ, xây dựng hơn nữa lại tiến hành SXKD
trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định
hướng XHCN, Công ty In - Thương mại - Dịch vụ Ngân hàng đã và đang có
những bước thay đổi đáng kể trong việc tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý, điều
hành, sắp xếp lại lao động. Cơ cấu quản lý của Công ty được tổ chức theo
kiểu một cấp, được chia thành các phòng ban chức năng gọn nhẹ, phù hợp
với yêu cầu quản lý của Công ty.