TRƯỜNG
KHOA……………… Tiểu luận
Phân tích tình hình chế biến
và xuất khẩu cá tra Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
1
Đề tài: Phân tích tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra trong thời gian qua. Nếu anh
chị là lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hãy đề xuất giải pháp để
chế biến và xuất khẩu cá tra phát triển bền vững trong tương lai.
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
2
Lời giới thiệu:
á tra phân bố ở một số nước Ðông Nam Á như Campuchia, Thái Lan,
Indonexia và Việt Nam. Ðây là loài cá nuôi quan trọng có giá trị kinh tế và là
một trong 6 loài cá nuôi quan trọng nhất của khu vực này. Bốn nước trong hạ
lưu sông Mê kông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Thái lan, Capuchia, Lào và Việt
nam do có nguồn cá tra tự nhiên phong phú. Hiện nay nghề nuôi cá tra đã phát triển ở
nhiều địa phương ở nước ta, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền
Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này. Nuôi thương phẩm thâm canh cho
Về các thị trường xuất khẩu:
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
4
Các thị trường tiêu thụ lớn cá tra, basa của Việt Nam tiếp tục duy trì mức tăng trưởng
mạnh như EU đạt gần 470 triệu USD, tăng 36,7%, Ôxtrâylia đạt 38,5 triệu USD, tăng
24,4%, khối Asean : 77,6 triệu USD, tăng 23,5%, đặc biệt Ucraina bùng nổ nhập khẩu
mặt hàng này từ Việt Nam với trên 39 triệu USD, mức tăng trưởng đạt 145,4%, Mêhicô
cũng nổi lên là một thị trường tiềm năng với mức tăng 41,2%, đạt trên 40 triệu USD.
Xu hướng tăng xuất khẩu được tiếp tục trong tháng đầu năm 2008 trên các thị trường
đã nêu. Cả nước xuất gần 42 nghìn tấn cá tra, basa, tăng 52,8%, tổng giá trị xuất đạt 95,6
triệu USD, tăng 37,8%. Các thị trường tiêu thụ chính trong năm 2007 vẫn duy trì tốc độ
nhập tốt.
Trong đó đáng chú ý là thị trường Nga đang dần trở lại nhịp độ khả quan trước đây
(tháng 1 tăng gần 70% về khối lượng và 49% về giá trị), thị trường Ucraina và Ôxtrâylia
cũng tương tự. Mêhicô lập kỷ lục về tốc độ tăng trưởng – tăng 147,6% về khối lượng và
126% về giá trị.
Như vậy về khách quan, các thị trường đều hứa hẹn khả năng tiêu thụ khả quan, mặc
dù thông thường tiến độ nhập khẩu của các thị trường vào dịp đầu năm giữ mức thấp do
vừa qua mùa tiêu thụ cuối năm cũ và đầu năm mới. Từ tháng 3 trở đi các nhà nhập khẩu
mới triển khai giao dịch và chuẩn bị hàng hoá cho mùa tiêu thụ mới là các dịp nghỉ hè.
Theo nhiều nguồn tin về ngành thủy sản thế giới, hiện nay nhiều nước thuộc khu vực
Châu Âu đang tìm kiếm nguồn cung cấp cá thịt trắng từ Châu Á và nguồn cá tuyết từ
vùng nước lạnh. Philê cá tra, basa là đối tượng được nhắm đến để bù đắp cho phần thiếu
hụt trên thị trường.
Như vậy về lâu dài, các thị trường lớn ở Châu Âu (kể cả Đông và Tây Âu), Châu Đại
Dương và Bắc Mỹ tiếp tục là điểm đến của cá tra, basa Việt Nam. Tuy nhiên, ở đây cũng
cần chú ý đến sự mất cân đối giữa các thị trường quốc tế. Hiện Châu Âu đã chiếm đến
khẩu, Hội nuôi thuỷ sản các tỉnh, nhà sản xuất thức ăn thủy sản vv để tìm biện pháp
liên kết và phối hợp nhằm giảm thiểu những khó khăn cho doanh nghiệp, cho người nuôi
và đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà sản xuất thức ăn.
Trước đây doanh nghiệp trong nước vay tiền ngân hàng để sản xuất, kinh doanh, đẩy
mạnh xuất khẩu, nay do chống lạm phát không ngân hàng nào dám cấp tín dụng. EU
luôn dẫn đầu các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam bị thu hẹp các nhà nhập khẩu
các nước EU không có tiền mua hàng do ngân hàng không chịu bảo lãnh nên họ đã
ngưng đặt hàng. Việc xuất khẩu sang thị trường Mỹ lại càng khó khăn hơn, các hợp đồng
đã ký thì hoãn xuất hoặc dừng hẳn. Hy vọng mở rộng tín dụng ngân hàng trong nước là
rất khó, như vậy các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa sẽ gặp khó khăn về tiền vốn lẫn
thị trường. Không chỉ doanh nghiệp mà nông dân nuôi cá cũng gặp khó, vì nhiều bất cập
xảy ra với con cá tra, giá thành vẫn cao do giá thức ăn, thuốc thú y trong nước bị đẩy lên
cao.
Bên cạnh đó diện tích nuôi cá tra trong năm 2008 cũng góp phần làm cho nghề nuôi
trồng, chế biến và xuất khẩu cá tra cá basa ở ĐBSCL cũng như trong nước gặp nhiều khó
khăn. Năm 2008, diện tích nuôi cá tra ở ĐBSCL lên đến 6.160 ha, tổng sản lượng cá đạt
hơn 1,1 triệu tấn đã vượt quá nhu cầu chế biến và tiêu thụ. Ở ĐBSCL hiện còn khoảng
35% ao hầm đang bị bỏ không vì người nuôi cá không còn khả năng tái đầu tư.
Mặt khác, nghề nuôi cá tra và cá basa tại khu vực vẫn chưa thật ổn định và bền vững.
Trong sản xuất vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về ô nhiễm môi trường, biến động về thị
trường, giá cả.
Trong chăn nuôi cá tra và cá basa, chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng rất lớn, nhất là
trong giai đoạn trước khi thu hoạch. Chính vì vậy, dù Nhà nước đã “bơm” tiền, hạn mức
tín dụng cho các doanh nghiệp thu mua nguyên liệu để giải quyết đầu ra cho cá tra, cá
basa nhưng khả năng thu mua hết sản lượng cá nuôi trong dân là rất khó. Trong khi đó,
người nuôi cá ở ĐBSCL và cả nước phải mua thức ăn chăn nuôi thủy sản (chiếm khoảng
70% giá thành) hàng chục ngàn hộ nuôi cá tra, cá ba sa ở ĐBSCL phải đối mặt với thực
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
6
2. Tình hình năm 2009:
Bước sang năm 2009, tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra có nhiều khả quan hơn.
Cả năm, cá tra xuất khẩu sang 133 thị trường. Trong đó, ba thị trường hàng đầu đều có
kim ngạch trên 100 triệu USD là Mỹ, Tây Ban Nha, Đức. So với năm 2008, cá tra mất
14 thị trường cũ, có thêm 17 thị trường mới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cá tra, basa vẫn đang là mặt hàng
chiếm tỷ trọng giá trị xuất khẩu cao nhất trong nhóm thủy sản, nửa đầu năm 2009 đạt
khối lượng xuất khẩu 206.000 tấn, kim ngạch 473,9 triệu USD. Thị trường tiêu thụ chính
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
7
của cá tra, basa Việt Nam vẫn là EU với kim ngạch đạt 206 triệu USD trong 6 tháng đầu
năm.
Riêng thị trường Mỹ, bất chấp khó khăn do khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu sang
nước này đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đạt 45,97 triệu USD, tăng 59,98 % so với cùng
kỳ năm 2008.
Do trong 4 tháng đầu năm 2009, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt
Nam vẫn chưa được phép xuất khẩu sang thị trường Nga, nên số cá dư ra đã được họ đẩy
mạnh sang tiêu thụ tại các thị trường này.
Hiện tại, EU vẫn là khối thị trường lớn nhất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam,
với 26/27 quốc gia đã nhập khẩu cá của Việt Nam. Trong đó, 3 nước đứng đầu là Tây
Ban Nha, Đức và Hà Lan, có khối lượng nhập khẩu chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu cá
tra, basa của toàn EU. Tây Ban Nha và Đức đồng thời là hai nhà nhập khẩu cá tra, basa
lớn nhất của Việt Nam trong số 110 quốc gia nhập khẩu hai mặt hàng này.
Thời gian vừa qua, Việt Nam cũng đã đẩy mạnh xuất khẩu vào 3 quốc gia EU khác,
là Rumani, Bungari và Hungari. Sở dĩ cho tới nay, thị trường EU vẫn thích tiêu thụ cá
tra, basa của Việt Nam là vì có mức giá phù hợp, đáp ứng tốt an toàn vệ sinh thực phẩm.
Nửa đầu năm 2009, gần 100/190 doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đã xuất khẩu cá
tra, cá basa sang thị trường EU. Giá xuất khẩu trung bình cá tra của Việt Nam tới các
không đủ niềm tin về đầu ra. Trước tình hình đó, một số doanh nghiệp đã chủ động ký
hợp đồng bao tiêu khiến các hộ nuôi bắt đầu yên tâm thả nuôi lại trên những diện tích bỏ
trống. Đồng thời ký cam kết thu mua cá nguyên liệu với mức giá ổn định 15.500 đến
16.500 đồng/kg để nông dân có lãi.
Tại Tiền Giang năng suất đạt 264 tấn/ha, Đồng Tháp 302 tấn/ha, Vĩnh Long 300
tấn/ha, Cần Thơ 224 tấn/ha, Hậu Giang 230 tấn/ha và Trà Vinh 267 tấn/ha. Sản lượng cá
đến kỳ thu hoạch tính đến nay là 119.160 tấn, trong đó tập trung ở Đồng Tháp 53.944
tấn, Cần Thơ 32.955 tấn và An Giang 14.362 tấn. Lượng cá tồn đọng (loại >1kg) khoảng
6.743 tấn, bằng 4,15% lượng tồn đọng của năm 2008.
Theo tin từ Hiệp Hội thuỷ sản (VASEP), xuất khẩu cá tra của cả nước 8 tháng đầu
năm 2009 giảm 7,3% so với 928 triệu USD cùng kỳ năm 2008 đạt 860 triệu USD, chiếm
trên 1/4 mức sụt giảm xuất khẩu thuỷ sản của cả nước.
Riêng trong tháng 8, xuất khẩu cá tra giảm trên 20% cả về khối lượng và giá trị so
với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thị trường EU đã sụt giảm mạnh về khối lượng và giá
trị nhập khẩu mặt hàng này với tỉ lệ tương ứng là 14% và 19% (các thị trường lớn trong
khối như Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan và Bỉ đều giảm từ 18 -35% về giá trị nhập khẩu).
Ai Cập, vốn được coi là thị trường tiềm năng ở Trung Đông, cũng giảm mạnh nhập khẩu
cá tra Việt Nam trong tháng này, giảm trên 40%.
Năm 2009, xuất khẩu cá tra khá lao đao bởi những rào cản từ các nước nhập khẩu
chính, trong khi nguồn cung cấp nguyên liệu trong nước không ổn định. Việc Mỹ dự
định đưa cá tra của Việt Nam vào danh mục cá da trơn theo luật Farmbill 2008 là một
điều bất lợi cho con cá tra vốn đã bị “đánh” bởi thuế chống bán phá giá. Bên cạnh đó,
những “chỉ trích” của các phương tiện truyền thông một số nước Châu Âu (Italia, Tây
Ban Nha, Na Uy), Trung Đông và Niu Dilân đã làm hạn chế xuất khẩu con cá này.
Kim ngạch xuất khẩu cá tra những tháng đầu năm vượt tôm, nhưng tháng 6 và tháng
7 sụt giảm mạnh nên cá tra lại tụt xuống vị trí thứ 2 sau tôm đông lạnh. Riêng trong
tháng 8, xuất khẩu cá tra giảm trên 20% cả về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm
ngoái. Trong đó, đáng lo ngại là thị trường EU đã sụt giảm mạnh về khối lượng và giá trị
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
Để duy trì sản xuất, một số công ty chế biến thủy sản đã áp dụng hình thức hợp đồng
với người nuôi theo phương thức doanh nghiệp cung cấp 1,6kg thức ăn chăn nuôi và
2.500 đồng cho người nuôi để đổi lấy 1kg cá nguyên liệu.
Từ 1/1 đến 15/11/2009, Việt Nam đã xuất khẩu 527,3 nghìn tấn cá tra, basa sang 130
thị trường trên thế giới, đạt kim ngạch 1,17 tỷ USD. Trong đó, Mỹ, Tây Ban Nha và Đức
là 3 thị trường có giá trị nhập khẩu lớn nhất đạt từ 95 triệu USD trở lên với tỷ trọng
tương ứng 9,93%, 9,18% và 8,15%.
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
10
Vào hai tháng cuối cùng của năm 2009, xuất khẩu cá tra đã hồi phục trở lại, giúp kim
ngạch con cá này đạt 1,3 tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ năm 2008 dù vào đầu năm, cả doanh nghiệp
lẫn cơ quan quản lý đều dự báo chỉ 1 tỉ đô la Mỹ.
Tổng cuối năm 2009, cả nước xuất khẩu 607.665 tấn cá tra với tổng kim ngạch trên
1,34 tỉ USD, giảm 5,2% về khối lượng và 6,7% về giá trị so với năm 2008. Sụt giảm
mạnh nhất là thị trường Nga và Ukraina, cả năm 2009, chỉ xuất khẩu 37.710 tấn cá, giá
trị đạt 62.124 triệu USD, giảm 46,3% về khối lượng và 54,7% về giá trị. Trong đó, khối
lượng cá nhập khẩu vào Nga giảm 66,6%, giá trị kim ngạch giảm 65,8% so với năm
2008, thị trường này chỉ thực sự khởi sắc khi Bộ NN&PTNT có quyết định thành lập
Ban điều hành xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nga.
Con cá tra vẫn duy trì được ở 3 thị trường Mỹ, Tây Ban Nha, Đức với kim ngạch trên
100 triệu USD, khối lượng xuất vào 3 thị trường này đều tăng, trong đó, Mỹ tăng 71,1%
về khối lượng và 70,6% về giá trị. Mỹ hiện là thị trường tiềm năng cho con cá tra Việt
Nam, năm 2009 đã tiêu thụ 41.609 tấn, trị giá trên 134 triệu USD. Mặt khác, Asean và
Mexico là hai thị trường giữ được tốc độ tăng trưởng dương, ổn định nhất trong năm
2009.
Sản phẩm cá tra xuất khẩu vẫn chủ yếu là filê đông lạnh nên giá thấp. So với năm
2008, xuất khẩu cá tra năm 2009, giảm mạnh hơn ở hầu hết các thị trường. Thậm chí,
một số thị trường tăng được sản lượng mà kim ngạch vẫn giảm, vào Tây Ban Nha sản
mở cửa trở lại.
Ngày 18-5-2009, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập ban chỉ đạo sản xuất và
tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT làm Trưởng ban. Kết quả, đã
có khoảng 80% diện tích nuôi cá gắn với nhà máy chế biến.
Tổng kết năm 2009, Ban Chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL cho rằng,
chất lượng chuỗi sản xuất cá tra chưa được kiểm soát là yếu kém lớn nhất hiện nay. Thấy
rõ điểm yếu này, Bộ NN&PTNT đặt kế hoạch tăng cường kiểm soát chất lượng.
Từ tình hình thực tế của năm 2009, VASEP đã đưa ra 5 kiến nghị để thúc đẩy phát
triển chế biến và xuất khẩu cá tra cho năm 2010:
1. Kiến nghị ban hành các quy định cụ thể để sớm triển khai việc thực hiện Đề
án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm
2020.
Mục tiêu của đề án là phát triển sản xuất cá tra đến năm 2010 đạt sản lượng cá
nguyên liệu 1,5 triệu tấn, sản phẩm xuất khẩu đạt 600 nghìn tấn với giá trị kim
ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD.
Bên cạnh công tác quy hoạch và tổ chức nuôi cá tra chất lượng tốt cần quan tâm
đến chất lượng VSATTP cho sản phẩm cá tra phi-lê đông lạnh xuất khẩu thông qua
việc ban hành các tiêu chuẩn thống nhất.
2. Quan tâm đến các yếu tố đầu vào cho nuôi cá tra xuất khẩu vì hiện nay người
nuôi cá tra đang rất khó khăn trong việc xác định giá thành nuôi khi giá con giống,
thức ăn, thuốc thú y thay đổi không theo quy luật trong suốt chu trình nuôi cá
thường kéo dài đến 8 tháng.
Cần nghiên cứu ban hành các chính sách, biện pháp ổn định giá nhằm giúp
người nuôi dự kiến được giá thành, chủ động ký kết các hợp đồng tiêu thụ với nhà
máy chế biến, cũng như cân đối cung cầu theo mùa vụ trong năm.
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
12
3. Chính quyền các địa phương cân nhắc khi cấp phép việc xây mới hoặc mở
tạp chí kinh tế của Pháp, trong số tháng 3/2010 đã có bài viết với tựa đề “Những thức ăn
cần dè chừng”. Bài báo này nêu rõ tên của một loạt thực phẩm NK vào Pháp cần phải dè
chừng vì có yếu tố độc hại như tôm của Ấn Độ và Bangladesh, vả khô và sò ốc của Thổ
Nhĩ Kỳ, thịt gà của Đức và cá basa của Việt Nam. Trong khi đó, trên một website của
Bỉ, đã có một bài viết cho rằng cá tra Việt Nam được nuôi trong môi trường không an
toàn.
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
13
Những thông tin trên rõ ràng không đúng nhưng sẽ gây ra những bất lợi không nhỏ
cho cá tra, basa Việt Nam không chỉ ở Pháp và Bỉ mà còn ở các nước EU khác. Bởi
trước đây không lâu, chỉ vì những thông tin không đúng trên các phương tiện thông tin
đại chúng mà cá tra, basa Việt Nam đã từng bị khốn đốn tại nhiều thị trường như Ai Cập,
Tây Ban Nha, Na Uy… Ngay cả nhiều nhà nhập khẩu châu Âu, vốn biết quá rõ con cá
tra, basa Việt Nam, cũng đã tỏ ra bất bình trước những thông tin sai lệch này. Một số nhà
nhập khẩu đã đề nghị phía Việt Nam sớm lên tiếng để bảo vệ danh tiếng cho con cá tra,
basa trên thị trường thế giới, bởi họ tin rằng cá tra nuôi trên sông Mekong an toàn cho
người tiêu dùng.
Nhưng nỗi lo lớn nhất hiện nay của con cá tra, basa Việt Nam vẫn là từ thị trường
Mỹ khi mà thời điểm thực hiện Đạo luật Farm Bill đã cận kề. Xuất khẩu cá tra Việt Nam
vào thị trường Mỹ nhìn chung đang diễn ra khá thuận lợi. Năm 2009, nước ta xuất khẩu
sang Mỹ 41.609 tấn cá tra, đạt giá trị 134 triệu USD, tăng 70% về lượng và giá trị so
năm 2008. Tuy nhiên, với Đạo luật Farm Bill đang được phía Mỹ hoàn thiện, khả năng
con cá tra Việt Nam phải đứng ngoài thị trường này là không nhỏ. Việc thi hành quyền
thực thi pháp lý đối với cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ (bao gồm cá tra), sẽ được chuyển
từ Cục Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) sang Bộ Nông nghiệp (USDA). Theo kế
hoạch, thời gian chuyển đổi này sẽ kéo dài trong vòng 18 tháng. Đồng thời, do đàm phán
về thanh tra thực phẩm kéo dài từ 2-5 năm, nên sự thay đổi đột ngột về cơ quan quản lý
nói trên, có thể làm gián đoạn việc nhập khẩu cá tra Việt Nam vào Mỹ trong suốt thời
người tiêu dùng. Philê cá tra Việt Nam có hàm lượng nước cao (80-85 g/100 g), và chất
béo (1,1-1,3 g/100 g) tương đối thấp.
Philê cá tra còn có hàm lượng cholesterol thấp (21-39 mg/100g), do đó sẽ giúp người
tiêu dùng giảm thiểu lượng cholesterol dung nạp vào cơ thể trong bữa ăn hằng ngày.
Về an toàn thực phẩm, kết quả phân tích cho thấy, chất lượng cá tra hoàn toàn đạt
tiêu chuẩn, ít nhất là về dư lượng thuỷ ngân, dư lượng thuốc trừ sâu và hoá chất độc hại.
Với những đặc điểm không có mùi tanh, xương nhỏ, thịt trắng và chắc, philê cá tra
Việt Nam được coi là sản phẩm thích hợp cho nhu cầu của ngành dịch vụ thực phẩm và
các nhà hàng tại Ý.
Dự kiến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cá tra, basa vào Nga sẽ đạt 100 triệu USD.
Thị trường này sẽ trong tốp 10 thị trường nhập khẩu cá tra, basa Việt Nam.
Bên cạnh đó, giá bán sản phẩm cũng cao hơn trước, từ 5 - 7%, thậm chí giá bán sản
phẩm vào Nga cao hơn vào thị trường châu Âu. Dự kiến năm 2010, số doanh nghiệp
xuất khẩu vào thị trường Nga sẽ được mở rộng, một số mặt hàng mới cũng được giới
thiệu. Từ chỗ khó khăn, Nga lại trở thành thị trường hấp dẫn và tin cậy đối với các nhà
xuất khẩu Việt Nam. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lương
Lê Phương, để đạt được mục tiêu của năm 2010, các doanh nghiệp phải chú trọng vào
chất lượng sản phẩm, kiểm soát được sản phẩm đầu vào, giảm tỷ lệ mạ băng (đá ở trong
cá) từ 30% xuống còn 15% Cũng theo ông Dương Ngọc Minh, lượng thủy sản xuất đi
dựa trên sự thỏa thuận, cụ thể là chia đều hạn mức cho tất cả doanh nghiệp cùng tham
gia. Do đó, doanh nghiệp xuất khẩu vào Nga đều chịu sự giám sát chặt chẽ về chất lượng
từ Bộ chủ quản và Ban điều hành; đồng thời, các hoạt động xuất khẩu cũng được minh
bạch và có những lộ trình rõ ràng.
Năm nay, xuất khẩu thủy sản sẽ khả quan hơn năm 2009, do một số nền kinh tế lớn
như: EU, Mỹ, Nhật Bản đang trên đà phục hồi. Ngoài ra, Hiệp định Đối tác kinh tế
Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) đã chính thức có hiệu lực, hàng nông sản, thủy sản của
Việt Nam được hưởng ưu đãi rất lớn về thuế. Xuất khẩu thủy sản vào Mỹ sẽ tăng mạnh
nếu các doanh nghiệp chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi hiện đại, xây dựng
thương hiệu, tập trung sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao Tuy nhiên, năm
2010, xu hướng bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch dư lượng kháng
THỊ
TRƯỜNG
KL GT KL GT
KL
GT
2010
2009
KL GT %KL
%GT
KL
GT
EU 17.761
39,851
13.708
31,056
-8,0
2,64
2,53
6.043
15,354
6,9
8,3
-4,1
-5,3
Tây Ban
Nha
3.025
6,564
3.317
7,518
-21,5
-27,2
2,70
3.969
10,352
4,5
5,6
21,3
15,8
Ba Lan 2.978
5,331
2.468
4,493
182,8
152,2
1,82
2,04
16,678
6,0
9,0
14,2
13,9
MÊHICÔ 3.716
8,085
2.033
4,361
-5,9
-14,7
2,15
2,37
5.749
12,446
5,3
-13,8
-25,4
Xingapo 1.191
2,309
602
1,232
-44,2
-46,5
2,05
2,14
1.792
3,541
2,0
1,9
7,9
PhiLipin 575
1,210
380
0,760
-12,3
-16,2
2,00
2,10
955
1,970
1,1
1,1
37,7
33,3
ẢRẬP
XÊÚT
2.156
4,194
1.230
2,308
115,9
125,3
1,88
1,80
3.386
6,501
3,9
3,5
426,6
451,7
3,310
964
1,726
-36,3
-37,4
1,79
1,82
2.848
5,037
3,3
2,7
9,7
5,0
Hồng Kông
1.625
28,029
10.377
21,130
14,4
5,7
2,04
2,20
24.324
49,160
27,8
26,7
40,5
29,5
TỔNG
CỘNG:
51.820
Với khó khăn như vậy, mới đây, tại Hội nghị Bàn biện pháp nâng cao chất lượng cá
tra, basa xuất khẩu do Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lương Lê Phương chủ trì hồi cuối
tháng 3 vừa qua, một số ý kiến cho rằng nên xem xét đề nghị để đưa cá tra vào diện quản
Nguyễn Chí Hiếu-08141015 DH08NY
Tình hình chế biến và xuất khẩu cá tra
16
lý giá sàn như gạo. Nhưng cũng có nhiều ý kiến lại cho rằng cá tra khó có thể đưa ra
mức giá sàn giống như gạo vì philê cá tra xuất khẩu có rất nhiều dạng sản phẩm. Tuy
nhiên các doanh nghiệp đều thừa nhận rằng giá cá xuất khẩu có liên quan chặt chẽ tới
chất lượng sản phẩm. Sản phẩm có giá thấp thì chất lượng không tốt làm ảnh hưởng tới
hình ảnh của sản phẩm cá tra trên thị trường thế giới.
Tổng Thư ký VASEP Trương Đình Hoè cho rằng, trước đây VASEP đã tiến hành thử
nghiệm nhiều lần về mức giá sàn tuy nhiên qua thực tế là khó thực hiện vì quy cách của
sản phẩm cá tra khá đa dạng, thị trường thay đổi, và quan trọng là chưa có chế tài xử
phạt khi doanh nghiệp vi phạm. Nhưng chủ trương của Nhà nước, VASEP cùng với
doanh nghiệp tiếp tục thực hiện trên cơ sở xác định doanh nghiệp dẫn đầu cũng như đặc
điểm của từng thị trường.
Ông Dương Ngọc Minh Giám đốc Công ty Cổ phần Hùng Vương khẳng định với
mức giá sàn cá tra philê xuất khẩu là 2,75 USD/kg cho 100% net mà Cục Chế biến
Thương mại Nông lâm Thủy sản và Nghề muối đề xuất thì doanh nghiệp chỉ cần tăng
trọng 5% trong sản phẩm thành phẩm là sẽ bị lỗ vì hiện nay giá thu mua nguyên liệu
bình quân là 18.000 đồng/kg tại ao sau khi đã loại trừ cá bệnh và chết trên đường vô nhà
máy. Đó là chưa kể lượng hàng trong kho của doanh nghiệp đã sản xuất trước đó nếu
bán với giá sàn 2,75 USD/kg thì hoàn toàn không có lời.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Kịch, Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản Cafatex
cho hay giá liên quan đến chất lượng. Vì vậy, quản lý được giá cũng đồng thời quản lý
được chất lượng nhưng ông Kịch băn khoăn vì cá tra philê có hàng chục loại sản phẩm
khác nhau nên việc đề xuất chung một mức giá sàn là không hợp lý.
Đó là chưa kể mức giá sàn 2,75 USD/kg với 100% net tại Âu Châu và kèm theo đó là
Đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu. Phát triển các mặt hàng xuất khẩu có tiềm năng
như phile, xông khói, sản phẩm khô…