Lời mở đầu
Việt Nam chúng ta hiện nay là một nớc đang phát triển, nền kinh tế mới đợc
chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng nên vẫn
còn gặp nhiều kho khăn, mặt khác nền kinh tế nớc ta vẫn còn rất nghèo nàn và lạc
hậu. Do đó mà nhà nớc ta đã đề ra phơng hớng phát triển kinh tế đất nớc là thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, nhanh chóng đa đất nớc hội nhập vào
nền kinh tế thế giới.
Nh chúng ta đã biết, tăng trởng kinh tế là một nhân tố quan trọng quyết
định tới sự phát triển hay tụt hậu của một nền kinh tế ,từ đó nó quyết định mức
sống của ngời dân một nớc. Một đất nớc có tốc độ tăng trởng cao (GDP cao ) tức
là năng suất lao động của ngời dân nớc đó cao ,do đó mà mức sống của họ cũng
cao hơn .Hàng hoá và dich vụ đợc cung cấp không những đáp ứng đợc đủ nhu cầu
trong nơc mà còn đem xuất khẩu và ngợc lại . Có rất nhiều nhân tố ảnh hởng tới
tăng trởng của một quốc gia nh vốn, tài nguyên thiên nhiên, trình độ lao động, tri
thức công nghệ, trong đó vốn đóng một vai trò hết sức quan trọngđặc biệt là đói
với những nớc đang phát triển nh nớc ta hiện nay. Vốn có thể đợc huy động từ
những nguồn vốn trong nớc nhng cũng có thể huy động vốn cho nền kinh tế bằng
cách thu hút đầu t nớc ngoài.
Trong tình hình đó thì Việt Nam ta hiện nay chỉ là một nớc có tốc độ tăng
trởng và phát triển ở mức trung bình. Mặc dù có rất nhiều điều kiện thuận lợi nh:
tài nguyên thiên nhiên phong phú, lc lợng nhân công dồi dào... Ngoài ra nớc ta còn
là một nớc có tình hình chính trị và trật tự an ninh ổn định nhất trong khu vực ,
kinh tế tơng đối phát triển. Chính phủ ta đang thực hiện nâng cấp, xây mới và phát
triển các cơ sở hạ tầng. Đây chính là môi trờng thuận lợi để thu hút đợc nhiều các
dự án đầu t . Nhng bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và
hạn chế, đó là :nguồn vốn vẫn còn hạn hẹp, công tác đào tạo cán bộ vẫn cha thực
sự chất nên trình độ nhân lực không cao, về mặt kĩ thuật thì còn rất lạc hậu, tri
thức công nghệ còn thấp nên cha áp dụng đợc khoa học công nghệ vào sản xuất,
1
do đó mà năng suất lao động còn thấp vẫn cha đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong
nớc, vẫn còn phải nhập khẩu một số mặt hàng thiết yếu .
Từ khi ban hành luật đầu t nớc ngoài vào Việt Nam cho đến nay, vốn đầu t
nớc ngoài thực hiện tại Việt Nam tăng , xây dựng cơ bản của các dự án đầu t nớc
ngoài cũng tăng . Đối với một nền kinh tế có quy mô nh nớc ta thì đây là lợng vốn
đầu t không nhỏ , nó có vai trò nh chất xúc tác - điều kiện để việc đầu t của ta
đạt hiệu quả.Vốn đầu t xây dựng cơ bản từ các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài cao
hơn hẳn số vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc cùng thời kì,vốn ngân sách nhà nớc
dành cho xây dựng cơ bản chỉ bằng 82,4% vốn từ các dự án đầu t trực tiếp nớc
ngoài dành cho lĩnh vực này.
Vốn đầu t nớc ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát
triển một nền kinh tế bền vững, cân đối theo yêu cầu của công cuộc CNH,HĐH.
Hoạt động đầu t nớc ngoài đã đóng góp một phần quan trọng vào tổng
GDP ,tạo nguồn thu ngân sách lớn cho đất nớc. Tuy phần lớn doanh nghiệp đầu t
nớc ngoài đang trong thời kì hởng u đãi về thuế nhng nguồn thu ngân sách từ khu
vực này liên tục gia tăng (1996:263 triệu USD ,1997:340 triệu 1998:370 triệu )
chiếm khoảng 6-7% tổng thu thuế và phí của ngân sách nhà nớc (nếu tính cả
nguồn thu từ dầu khí thì tỉ lệ này đạt 20%).
3
Về định tính, sự hoạt động của đồng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài nh là một
trong những động lực gây phản ứng dây chuyền làm thúc đẩy sự hoạt động của
đồng vốn trong nớc và một chuyên gia kinh tế đã tính toán đợc rằng cứ một đồng
vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt động sẽ làm cho bốn đồng vốn trong nớc hoạt
động theo.
1.2/ Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần tạo ra năng lực sản
xuất mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, phơng thức sản
xuất kinh doanh mới, làm cho nền kinh tế nớc ta từng bớc chuyển biến theo nền
kinh tế thị trờng hiện đại, góp phần chuyển dịnh cơ cấu kinh tế theo hớng CNH:
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn có chỉ số phát triển cao hơn
chỉ số phát triển của các thành phần kinh tế khác và cao hơn hẳn chỉ số phát triển
chung của cả nớc. Còn tỉ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài trong
tổng sản phẩm trong nớc cũng có xu hớng tăng lên tơng đối ổn định (1997=
chăn nuôi, mía đờng, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi...
Một vấn đề nữa rất quan trọng là nếu nh trớc đây, các doanh nghiệp Việt
Nam chỉ biết kinh doanh thụ động theo sự chỉ định kế hoạch của cấp trên, không
cần đầu t, cải tiến, không cần tìm hiểu thị trờng, quảng cáo, tiếp thị, sản phẩm sản
xuất ra không bị cạnh tranh... thì sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bản phơng
thức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hớng tích cực và
ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị trờng.
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã đơng nhiên
đặt các doanh nghiệp Việt Nam trong hoàn cảnh bắt buộc tham gia vào cuộc cạnh
tranh về mọi mặt để xác định khả năng tồn tại hay phá sản. Để có thể tồn tại đợc,
các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn con đờng là phải thay đổi một cách căn bản về
5
công nghệ, phơng thức sản xuất kinh doanh, trình độ của ngời lao động...Theo
phản ứng dây chuyền nh trên, một mặt tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam có
điều kiện tiếp cận và bắt nhịp đợc vào quỹ đạo của sự phát triển. Đầu t nớc ngoài
thực sự đã trở thành lực lợng có điều kiện để giải những bài toán khó mà các nhà
đầu t trong nớc thờng gặp và khó giải quyết. Khi đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt
động, phát huy hiệu quả những sẽ tạo ra môi trờng thuận lợi, cùng các yếu tố hấp
dẫn thu hút các nhà đầu t trong nớc bỏ vốn đầu t sản xuất kinh doanh, mà còn cho
du nhập vào Việt Nam những phơng thức kinh doanh mới trong việc tiếp thị mua
bán hàng hoá, dịch vụ, du lịch, tạo ra sự cạnh tranh trên thị trờng cũng nh hình
thành nên một số loại thị trờng mới nh thị trờng lao động, thị trờng bất động sản,
thị trờng vốn, thị trờng dịch vụ, thị trờng nguyên vật liệu...
1.3/ Hoạt động của các dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tạo ra một số
lợng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần
hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho ngời lao động Việt Nam.
Con số ngời lao động Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài tăng mạnh. Số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt
động của các dự án đầu t nớc ngoài bằng khoảng 39% tổng lao động bình quân
nhất.
Các nhà đầu t nớc ngoài thông qua thực hiệ dự án đầu t đã trở thành cầu
nối, là điều kiệ tốt nhất để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác
đợc với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, cũng nh những trung tâm kinh tế kĩ
thuật, công nghệ mạnh của thế giới.
Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là hoạt động của đầu t trực
tiếp nớc ngoài đã giúp Việt Nam mở rộng hơn thị phần ở nớc ngoài. Đối với những
hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, vô hình chung
đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu t nớc ngoài tại Việt Nam thành
bạn hàng của Việt Nam, nhờ có những lợi thế trong hoạt động thị trờng thế giới
7
nên tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
cao hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc và cao hơn hẳn kim ngạch
xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nớc.
Về chủng loại hàng hoá xuất khẩu, nếu không kể đầu thô, u điểm hơn hẳn
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài so với hàng hoá xuất khẩu của doanh
nghiệp trong nớc là ở chỗ chúng chủ yếu là hàng công nghiệp chế biến và chế tạo,
trong đó có nhiều sản phẩm thuộc công nghệ cao nh bảng mạch in điện tử, máy
thu hình, video, ngời máy...
Tóm lại, hoạt động của đầu t trực tiếp nớc ngoài vừa qua đã góp phần làm
chuyển biến nền kinh tế Việt Nam theo hớng của một nền kinh tế CNH. Đối với
Việt Nam, vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đóng vai trò nh lực khởi động, nh một
trong những điều kiện đảm bảo cho sự thành công của công cuộc CNH, HĐH.
Một số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần làm vực đạy một số doanh
nghiệp Việt Nam đang trong điều kiện khó khăn, sản xuất đình đốn , có nguy cơ
phá sản. Không những thế nó còn góp phần hình thành nhiều ngành nghề sản xuất
mới, cũng nh nhiều sản phẩm mới. Vì khả năng thu hồi vốn và có lãi phụ thuộc
hoàn toàn vào kết quả sản xuất kinh doanh nên các nhà đầu t nớc ngoài thờng tính
toán cân nhắc kĩ lỡng khi đa vào Việt Nam những thiết bị, kĩ thuật, công nghệ tiên
tiến hiện đại hoặc ở mức thấp nhất cũng còn có khả năng phát huy đợc hiệu quả
(triệu USD)
Vốn pháp định
( triệu USD)
1988 37 371,8 288,4
1989 68 582,5 311,5
1990 108 839 407,5
1991 151 1322,3 663,6
1992 197 2165 1418
1993 269 2900 1468
1994 343 3765,6 1729
1995 370 6530,8 2986,6
1996 326 8640,3 2940,8
Ngồn: niên giám thống kê, tổng cục thống kê.
b/ Giai đoạn từ năm 1996 đến nay:
Kể từ năm 1997 đến nay đặc biệt từ khi cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ
khu vực vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam liên tục giảm mạnh do Việt
Nam còn phải đơng đầu với nhiều vấn đề khó khăn và thực tế số dự án và vốn đầu
t giải thể trong giai đoạn 1996-2000 tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trớc. Từ
năm 1997 đến năm 2000 vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài giảm trung bình khoảng
24%/năm. Đầu t nớc ngoài trực tiếp đã giảm đáng kể từ mức vốn đầu t đăng ký
khoảng 8,6 tỷ USD năm 1996 xuống còn 1,6 tỷ USD năm 2002 . Ngoài ra trong
giai đoạn này còn có một xu hớng khác rất đáng lo ngại đó là số dự án và vốn đầu
t giải thể tăng cao hơn nhiều so với giai đoạn trớc. Tổng số vốn đầu t giải thể trong
giai đoạn 1997-2000 khoảng 5,26 tỷ USD so với 2,69 tỷ USD của 8 năm trớc đó
cộng lại.
10
Ta có bảng dữ liệu về nguồn vốn đầu t nớc ngoài vào Việt Nam trong những
năm 1997-2002: Đơn vị: triệu USD
Năm Tổng vốn
đăng kí
Virgin-Anh
195 2177,5 984,3
Hà Lan 56 1200,1 682,1
Liên bang Nga 79 1635,6 1101,6
Hoa Kỳ 199 1644,7 719,2
Malaixia 149 1360 642,1
Thái Lan 171 2119,9 561,6
Australia 126 1310,2 606,9
Đài Loan 952 5617,2 2457,6
Tổng 3261 3748,2 16770,4
Nguồn: bộ kế hoạch và đầu t.
Đầu t nớc ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành nh công nghiệp, xây dựng,
khách sạn du lịch, văn phòng nhà cho thuê, phát triển cơ sở hạ tầng. Tính đên hết
năm 2002, tổng số vốn đầu t nớc ngoài đạt khoảng 20 tỷ USD, trong đó ngành
công nghiệp đạt gần 10,5 tỷ USD (chiếm khoảng 50% tổng vốn thực hiện), ngành
xây dựng đạt 1,78 tỉ UDS ( chiếm khoảng 8,9% ), công nghiệp dầu khí đạt gần 3,5
tỉ USD ( chiếm khoảng 17,5%), ngành khách sạn và du lịch đạt 2,44 tỉ USD
(chiếm khoảng 12,2%). Các ngành có tỉ lệ vốn thực hiện trên 50% nh tài chính
12
ngân hàng, giao thông và bu điện, dầu khí và các dịch vụ khác. Các ngành khác có
tỉ lệ vốn thực hiện đạt từ 30-40%.
Ta có bảng dữ liệu về đầu t nớc ngoài phân theo ngành tính đến tháng
12/2002:
(đơn vị : triệu USD)
Ngành Số dự án Vốn đăng ký Vốn pháp định
Thuỷ sản 114 380,4 199,2
Công nghiệp 2689 19422,4 10014,2
Dầu khí 56 4200,4 3478,3
Xây dựng 330 4709,8 1781,2
Khách sạn, du lịch 228 5013,5 2155,9