4
LUẬN VĂN
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VỚI MỤC TIÊU ỔN
ĐỊNH GIÁ CẢ
4
Mục Lục
Mục Lục 2
Phần 1: Cơ sở lý thuyết của chính sách tiền tệ 2
1.Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ : 2
2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ 3
2.2 Mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ : 4
2.3 Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ : 5
3.Các công cụ của CSTT 5
Phần 2: Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiên nay với mục tiêu ổn định
giá cả 8
2. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ 14
2.1 Các công cụ của chính sách tiền tệ: 15
2.2 Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ 17
Phần 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện 20
3.1.2. Một số định hướng cơ bản: 20
3.2.Giải pháp : 21
3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 21
Phần 4 : Dự đoán chính sách tiền tệ 2010 với mục tiêu ổn định giá cả 23
1.Ý kiến 1 : Thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong năm 2010. Những luận điểm
bảo vệ ý kiến trên là : 24
Ý kiến 2: Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng kết hợp với chính sách tài khóa mở
rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Việc này sẽ gây ra lạm phát nhưng không phải là lạm
phát phi mã. Những luận điểm bảo vệ ý kiến trên là : 25
2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ
2.1 Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ :
*Ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự
tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định
được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng
hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước
mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền
không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể phát
triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên.
*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp
tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh
doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ
lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
*Tăng trưởng kinh tế :Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi
chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để
giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng
bản tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính
4
phủ.Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết
quả hai mục tiêu trên đạt được một cách
hài hoà.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu : Có mối
quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách
rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn
hạn thì các mục tiêu này có thể mâu
thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn
nhau. Vậyđể đạt được các mục tiêu trên
một cách hài hoà thì NHTW trong khi
thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp
Y’
M
Nên lựa chọn mục tiêu trung gian là lượng tiền cung ứng.
- Khi nhu cầu tiền tệ biến động mạnh hơn
4
Nếu cố định MS: tổng sản lượng quốc dân sẽ biến động từ Y’
M
đến
Y”
M
.
Nếu cố định i
* :
mọi biến động của mức cầu tiền sẽ dẫn đến những biến
động tương ứng của mức cung tiền nhằm duy trì mức lãi suất cố định, do đó
LM luôn cố định tại vị trí của nó, mức sản lượng vì thế cố định tại Y
*
Việc lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung gian sẽ thích hợp hơn.
2.3 Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ :
- Là mục tiêu do ngân hàng trung ương lựa chọn nhằm đạt được mục
tiêu trung gian. Nó có phản ứng tức thời với những thay đổi trong sử dụng
công cụ của CSTT
- Tiêu chuẩn lựa chọn :
• Có mối quan hệ mật thiết với mục
tiêu trung gian.
• NHTW có thể đo lường được
• chịu sự tác động của công cụ gián
Khái niệm: Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phải giữ lại, do
NHTW qui định, gửi tại NHTW, không hưởng lãi, không được dùng để đầu
tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng só
tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ
thống ngân hang.
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp
đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các
NHTM. Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay
của các NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm
cho lượng cung ứng tiền giảm (tăng).
Ưu điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên giúp
NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của
nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là
ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền).
Nhược điểm: tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó
rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động
kinh doanh của các NHTM.
c. Chính sách tái chiết khấu:
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối
với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi
suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết
khấu (cửa sổ chiết khấu)
Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế
(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho
vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh
tế giảm (tăng). Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu
của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ
biến để có thể làm công cụ tái chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp
vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM.
cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của
nền kinh tế .
Nhược điểm: có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm
giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức
tín dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi
nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên .
b. Quản lý lãi suất của các NHTM:
Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi suất
cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh
hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản
lý mức cung tiền của mình.
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm
cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
4
Ưu điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều
kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.
Nhược điểm: dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì
thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ
chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế. Mặt khác việc thay đổi quy
định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt
động kinh doanh của mình.
Phần 2: Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn
hiên nay với mục tiêu ổn định giá cả
1. Nhìn lại tình hình chung của giá cả trong năm 2008 cho tới nay
a)Sự bất thường trong diễn biến giá cả hàng hóa năm 2008Tháng
phẩm 103.8 111.6 113.1 115.6 118.2 121.8 123.5 124.1 124.4 124.4 125.6 126.5
Đồ uống và 101.8 103.7 104.4 105.1 107.1 108.2 109.3 110.0 110.6 111.3 112.3 113.1
4
thuốc lá
May mặc,
giày dép, mũ
nón 101.4 102.8 103.7 104.7 105.7 106.7 108.2 109.2 110.1 110.8 111.8 112.9
Nhà ở và vật
liệu xây dựng 102.9 104.3 108.0 110.8 112.2 114.3 116.3 118.8 118.0 116.8 111.1 108.5
Thiết bị và đồ
dùng gia đình 100.9 101.6 103.1 104.1 105.1 106.4 108.0 109.2 110.5 111.3 112.0 112.7
Dược phẩm, y
tế 100.7 101.1 101.9 102.7 103.2 103.9 106.0 107.3 108.1 108.8 109.1 109.4
Phương tiện
đi lại,bưu điện 100.0 101.5 107.3 109.8 110.2 110.6 111.2 121.3 120.7 119.6 114.3 106.6
Giáo dục 100.2 100.3 100.6 101.0 101.4 102.1 103.2 104.4 105.8 106.6 106.7 106.9
Văn hoá, thể
thao, giải trí 100.1 102.4 103.7 104.3 104.9 105.3 106.2 107.3 108.9 109.3 109.6 110.3
Hàng hoá và
dịch vụ khác 102.6 106.1 106.2 106.8 107.1 108.1 109.4 110.4 110.8 111.7 112.1 113.0
Chỉ số giá
vàng 105.1 111.3 118.5 115.9 111.4 116.3 120.0 116.4 109.0 112.5 106.0 106.8
Chỉ số giá đô
la Mỹ 99.7 99.6 98.1 99.3 100.3 105.0 106.9 103.8 103.0 103.0 105.1 106.3
Năm 2008 là năm giá cả biến động bất thường ở mức cao, chia thành hai
giai đoạn rõ rệt với sáu tháng đầu năm tăng rất cao, sáu tháng cuối năm thì
dịu dần ở quý 3, và 3 tháng cuối năm giảm, đạt dưới 100%.
Diễn biến giá của năm vừa qua có sự nối tiếp của năm 2007, mức tăng
cao của nửa đầu năm 2008 đã có đà từ 6 tháng cuối năm trước đó. Trong 2
quý cuối năm 2007, chỉ số giá tăng trung bình khoảng 1,14%/tháng. Như
thị trường thế giới thiếu lương thực. Do đó, gạo từ mức giá
400-500 USD/tấn đã tăng đến hơn nghìn, thậm chí 1.200
USD/tấn.
Nền kinh tế chúng ta là nền kinh tế mở, và Việt Nam phải
nhập nhiều nguyên liệu, nên khi giá thế giới tăng đã như cơn
bão ập vào ngay, khiến chúng ta phải gánh chi phí đầu vào
tăng mạnh.
Nhưng, thậm chí có những mặt hàng chẳng phải nhập khẩu
gì cả mà giá vẫn tăng rất cao như gạch chẳng hạn, tăng gấp
4
đôi, gấp ba. Nhiều lúc, tốc độ tăng giá của gạch còn cao hơn
cả thép. Rõ ràng, đã có một tác động dây chuyền nào đó.
• Về cầu kéo, nếu nhìn cả năm thì nhu cầu tiêu dùng năm 2008 so
với các năm trước đó không thay đổi nhiều, nhưng giai đoạn 6
tháng đầu năm lại tăng khá cao, mặc dù giai đoạn này giá hàng hóa
tăng.
Một đặc điểm nữa là năm nay, thị trường chứng khoán kém
sôi động hơn trước, thị trường bất động sản cũng đóng băng
nên một lượng tiền đã đổ vào thị trường hàng tiêu dùng,
chuyển thành tích trữ hàng hóa, khiến giá hàng hóa tăng.
• Tiền tệ thì đúng là nguyên nhân dẫn tới lạm phát trong năm 2008
vì năm 2007 trước đó, khi lượng USD vào nhiều theo kênh FII
(đầu tư gián tiếp - PV) thì các ngân hàng đã phải đưa một lượng
tiền mặt ra để đối ứng, giữ vững tỷ giá.
Nhưng mặt khác, động thái đó lại làm mất giá đồng tiền nội
tệ. Sau này, Ngân hàng Nhà nước đã có một loạt động thái
thu tiền về bằng tăng dự trữ bắt buộc, bán trái phiếu nhưng
cũng không thể thu ngay về được. Lượng tiền trong lưu
thông còn rất lớn gây áp lực lạm phát.
Năm 2008, yếu tố tâm lý cũng có đóng góp đáng kể vào mức tăng
90.000đồng/bao
Không chỉ tác động đến giá các loại hàng hóa vật chất, thị
trường chứng khoán cũng nhiều lần chứng kiến tác động của chỉ số
giá đến sự tăng hay giảm của “bảng điện tử”. Những công bố CPI sớm
của các thành phố quan trọng như Tp.HCM, Hà Nội có thời điểm
cũng “áp đặt” xu hướng cho thị trường mua bán giầy tờ có giá này.
CPI cũng đẩy lãi suất huy động và cho vay của các ngân
hàng thương mại tăng liên tục trong giai đoạn này, có những thời
điểm vượt trên 18-19%, đối với huy động tiền gửi, và 21-24% với cho
vay.
Bình quân mức tăng CPI thời kỳ này đạt 2,48%/tháng, dù
đã được điều chỉnh bởi các nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của
Chính phủ.
Đối với giai đoạn sau này, khi chỉ số giá giảm:
Việc chỉ số giá giảm, là điều bất ngờ. Sau 6 tháng đầu năm tăng
rất cao, đến quý 3, chỉ số giá giảm tốc, chỉ còn tăng trên 1%, và đến
tháng 9 thì chỉ tăng 0,18%. xưa nay không bao giờ có chuyện giảm
giá vào quý 4, nhất là các tháng 11 và 12.
Tháng 10 thì còn có thể vì thường là tháng 9 tăng cao do ảnh
hưởng từ Tết Trung Thu, rồi ngày khai giảng, bố mẹ các em học sinh
phải mua nhiều sách vở theo biểu đồ chung thì tháng 9 lên cao,
tháng 10 dịu xuống, rồi tháng 11, 12 lại tăng lên.
Nguyên nhân giảm này, thứ nhất là chính sách tiền tệ thắt chặt
có tác dụng kiềm chế lạm phát, nhưng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp
làm ra lại cũng không bán được, rất khó khăn, dấn tới giảm giá.
Nguyên nhân nữa là giá thế giới giảm. Nhiều loại hàng hóa đều
bắt đầu giảm giá trong nửa cuối năm 2008, đặc biệt là giá dầu giảm rất
mạnh, đến gần đây chỉ còn trên 40 USD, thậm chí có lúc dưới 40
USD/thùng.
Giá thép cũng giảm rất mạnh, rồi giá lương thực. Gạo, sau một
dùng (CPI) tháng 1/2009 tăng 0,32% so với tháng 12/2008 và tăng
17,48% so với cùng kỳ năm 2008.
Như vậy, CPI đã tăng trở lại sau 3 tháng giảm liên tục, nhưng
đây là mức tăng thấp nhất của tháng 1 trong vòng 4 năm qua (tháng
1/2006 tăng 1,2%; tháng 1/2007 tăng 1,05%; tháng 1/2008 tăng 2,38%
so với tháng trước)
Trong năm nay, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên cần được tính
đến, Việt Nam vẫn phải tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng
giảm dần.
Năm 2009, giá cả thị trường Việt Nam sẽ biến động và gắn kết
ngày càng chặt chẽ vào biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên
thị trường thế giới.
4
CPI năm 2009 sẽ là 7%[16/07/2009]
CPI có thể tiếp tục tăng nhẹ trong các tháng tiếp theo nhưng không có
sự biến động lớn và CPI tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm
2008 tăng ở mức 1 con số (<10%).
2. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thực
hiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh
tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau:
Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấp
chúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm
tiền mặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt
thì ngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh
lượng tiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức
tín dụng khác (D). Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên
cơ sở: tỉ lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng
quay tiền tệ
Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một
Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp
với diễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh
nguy cơ giảm phát đang làm chậm lại tốc độ tăng trưởng.
Chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định tỷ giá
VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọng trong
quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồng tiền
Việt Nam và lòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dần tình
trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ở
Việt Nam.
Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát
triển chưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn.
Công cụ Hạn mức tín dụng:
Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu
của thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạm
phát.
4
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất
dần vai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh
toán vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của
nền kinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục
tiêu tăng trưởng kinh tế. Do đó từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng
công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ
(mặc dù có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết).
Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định,
thị trường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả.
Công cụ Dự trữ bắt buộc
Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớm
nhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB
có thể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM.
mục tiêu CSTT quốc gia ở mỗi thời kỳ để các NHTM điều chỉnh lãi suất
cùng với sự phát triển của thị trường ở Việt Nam , trở thành một công cụ đắc
lực của chính sách tiền tệ quốc gia
Công cụ Nghiệp vụ thị trường mở
Luật NHNN Việt Nam quy định “NHNN thực hiện nghiệp vụ thị
trường mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín
phiếu NHNN các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để
thực hiện CSTT quốc gia”
Ở Việt Nam thị trường mở đã tìm được con đường đi riêng cho mình
và tính ưu việt của nó đã được phát huy tác dụng ở một mức độ nhất định
(đã giúp cho các NHTM được chủ động hơn trong việc điều chỉnh lượng vốn
khả dụng của mình, qua đó NHNN phần nào đã thực hiện được mục tiêu
CSTT quốc gia).Tuy vậy ,đây mới chỉ là giai đoạn khởi đầu và mang tính
chất thử nghiệm nên đòi hỏi nó phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện.
2.2 Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ
những năm qua.
2.2.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô.
*Góp phần ổn định giá trị đồng bản tệ: Có thể nói đây là thành tựu
đáng được ghi nhận ở Việt Nam, bằng các công cụ điều tiết, NHNN đã kiểm
soát chặt chẽ khối lượng tiền cung ứng hàng năm và đó được xem như một
bàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế làm phát, ổn định sức mua của đồng
tiền Việt Nam, làm cho giá cả ổn định, đời sống người dân không ngừng
được cải thiện. Năm 2008, Thu nhập bình quân đàu người của Việt Nam đạt
và vượt 1000 USD/năm
Từ các kết quả trên cho thấy, việc sử dụng các công cụ điều tiết của
CSTT ở Việt Nam đã góp phần đạt được hai mục đích thường mâu thuẫn
nhau đó là: Vừa đẩy lùi lạm phát vừa tăng trưởng kinh tế. Có được kết qủa
này còn phải kể đến vai trò của nhiều CSKT vĩ mô khác nữa và đặc thù của
nền kinh tế Việt Nam đó là chúng ta chưa đạt được mức năng suất biên của
sản lượng tiềm năng trong nền kinh tế.
Mặt khác cơ sở để NHNN điều chỉnh lãi suất còn nặng về quan điểm trường
phái trọng tiền ( căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường là chủ
yếu,sự ảnh hưởng của thị trường vốn còn hạn chế)
. Hơn nữa, trong nền KTTT về mặt nguyên tắc thì lãi suất phải được
hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn trên thị trường. Việc kiểm soát
lãi suấtcủa NHNN hiện nay chính là một kiểu can thiệp giá của nhà nước.
Nếu cứ như vậy sẽ là không phù hợp trong tương lai khi hệ thống thị trường
ở ViệtNam phát triển hoàn thiện hơn.
Công cụ dự trữ bắt buộc :Trong nhiều năm liền (kể từ khi có pháp
lệnh NH T5/1990 ) chúng ta duy trì một cách cứng nhắc tỉ lệ DTBB 10%,
điều nàychỉ phù hợp trong thời kỳ đầu nhưng sau đó khi đồng tiền Việt Nam
đi vào ổn định thì đó là tỉ lệ không hợp lý, thiếu linh hoạt song NHNN trong
thời gian đó vẫn không có quyền thay đổi vì để sửa đổi pháp lệnh phải có
thời gian.
Kể từ khi luật NHNN được thực hiện, tỉ lệ DTBB tuy có được điều
chỉnh giảm đi (0-20%) và linh hoạt hơn nhưng theo nhiều chuyên gia đánh
giá thì nó vẫn ở mức cao.
Việc thực hiện các quy định về DTBB của các TCTD chưa nghiêm,
tiềm ẩn các nguy cơ khủng hoảng khả năng thanh toán. Mặt khác đối tượng
phải áp dụng quy chế DTBB còn chưa đầy đủ, các đối tượng áp dụng thì
mức độ tỉ lệ DTBB còn khác nhau- có nhiều yếu tố khộng hợp lý. Như vậy
4
NHNN vẫn chưa thực sự tạo ra được một “sân chơi bình đẳng”đối với các
TCTD.
Trong điều kiện thực tế Việt Nam, tác dụng của công cụ nay còn hạn
chế, chưa biểu hiện rõ nét, thời gian gần đây cùng với lãi suất thị trường, lãi
suất tái cấp vốn, chúng ta đã liên tục hạ thấp tỉ lệ DTBB tuy nhiên vẫn chưa
thúc đẩy nền kinh tế phát triển rõ rệt, kết quả biểu hiện còn khá khiêm tốn.
Thực tế đó chứng tỏ ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế đầy đủ
để CSTTC (cụ thể là các công cụ của CSTT) phát huy tác dụng, mối liên hệ
dụng dư thừa của họ.
. Việc mua bán lại tín phiếu còn chưa phổ biến đối với công chúng
khiến cho lượng tín phiếu mà các TCTD sau khi mua được hầu như lại nằm
4
im trong két của họ điều đó cũng làm giảm ý nghĩa và sự sôi động của thị
trường sơ cấp.
.Trên thị trường mở ,khối lượng giao dịch còn thấp , số thành viên
tham gia chưa nhiều nên tác độngcủa thị trường mở đến lượng vốn khả dụng
của các NHTM còn rất hạn chế.
Như vậy,từ các tồn tại trên đòi hỏi phải có những định hướng cơ bản
và các giải pháp cụ thể để có thể sử dụng các công cụ của CSTT một cách có
hiệu quả ở Việt Nam.
Phần 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện
các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam
3.1. Định hướng
3.1.1.Bối cảnh trong nước và quốc tế
Bước sang thế kỷ 21,đất nước chúng ta có những điều kiện thuận lợi để
phát triển đó là : sự ổn định về chính trị-xã hội,sự phát huy các lợi thế so
sánh của đất nước phục vụ cho sự phát triển .Tuy vậy nền kinh tế của chúng
ta từ khi đổi mới đến nay sau những năm phát triển liên tục,cao thì lại đang
có xu hướng chững lại, tình hình giảm phát đã thể hiện rõ điều này.Lý do
được giải thích có thể là do hậu quả thiên tai ,lũ lụt đã liên tiếp xảy ra hoặc
xuất phát từ chính các yếu tố,lĩnh vực của sản xuất đang bộc lộ rõ sự yếu
kém tụt hậu tương đối so với khu vực và thế giới .
Quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế của chúng ta đã tiến triển rất tốt
đẹp tạo cơ hội để phát triển đất nước ;chúng ta đã có quan hệ với rất nhiều
các quốc gia trong khu vực và thế giới ,tham gia nhiều hiệp ước kinh tế như
AFTA,WTO đặc biệt có nhiều quan hệ tốt đẹp với các tổ chức,định chế tài
chính lớn như IMF,WB,ADB
Mặt khác ,nền kinh tế thế giới và khu vực Đông á,Đông Nam á đang có
-Năng lực kỹ thuật của NHNN cần được nâng cao đặc biệt là trong
việc thu thập ,xử lý thông tin và ra quyết định điều hành CSTT
-Cần hoàn thiện hành lang pháp lý về hệ thống ngân hàng ,tài chính để
cơ chế thực thi CSTT nói chung ,các công cụ của CSTT nói riêng được
nghiêm minh và có hiệu quả hơn.
-Cần có các biện pháp khuyến khích phù hợp nhằm tạo ra những nếp
thói quen mới trong tâm lý của các cá nhân ,các doanh nghiệp để giúp việc
thực hiện các công cụ của CSTT có hiệu quả hơn ,ví dụ: tạo thói quen thanh
toán qua ngân hàng của các tổ chức kinh doanh ,thói quen sử dụng hoạt động
thị trường mở của các tổ chức tín dụng
3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách
tiền tệ .
Để nâng cao hiệu quả của qúa trình thực thi CSTT đòi hỏi phải nhanh
nhanh chóng hoàn thiện và tiếp tục phát triển hệ thống các công cụ bám sát
thực tiễn VN -phục vụ đắc lực cho quá trình đổi mới CSTT.Hệ thống các
công cụ phải được xây dựng và hoàn thiện theo hướng hỗ trợ ,phối hợp thúc
đẩy lẫn nhau tránh tình trạng triệt tiêu hiệu quả của nhau .Cụ thể:
*Đối với công cụ hạn mức tín dụng:
NHTN tuy không coi đây là một công cụ thường xuyên nhưng cũng
cần phải theo dõi tổng số dư nợ của các NHTM ở các giai đoạn cụ thể và
NHNN sẽ can thiệp vào hoạt động này trong điều kiện cụ thể.
4
*Đối với công cụ lãi suất :
Việc điều chỉnh lãi suât cần linh hoạt gắn với thị trường trên nguyên
tắc đảm bảo lợi ích của cả người gửi tiền,tổ chức tín dụng và người vay tiền,
tạo điều kiện tập trung tối đa các nguồn vốn để tài trợ cho phát triển kinh tế .
Do vậy để điều chỉnh lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách phù hợp
các tổ chức tín dụng phải căn cứ vào các nhân tố:Lợi nhuận bình quân của
các doanh nghiệp;sự biến động của quan hệ cung cầu;vốn đầu tư; mức độ
lạm phát và diễn biến lãi suất trên thị trường .
chế thị trường thì NHNN cần phải có cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc thích
hợp để tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh,bình đẳng giữa các tổ
chức tín dụng: nên mở rộng đối tượng áp dụng qui chế dự trữ bắt buộc,tỷ lệ
4
dự trữ bắt buộc đưa ra phải phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ ,với mục
tiêu CSTT và đặc điểm cụ thể của các tổ chức tín dụng trong toàn bộ hệ
thống tổ chức tín dụng ở Việt Nam
- Cần phải có những biệp pháp tăng cường kiểm tra việc chấp hành dự
trữ bắt buộc, đi đôi với việc xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm qui chế
dự trữ để đảm bảo sự lành mạnh của hệ thống tài chính ,ngân hàng thực hiện
tốt mục tiêu CSTT
-NHNN nên có các biện pháp khuyến khích các NHTM thực hiện tốt
các qui chế dự trữ như:quy định số tiền phải chịu qui chế dự trữ bắt buộc
phù hợp, tiếp tục trả tiền lãi cho số tiền gửi dư thừa của các tổ chức tín dụng
với mức lãi suất phù hợp với khả năng tài chính NHNN.
-Trong thời gian trước mắt ,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ,tỷ lệ dự
trữ bắt buộc cần phải giảm bớt ở mức độ phù hợp.
Phần 4 : Dự đoán chính sách tiền tệ 2010 với mục tiêu ổn
định giá cả
Như 1 chu kỳ kinh tế, sau suy thoái chắc chắn là giai đoạn phục hồi và
phát triển. Các nước luôn muốn nhanh chóng phục hồi và đưa nền kinh tế
vao giai đoạn phát triển.Tuy nhiên, giai đoạn phục hồi nhanh hay chậm phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, có thể chia thành yếu tố bên trong và yếu tố bên
ngoài
Yếu tố bên trong: Là những yếu tố cấu thành nội lực của nền kinh tế,
có vai trò quyết định trong việc phục hồi và tăng trưởng bền vững. Cụ thể là:
- Nguồn vốn
- Nguồn nhân lực
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Khoa học kỹ thuật
cung cấp ngoại tệ ra thị trường của ngân hàng Nhà nước được cho là
không thực tế và chỉ gây thêm áp lực cho dự trữ ngoại tệ quốc gia,
làm trầm trọng thêm nguy cơ mất cân bằng cán cân thanh toán. Sự
mất cân bằng giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá giao dịch ngày càng nới
rộng tiềm ẩn 1 nguy cơ cao, trong khi đó thực tế, Việt Nam đang có 1
chế độ tỷ giá hối đoái phụ thuộc lớn vào đồng USD.
- Trên thị trường vốn, quyết định điều chỉnh tỷ lệ cho vay trung và dài
hạn trên nguồn vốn vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại từ
40% xuống còn 30% khiến cho các ngân hàng đều phải tăng cường
huy động vốn trong khi giảm bớt các khoản cho vay. Nhưng ngay cả
khi lãi suất huy động được nâng lên cao như vậy, tiền vẫn không chạy
về ngân hàng, hứa hẹn cuộc chạy đua lãi suất sẽ còn tiếp diễn. Các
chuyên gia nhận định,lãi suất huy động có lên đến 10,5% trong lúc
này thì vốn cũng khó chảy vào ngân hàng.
- Trên thị trường chứng khoán, bộ phận quan trọng của thị trường vốn,
đã có sự tăng điểm về các chỉ số quan trọng như VN-Index hay HAS-
Index, nhưng điều này lại được nhiều người lý giải là do 1 phần các
doanh nghiệp sử dụng vón vay ưu đãi để đầu tư và đó không phải lả 1
sự tăng trưởng thực mà là 1 quả bong bóng sắp xì hơi.
- Thị trường bất động sản và thị trường vàng có những biến động hết
sức khó lường. Cơn sốt giá vàng do tâm lý và do đầu cơ vừa qua là 1
ví dụ điển hình của 1 thị trường chưa thực sự đi vào giai đoạn phát
triển cao
4
- Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng trở lại, sự lo lắng về lạm phát
không phải là không có lý. CPI tăng do nguyên nhân chủ yếu là: sức
mua của người dân tăng vào các tháng cuối năm, và đông thời các
doanh nghiệp cũng có nhiều hình thức khuyến mãi để thu hút khách
hàng.
Ý kiến 2: Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng kết hợp với chính
tệ nới lỏng thận trọng sẽ hạn chế được các rủi, giúp các doanh nghiệp