ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM - Pdf 10

Lời nói đầu
Trong những năm qua, nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ trong
công cuộc đổi mới kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam từng bớc thoát khỏi nghèo nàn,
lạc hậu và bớc đầu có tích lũy. Nớc ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã
hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm. Đến nay, thế và lực của đất nớc đã có sự
biến đổi rõ rệt về chất. Chúng ta đã tạo đợc những tiền đề cần thiết để chuyển sang
thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Những
thành tựu đó có sự đóng góp rất lớn của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài .
Đối với quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam, từ một điểm xuất phát
thấp, đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò hết sức quan trọng. Nó là nguồn bổ sung
vốn cho đầu t, là một kênh để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạo việc
làm và thu nhập cho ngời lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc và giúp
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
Từ khi Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến hết tháng 12
năm 2000, Nhà nớc ta đã cấp giấy phép cho 3254 dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài
với tổng số vốn đăng ký là 38.553 triệu USD. Tính trung bình mỗi năm chúng ta
cấp phép cho 250 dự án với mức 2965,62 triệu USD vốn đăng ký. Trong giai đoạn
1991-1999, vốn đầu t xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp FDI chiếm 26,51%
tổng vốn đầu t xây dựng cơ bản xã hội. Năm 2000, khu vực FDI tạo ra doanh thu
6.500 triệu USD, giải quyết công ăn việc làm cho 350.000 lao động và đóng góp
12,7% trong GDP cả nớc.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010, Đảng và Nhà nớc ta
phấn đấu đến năm 2010 đa mức GDP bình quân đầu ngời của nớc ta lên gấp đôi so
với hiện nay. Để tăng gấp đôi GDP trong khoảng 10 năm đòi hỏi một nhịp tăng tr-
ởng bình quân năm khoảng 7,2% trong cả giai đoạn 2001-2010. Để đạt đợc mục
tiêu tăng trởng đã đề ra, chúng ta xác định phải huy động đợc vốn đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài khoảng 10-12 tỷ USD cho giai đoạn 2001-2005 và 14-16 tỷ USD giai
đoạn 2006-2010. Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn trong điều kiện hiện nay
khi mà dòng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có biểu
hiện giảm xuống nhất là từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nổ
ra vào cuối năm 1997.

Nhân dịp này, em cũng xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô
giáo và bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình học tập những năm vừa qua.
Chơng I
cơ sở lý luận và thực tiễn về
hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
- 2 -
II. các vấn đề cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài
1. Khái niệm và các đặc trng
Đầu t trực tiếp nớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một hình thức của
đầu t nớc ngoài. Sự ra đời và phát triển của nó là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế
hóa và phân công lao động quốc tế. Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhận khác nhau
về đầu t trực tiếp nớc ngoài. Nhìn chung đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc xem xét nh một
hoạt động kinh doanh ở đó có yếu tố di chuyển vốn quốc tế và kèm theo sự di chuyển
vốn là chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và các ảnh hởng kinh tế xã hội khác
đối với nớc nhận đầu t.
Theo Luật đầu t nớc ngoài Việt Nam, đầu t trực tiếp nớc ngoài có thể đợc hiểu
nh là việc các tổ chức, các cá nhân nớc ngoài trực tiếp đa vào Việt Nam vốn bằng
tiền hoặc bất cứ tài sản nào đợc Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác với
bên Việt Nam hoặc tự mình tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh
thổ Việt Nam.
Dới góc độ kinh tế có thể hiểu đầu t trực tiếp nớc ngoài là hình thức di chuyển
vốn quốc tế trong đó ngời sở hữu đồng thời trực tiếp tham gia điều hành và quản lý
hoạt động sử dụng vốn đầu t. Về thực chất, đầu t trực tiếp nớc ngoài là sự đầu t của
các cá nhân, tổ chức nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nớc ngoài và làm chủ toàn
bộ hay từng phần cơ sở đó.
Tiền đề của việc xuất khẩu t bản là t bản thừa xuất hiện trong các nớc tiên
tiến. Nhng thực chất vấn đề đó là một hiện tợng kinh tế mang tính tất yếu khách quan,
khi mà quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện
nhu cầu đầu t ra nớc ngoài. Đó chính là quá trình phát triển của sức sản xuất xã hội,
đến độ đã vợt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, hình thành nên quy mô

cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu t nớc ngoài chuyển giao
công trình đó cho nhà nớc Việt Nam. Nhà nớc Việt Nam cho phép nhà đầu t quyền
kinh doanh trên công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu t và
lợi nhuận hợp lý.
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà
nớc có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu t nớc ngoài để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu t nớc ngoài chuyển giao công trình đó
cho Nhà nớc Việt Nam. Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu t nớc ngoài
thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu t và thu đợc lợi nhuận hợp lý.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có một số đặc điểm chủ yếu sau :
- Chủ đầu t tự quyết định đầu t, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách
nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có
những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.
- Chủ đầu t nớc ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu t nếu là doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ
góp vốn của mình.
- 4 -
- Thông qua hình thức này, nớc chủ nhà có thể tiếp nhận đợc công nghệ, kỹ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý...là những mục tiêu mà các hình thức đầu t
khác không giải quyết đợc.
- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu t ban đầu của chủ đầu t dới hình thức
vốn pháp định, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở
rộng dự án cũng nh vốn đầu t từ nguồn lợi nhuận thu đợc.
3.3. Đánh giá bản chất và vai trò của FDI đối với các nớc đang phát triển
Bản chất của FDI là các hoạt động đầu t ra nớc ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế
so sánh trong phân công lao động quốc tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao ở phạm vi
toàn cầu. Do vậy, FDI là các hoạt động kinh tế và nó có ảnh hởng nh con dao hai lỡi
đối với nớc nhận đầu t. Nếu Chính phủ nớc chủ nhà mạnh thông qua các chính sách
thu hút FDI hợp lý thì khai thác đợc tốt mặt tích cực và hạn chế tối đa ảnh hởng xấu

Cạnh tranh : mức độ làm phá sản các doanh nghiệp địa phơng, thay thế vị trí
các cơ sở sản xuất then chốt nội địa.
Chuyển giao công nghệ : Chi phí R & D của FDI ở nớc chủ nhà, mức độ độc
quyền công nghệ và công nghệ phù hợp ở nớc sở tại.
Sản phẩm : Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm ở trong - ngoài nớc và giữa các tầng lớp dân
c trong xã hội, sản phẩm phù hợp.
Đào tạo cán bộ và công nhân : Số lợng, trình độ cán bộ và công nhân đợc đào
tạo, số lao động đợc tuyển dụng.
Mối quan hệ với các doanh nghiệp và cơ sở địa phơng : Mức độ thiết lập các
mối quan hệ với các cơ sở trong nớc, liên kết kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở
nớc chủ nhà.
Các vấn đề xã hội : Bất bình đẳng trong thu nhập, lối sống, tăng chênh lệch giàu
- nghèo trong xã hội.
Các yếu tố trên cần đợc phân tích tổng hợp cả về định tính và định lợng trong mối
tơng quan với các yếu tố khác tác động đến sự tăng trởng và phát triển của nớc nhận
đầu t. Nếu chỉ phân tích về mặt định tính thì không chỉ ra đợc mức độ ảnh hởng của
nó đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội của nớc nhận đầu t. Tuy nhiên, phân tích định
lợng là vấn đề khó đối với các nớc đang phát triển, bởi vì nguồn số liệu ít và thiếu
chính xác. Hơn nữa, tốc độ tăng trởng và phát triển không chỉ do nguyên nhân của
FDI mà còn đợc quyết định bởi nhiều yếu tố quan trọng khác. Do vậy việc xây dựng
các giả định và lựa chọn phơng pháp nghiên cứu để phân tích ảnh hởng của FDI đối
với nớc nhận đầu t đóng vai trò rất quan trọng.
4. Quá trình vận động của luồng vốn FDI tại các nớc đang phát triển Châu
á những năm gần đây
Trong những năm gần đây, đầu t trực tiếp nớc ngoài trên thế giới tăng nhanh và
có sự thay đổi lớn về cơ cấu vốn giữa các khu vực và các quốc gia. Trong phần này ta
sẽ tập trung xem xét thực trạng và xu hớng vận động của FDI ở các nớc đang phát
triển khu vực Châu á trong đó có Việt Nam.
- 6 -
Trái ngợc với nhiều dự báo, năm 1999, FDI vào Đông và Đông Nam á tăng

mới.
Luồng FDI ra từ các nớc đang phát triển tại Châu á đã tăng trở lại sau thời kỳ
suy giảm do khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực (năm 1999, tăng khoảng 64%, ớc

- 7 -
đạt 37 tỷ USD). Tuy nhiên, mức tăng này vẫn còn thấp hơn so với thời kỳ trớc khủng
hoảng. Hồng Kông vẫn là nớc đầu t ra nớc ngoài nhiều nhất, chiếm hơn 1/2 tổng giá
trị luồng FDI ra của cả khu vực. Nhật Bản một trong những nớc cung cấp FDI lớn
nhất thế giới đang có những chuyển hớng cơ bản khu vực đầu t. Trong những năm
gần đây, đầu t của Nhật Bản có xu hớng dịch chuyển từ thị trờng Bắc Mỹ, Tây Âu,
vốn là những thị trờng truyền thống của họ, sang khu vực Châu á, mà trọng tâm là
các nớc Đông Nam á để tận dụng lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên thiên nhiên,
thị trờng là những lợi thế tiềm năng của các nớc này nhằm góp phần khắc phục
tình trạng suy thoái kinh tế của mình, hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ và các ngành công nghiệp truyền thống sử dụng nhiều lao động, tài
nguyên. Các nớc ASEAN, vốn trớc đây chỉ là những nớc tiếp nhận FDI của các nớc
khác thì nay đã bắt đầu đầu t ra nớc ngoài, mà thị trờng chủ yếu là Trung Quốc, Việt
Nam và những nớc trong khu vực.
Các TNCs Châu á tiếp tục thu hẹp hoạt động kinh doanh trong năm 1999. Có
những trờng hợp chính các TNCs Châu á tự bán các cơ sở kinh doanh của mình tại
nớc ngoài, cũng có trờng hợp các TNCs này bị các TNCs nớc ngoài thôn tính. Do
khủng hoảng, nhiều TNCs Châu á không tận dụng đợc lợi thế về giá trị tài sản rẻ,
ngoại trừ một số TNCs tại Hồng Kông, Singapore và Đài Loan đang nỗ lực duy trì
khả năng tài chính của mình để có thể tiến hành các hoạt động sáp nhập và thôn tính,
chủ yếu là ở các nớc láng giềng. Các nớc công nghiệp mới ở Châu á đang vơn lên
thành lực lợng những nớc đầu t mới, thật sự trở thành những đối thủ cạnh tranh với
Nhật, Mỹ và Tây Âu tại khu vực này.
Luồng đầu t vào Châu á đang trên đà phục hồi, có lẽ trong khoảng 2-3 năm nữa
sẽ đạt mức của năm 1997. Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Châu á tuy đã tạm
thời cản trở luồng đầu t vào khu vực và liên khu vực, tuy nhiên tự do hóa đầu t đã trở

2000, Nhà nớc ta đã cấp giấy phép cho 3254 dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài với tổng
số vốn đăng ký là 38.553 triệu USD. Tính trung bình mỗi năm chúng ta cấp phép cho
250 dự án với mức 2965,62 triệu USD vốn đăng ký. Cũng trong thời gian này, đã có
1067 dự án mở rộng quy mô vốn đầu t với lợng vốn bổ sung thêm là 6034 triệu USD.
Nh vậy tổng số vốn cấp mới và bổ sung đến thời điểm hết năm 2000 đạt khoảng
44.587 triệu USD.

- 9 -
Trong số các dự án đã nêu trên, đã có 30 dự án hết hạn hoạt động với số vốn hết
hạn là 291 triệu USD. Bên cạnh đó, đã có một số lợng đáng kể dự án bị giải thể, rút
giấy phép đầu t (645 dự án), lợng vốn giải thể là 7952 triệu USD, chiếm gần 21%
tổng lợng vốn đăng ký. Nh vậy, tính đến ngày 15/03/2001, tổng số dự án còn hiệu lực
là 2701 với tổng vốn đăng ký (kể cả phần vốn bổ sung) là 36.329,775 triệu USD.
Nhịp độ thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của ta có xu hớng tăng nhanh từ 1988
đến 1995 cả về số dự án cũng nh vốn đăng ký. Riêng năm 1996 sở dĩ có lợng vốn
đăng ký tăng vọt là do có 2 dự án đầu t vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh đợc phê duyệt với quy mô dự án lớn (hơn 3 tỷ USD/ dự án). Nh vậy nếu
xét trong cả thời kỳ 1988-2000 thì năm 1995 có thể đợc xem là năm đỉnh cao về thu
hút đầu t trực tiếp nớc ngoài của Việt Nam (cả về số dự án, vốn đăng ký cũng nh quy
mô dự án). Từ năm 1997 đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam có biểu hiện suy
giảm, nhất là đến các năm 1998, 1999 thì xu hớng giảm đó càng rõ rệt hơn. So với
năm 1997, số dự án đợc duyệt của năm 1998 chỉ bằng 79,71%, năm 1999 chỉ bằng
80,58%. Số liệu tơng ứng của vốn đăng ký là 83,83% và 33,01%. Trong các năm này,
số dự án giải thể và số lợng vốn giải thể tăng mạnh. Lợng vốn giải thể năm 1998 là
2428 triệu USD, gấp 4,5 lần so với năm 1997. Đến năm 2000, sự giảm sút có chiều h-
ớng dừng lại và bắt đầu có sự phục hồi. Số dự án và lợng vốn đầu t của năm 2000 đã
tăng lên so với năm 1999, tuy nhiên vẫn còn khá nhỏ so với cả những năm 1997 và
1998.
Nếu nhìn lại một cách thuần tuý trên cơ sở các con số thì có thể nói chúng ta đã
ngăn chặn đợc đà giảm sút đầu t. Song nếu nhìn nhận một cách tổng quát và khách

Tổng
88-2000
3254 1067 645 30 38553 6034 7952 291
3 năm
88-90
214 1 6 2 1582 0.3 26 0.3 1556
1991 151 9 37 2 1275 9 240 1 2598
1992 197 13 48 3 2027 50 402 13.9 4260
1993 274 60 34 4 2589 240 79 38 6971
1994 367 84 60 1 3746 516 292 0.1 10941
1995 408 151 58 3 6607 1318 509 45.5 18311
5 năm
91-95
1397 262 237 12 16244 2132 1522 98.6
1996 365 162 54 4 8640 788 1141 146.1 26453
1997 348 164 85 6 4649 1173 544 24.4 31706
1998 275 162 101 2 3897 884 2428 19.1 34040
1999 311 163 85 2 1568 629 624 1.1 35613
2000 344 153 77 2 1973 427 1666 1.9 36344
5 năm
96-2000
1643 804 402 16 20727 3902 6403 193
Vốn còn hiệu lực = vốn cấp mới + tăng vốn - vốn hết hạn - vốn giải thể
Nguồn : Vụ Quản lý dự án - Bộ KH-ĐT
Trong bối cảnh đầu t quốc tế vào các nớc ASEAN suy giảm và môi trờng đầu t ở
nớc ta vẫn còn những hạn chế nhất định, sự phục hồi bớc đầu của đầu t nớc ngoài qua
các số liệu nêu trên là các dấu hiệu rất đáng khích lệ và là một phần hệ quả từ các tác
động tích cực của các giải pháp thu hút đầu t mà Chính phủ đã thực thi trong những
năm gần đây. Tuy nhiên chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để tạo ra sự phục hồi thực sự
vững chắc trong lĩnh vực này.

vào muộn hơn nhng tốc độ tăng nhanh với quy mô rộng lớn trên nhiều lĩnh vực. Điều
đó chứng tỏ môi trờng đầu t của Việt Nam hiện đang thu hút đợc sự quan tâm của
các nhà đầu t Châu á. Và trình độ, điều kiện, khả năng của các nhà đầu t Châu á
cũng phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển của Việt Nam trong thời gian qua.
Đồng thời đây cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế nớc ta phải chịu ảnh hởng
khá mạnh của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực Châu á.
Trong khi đó, nguồn vốn đầu t từ các nớc công nghiệp phát triển khác nh Đức,
Mỹ, Anh...còn chiếm tỷ trọng tơng đối thấp, chứng tỏ môi trờng đầu t ở Việt Nam cha
gây đợc sự chú ý nhiều của các nhà đầu t phơng Tây và Mỹ.
Bảng 2: 12 đối tác nớc ngoài đầu t lớn nhất vào Việt Nam
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Đơn vị : triệu USD
STT
Nớc
Vùng lãnh thổ
Số dự án
Tổng vốn
đầu t
Vốn pháp
định
Đầu t
thực hiện
1 Singapore 236 6619,871 2036,066 2048,154
2 Đài Loan 662 4990,669 2120,096 2411,855
3 Nhật Bản 304 3884,892 1927,881 2623,879
4 Hàn Quốc 277 3181,738 1226,648 1911,570
5 Hồng Kông 208 2844,499 1231,076 1431,662
- 12 -
6 Pháp 107 1818,607 1219,716 587,320
7 Virgin Islands 107 1786,941 695,456 858,341

chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Riêng vùng Đông Nam Bộ đã chiếm tới 53,13% tổng lợng vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài của cả nớc, trong khi vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chiếm
cha đầy 1%. Sự phân bổ FDI cũng chênh lệch rất nhiều giữa khu vực thành thị và
nông thôn. Trên 80% tổng số vốn đầu t tập trung ở khu vực thành thị, chỉ còn cha tới

- 13 -
20% cho khu vực nông thôn, trong khi 80% dân số Việt Nam sinh sống ở nông thôn,
làm cho khoảng cách thu nhập giữa hai khu vực ngày càng lớn.
Vốn đầu t vào các vùng (1988-1999) đợc xếp thứ tự nh sau:
Bảng 3: Cơ cấu đầu t theo vùng (%)
1. Đông Nam Bộ 53,13 5. Đồng bằng sông Cửu Long 2,46
2. Đồng Bằng sông Hồng 29,6 6. Bắc Trung Bộ 2,38
3. Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64 7. Tây Nguyên 0,16
4. Đông Bắc 4,46 8. Tây Bắc 0,15
Nguồn : Những vấn đề kinh tế thế giới, Số 2 (64) 2000.
Cũng trong thời kỳ này, nếu nh hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
đã chiếm tới hơn nửa (50,3%) tổng số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài của cả nớc thì 10
địa phơng có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%. TP Hồ Chí Minh chiếm
26,6% tổng vốn đăng ký của cả nớc. Số liệu tơng ứng của các địa phơng tiếp theo nh
sau : Hà Nội: 21,15%; Đồng Nai: 12,5%; Bình Dơng: 6,4%. Đến nay, phần lớn các
tỉnh, thành phố đều đã có hoạt động hợp tác đầu t với nớc ngoài. Tuy nhiên, trừ hoạt
động thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, vốn đầu t tập trung nhiều vào 3
vùng kinh tế trọng điểm là những nơi có nhiều thuận lợi. Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, với u thế vợt trội về cơ sở hạ tầng, sự thuận lợi về giao thông thủy, bộ,
hàng không và năng động trong kinh doanh là vùng thu hút đợc nhiều vốn FDI nhất,
1.378 dự án, chiếm 57% tổng số dự án của cả nớc, vốn đầu t đăng ký đạt 17,3 tỷ
USD, chiếm đến 48% tổng vốn đăng ký cả nớc. Đây cũng là vùng kinh tế sôi động
nhất của cả nớc, chiếm đến 66% giá trị doanh thu và 84% giá trị xuất khẩu của khu
vực FDI năm 1999. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đứng đầu là thủ đô Hà Nội,
trung tâm chính trị và kinh tế của cả nớc là vùng thu hút FDI thứ hai, với 493 dự án

Các số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút vốn đầu t nớc ngoài
theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong
nớc đạt kết quả cha cao. Cơ cấu FDI theo vùng còn nhiều bất hợp lý. Nh vậy, đây
cũng là một trong những vấn đề rất cần đợc chú ý để điều chỉnh hoạt động của chúng
ta trong thời gian tới đối với lĩnh vực này.
1.4. Cơ cấu đầu t theo ngành kinh tế
Những năm đầu 1988-1990, vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài phần lớn tập trung vào
lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí (32,2%) và khách sạn, du lịch, căn hộ cho thuê
(20,6%). Nhng từ năm 1994 trở lại đây, đầu t vào khu vực sản xuất vật chất của nền
kinh tế ngày càng gia tăng (nhất là lĩnh vực công nghiệp). Hiện nay, các dự án đầu t
vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lợng dự án lẫn vốn đầu t,
tiếp đến là các lĩnh vực khách sạn, du lịch và dịch vụ. Các ngành nông, lâm nghiệp
có số dự án khá lớn nhng vốn thấp, chỉ chiếm 5,79% tổng vốn đầu t, chứng tỏ quy
mô dự án ở lĩnh vực này tơng đối nhỏ. Quy mô dự án đầu t vào ngành thủy sản là nhỏ
nhất, khoảng 3 triệu USD. Ngành dịch vụ có quy mô đầu t lớn nhất, khoảng 25 triệu
USD/dự án, nếu không tính 2 dự án xây dựng khu đô thị mới tại Hà Nội thì quy mô
bình quân 1 dự án là 21,7 triệu USD.
Tính đến ngày 15/03/2001, khu vực công nghiệp có 1715 dự án đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu t 19430,413 triệu USD, chiếm 53,5% tổng
vốn FDI của cả nớc; tiếp theo là ngành dịch vụ với 638 dự án và lợng vốn đầu t
14796,008 triệu USD, chiếm 40,73%; khu vực nông lâm nghiệp có 348 dự án với số
vốn đầu t 2103,353 triệu USD, chiếm 5,77% tổng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài của
cả nớc. Vốn đầu t vào công nghiệp chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp
nặng, sau đó dến công nghiệp nhẹ, xây dựng, công nghiệp dầu khí và công nghiệp

- 15 -
thực phẩm . Ngành dịch vụ các dự án tập trung vào xây dựng văn phòng, căn hộ, xây
dựng khu đô thị mới; khách sạn du lịch, giao thông vận tải và bu điện.
Bảng 5: Đầu t trực tiếp nớc ngoài theo ngành
(Tính đến 15/03/2001 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

GTVT- Bu điện
93 2571,986 2027,826 849,204
Khách sạn-Du lịch
123 3497,052 1126,845 1853,834
Tài chính-Ngân hàng
49 552,250 521,650 494,535
Văn hóa-Y tế- GD
92 566,045 243,832 144,568
XD Khu đô thị mới
3 2466,674 675,183 0,394
XD Văn phòng-Căn hộ
116 3781,909 1351,182 1640,271
XD hạ tầng KCX-KCN
13 807,221 274,961 460,988
Dịch vụ
149 552,870 325,729 151,285
Tổng số 2701 36329,775 16364,827 17842,325
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Thực trạng cơ cấu vốn đầu t vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế đang đặt ra
những vấn đề cần suy nghĩ. Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp
vốn đã ít lại đang có xu hớng chững lại và giảm dần vì đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi
ro, thời gian thu hồi vốn dài, trình độ quản lý dự án còn nhiều hạn chế. Đến cuối
1999, trong lĩnh vực này đã có tới 74 dự án đầu t nớc ngoài bị giải thể trớc thời hạn
với số vốn 287 triệu USD. Trong đó 35 dự án thuộc lĩnh vực trồng trọt và chế biến
nông sản, 39 dự án chế biến gỗ và lâm sản.
- 16 -
Vốn đầu t nớc ngoài vào các ngành nh trên đã biểu hiện phù hợp các chỉ số của
cơ cấu kinh tế hiện đại, công nghiệp hóa: Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp. Tuy
vậy, trong điều kiện ở giai đoạn đầu tiến hành CNH-HĐH và với đặc trng của nền
kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt

100%
Nguồn : Vụ Quản lý dự án ĐTNN - Bộ KH-ĐT
Sở dĩ hình thức liên doanh chiếm tỷ lệ lớn là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển
khai dự án còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc và rất
phức tạp, ngời nớc ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế-xã hội và pháp luật
của Việt Nam, họ thờng gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc với khá
nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có đợc đầy đủ các điều kiện triển khai xây
dựng cơ bản cũng nh tổ chức thực hiện dự án đầu t. Trong hoàn cảnh nh vậy, đa số

- 17 -
các nhà đầu t thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên Việt Nam đứng ra lo các thủ
tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Sau một thời gian hoạt động trong môi trờng đầu t ở Việt Nam, các nhà đầu t n-
ớc ngoài, đặc biệt là các nhà đầu t Châu á có điều kiện hiểu biết hơn về pháp luật,
chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Vì
vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi
tham gia liên doanh, khả năng của phía Việt Nam thờng yếu cả về vốn đóng góp lẫn
cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu t nớc ngoài không muốn chia sẻ quyền điều
hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có đối tác
Việt Nam trong hoạt động đầu t. Do đó, số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt
Nam dới hình thức 100% vốn nớc ngoài ngày càng có xu hớng tăng lên cả tuyệt đối
lẫn tơng đối. Các dự án 100% vốn nớc ngoài tập trung chủ yếu trong các khu công
nghiệp và khu chế xuất vì đảm bảo các điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tránh đợc
nhiều thủ tục hành chính phức tạp.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh đến nay chỉ chiếm 4,74% số dự án và
10,36% tổng vốn đầu t, chủ yếu trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, các dịch
vụ viễn thông. Hợp đồng BOT là hình thức chúng ta đa vào áp dụng từ năm 1993 với
mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu t phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù Nhà n-
ớc đã có nhiều u đãi nh không thu tiền thuê đất, hởng các mức thuế thấp nhất, đợc
chuyển đổi ngoại tệ... nhng số dự án thuộc hình thức này vẫn còn rất ít. Đến nay mới

đồng, tranh chấp; sự thay đổi chính sách sử dụng nguyên vật liệu...
Nh vậy, tính đến ngày 15/03/2001, trên lãnh thổ Việt Nam còn 2701dự án đầu t
trực tiếp nớc ngoài đang hoạt động với tổng vốn đăng ký (kể cả phần vốn bổ sung)
của các dự án còn hiệu lực là 36.329,775 triệu USD.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2000, số vốn đã thực hiện của các dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài bằng 44,82% của tổng số vốn đăng ký (bao gồm cả vốn bổ sung),
trong đó 88,34% vốn thực hiện là của phía đối tác nớc ngoài, 11,66% là vốn của
doanh nghiệp Việt Nam. Tỷ lệ vốn thực hiện trên tổng vốn đăng ký của các dự án
100% vốn nớc ngoài và dự án Hợp đồng hợp tác kinh doanh cao hơn nhiều so với
hình thức liên doanh.
Các dự án trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí đạt tỷ lệ thực hiện cao
hơn vốn cam kết 4%, do trong ngành dầu khí, cam kết trên giấy phép chỉ là vốn tối
thiểu. Ngành tài chính ngân hàng, do tính đặc thù phải nộp ngay vốn pháp định mới
đợc phép triển khai hoạt động nên tỷ lệ giải ngân cao (93%). Nhìn chung, các dự án
đầu t vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng có tỷ lệ giải ngân cao nhất, trên 50%. Các
dự án nông nghiệp đạt tỷ lệ giải ngân 43%, trong khi các dự án thuỷ sản chỉ giải ngân
đợc 36%.

- 19 -
Dới đây là số liệu về tình hình thực hiện dự án qua các thời kỳ:
Bảng 7: Tình hình thực hiện dự án qua các năm
(Tính đến 31 tháng 12 năm 2000)
Đơn vị : triệu USD
Chỉ tiêu Vốn thực hiện
Trong đó chia ra
Vốn từ nớc ngoài Vốn DN V.Nam
Tổng 88-2000
19984 17654 2330
1991 428 375 53
1992 575 492 83

tính toán cha thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án đã gặp phải một số vấn đề
phát sinh vợt cả khả năng tài chính cũng nh các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp
vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu t nớc ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài
chính nên mặc dù đã đợc cấp giấy phép đầu t, nhng không huy động đợc vốn đúng
nh dự kiến buộc họ phải triển khai thực hiện dự án chậm, có khi mất khả năng thực
hiện.
2.2. Đầu t trực tiếp nớc ngoài ở một số lĩnh vực kinh tế tiêu biểu
a. Lĩnh vực dầu khí : So với các ngành kinh tế Việt Nam thì đây là một trong rất ít
ngành thu hút đợc các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới tham gia đầu t. Đến nay,
ngoài xí nghiệp liên doanh dầu khí VietsoPetro đã sản xuất đợc hơn 60 triệu tấn dầu
thô và hiện đang tiếp tục kinh doanh có hiệu quả, chúng ta đã cấp 33 giấy phép hoạt
động cho các tập đoàn dầu khí lớn thuộc Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu úc và Châu á vào
thăm dò, khai thác tại thềm lục địa Việt Nam theo hình thức hợp đồng phân chia sản
phẩm. Các mỏ Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, mỏ khí Lan Đỏ - Lan Tây và mỏ
dầu trên vùng chồng lấn với Malaixia đều đang đợc khai thác. Sự quan tâm của các
tập đoàn lớn trên thế giới chứng tỏ tính hấp dẫn và tiềm năng dầu khí của nớc ta.
Vào cuối năm 1998, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu t cho liên doanh xây dựng
nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Dung Quất (Quảng Ngãi) với số vốn đầu t 1,3 tỷ USD.
Các nhà đầu t nớc ngoài (không kể Vietsopetro) đã đầu t trên 2,6 tỷ USD vào khâu
thăm dò, giúp Việt Nam dần dần có đủ cơ sở dữ liệu về trữ lợng dầu khí để xác định
chiến lợc phát triển.
Công nghiệp dầu khí đã góp phần ngày càng lớn vào tăng trởng GDP và thu
ngân sách Nhà nớc.
b. Lĩnh vực công nghiệp điện tử : là lĩnh vực mà các nhà đầu t nớc ngoài có mặt t-
ơng đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện
đúng với cam kết đợc ghi trong giấy phép đầu t và đây là lĩnh vực sớm phát huy hiệu
quả. Đến nay, đã có 22 dự án đầu t với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD, trong đó
có hơn 60% vốn đã thực hiện (379 triệu USD). Một trong những yếu tố hơn hẳn so
với nhiều lĩnh vực khác là các nhà đầu t vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các hãng
điện tử mạnh trên thế giới nh: SONY, JVC, TOSHIBA, PHILIP, LG, FUJITSU,

e. Lĩnh vực công nghiệp hóa chất : Đến nay lĩnh vực này đã thu hút 89 dự án với
tổng vốn đăng ký 1117 triệu USD (36 dự án 100% vốn nớc ngoài, 48 dự án liên
doanh, 5 dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh), trong đó tổng số vốn đã thực hiện là
397,6 triệu USD (35,6% vốn đăng ký). Đầu t nớc ngoài trong công nghiệp hóa chất
đã tạo ra nhiều sản phẩm có chất lợng cao, bao gồm một số hóa chất cơ bản, mỹ
phẩm, chất tẩy rửa, dầu nhờn... thay thế một phần hàng nhập khẩu, thỏa mãn yêu cầu
ngày càng cao hơn của ngời tiêu dùng.
- 22 -
g. Hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch : Đây là lĩnh vực mà ngay từ đầu đã
có biểu hiện còn nhiều tiềm năng cha đợc khai thác nên nhiều doanh nghiệp trong và
ngoài nớc đã đầu t vào. Đến nay có 237 dự án với 7585 triệu USD vốn đăng ký đầu t
xây dựng khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, phát triển đô thị, trong số đó đã có
33,66% vốn đợc thực hiện. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực đã xuất hiện tình trạng
cung vợt quá cầu ở một số thành phố nh TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải
Phòng.
h. Lĩnh vực dệt may, giầy dép : Đến nay chúng ta đã phê duyệt 250 dự án với tổng
số 2396 triệu USD vốn đăng ký (dệt: 87 dự án với 1649 triệu USD vốn đăng ký; may:
118 dự án với 281 triệu USD vốn đăng ký; giầy dép: 45 dự án với 466 triệu USD vốn
đăng ký). Tổng vốn đã thực hiện là 1079 triệu USD, đạt 45% vốn đăng ký, là một tỷ
lệ khá cao. Đầu t nớc ngoài trong các ngành này đã tạo ra việc làm cho hàng vạn ngời
lao động, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, là một trong những ngành công
nghiệp có kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 1 tỷ USD.
2.3. Tình hình khai thác công suất các dự án.
Cho đến nay đã có rất nhiều dự án hoàn thành xây dựng cơ bản và đi vào vận
hành sản xuất kinh doanh một cách ổn định. Nhiều dự án hoạt động có hiệu quả và
đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế nớc ta.
Tuy nhiên đa phần các dự án FDI năng lực hoạt động còn thấp so với công suất
cho phép. Số liệu trong bảng dới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn thực trạng này:
Bảng 8: Tình hình khai thác công suất một số
ngành hàng của các dự án FDI (tính đến hết năm 1997)

nghiệp trong nớc.
Do đó, bên cạnh việc tăng cờng thu hút đầu t nớc ngoài, chúng ta cần xem xét
một cách kỹ càng trớc khi cấp phép cho các dự án đầu t vào các ngành còn đang d
thừa công suất. Đồng thời các doanh nghiệp cần tích cực tìm kiếm thị trờng mới,
nâng cao khả năng xuất khẩu của các mặt hàng để khai thác một cách triệt để và có
hiệu quả năng lực của các dự án.
II. Đánh giá tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài tới
tăng trởng và phát triển kinh tế
Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã đóng góp một phần tích cực vào công cuộc đổi mới
kinh tế của Việt Nam hơn 10 năm qua. Có thể nói đầu t trực tiếp nớc ngoài nh một
trong các nguồn năng lợng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi
vào quỹ đạo của sự tăng trởng. Nó đã góp phần đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật trong sản xuất, đóng góp quan trọng vào việc đổi mới, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hớng CNH-HĐH. Mỗi chính sách kinh tế, mỗi biến động tài chính-tiền
tệ, mỗi chiến lợc phát triển và mỗi thành tựu của đất nớc đều có bóng dáng của đầu
t trực tiếp nớc ngoài (ĐTTTNN). Ngày nay, ĐTTTNN đã trở thành một bộ phận của
nền kinh tế quốc dân. Trong phần này, ta sẽ đi vào xem xét tác động của hoạt động
đầu t trực tiếp nớc ngoài tới sự tăng trởng và phát triển của nền kinh tế nớc ta.
- 24 -
1. hoạt động ĐTTTNN góp phần quan trọng bổ sung nguồn vốn đầu t phát
triển và gia tăng tỷ lệ tích lũy của nền kinh tế
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn vốn quan trọng và là một điều kiện tiên
quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc. Nó góp
phần quan trọng bổ sung nguồn vốn đầu t phát triển, khắc phục tình trạng thiếu vốn
của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ đổi mới.
Từ khi thực hiện chính sách đầu t trực tiếp nớc ngoài đến nay, vốn đầu t nớc
ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1.111,75 triệu USD / năm. Vốn đầu t xây
dựng cơ bản của các dự án đầu t nớc ngoài bình quân thời kỳ năm 1991-1999 là
16.291 tỷ đồng/ năm. Đối với một nền kinh tế có quy mô nh của nớc ta thì đây thực
sự là lợng vốn đầu t không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status