Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Từ tạo nên câu. Câu là đơn vị cơ bản của
hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Do đó muốn nắm vững một ngoại ngữ, giao
tiếp đợc bằng ngoại ngữ trớc hết phải nắm vững và sử dụng đúng từ. Tuy nhiên
trong quá trình dạy - học ngoại ngữ phơng pháp dạy - học từ hiện nay cha hợp lý,
gây nhiều khó khăn cho ngời dạy, nhất là ngời học, hiệu quả dạy- học thấp. Điều
đó thể hiện trong nhiều lĩnh vực của quá trình dạy- học ngoại ngữ mà trớc hết thể
hiện trong các giáo trình và sách giáo khoa.
Có thể nhận thấy hầu hết các giáo trình, sách giáo khoa tiếng Nga và tiếng
Anh về dạy- học và sử dụng từ, nhất là giới từ cho sinh viên nớc ngoài (kể cả
giáo trình, sách giáo khoa do các tác giả Nga, Anh - Mỹ biên soạn) không chỉ ra
đợc bản chất của các giới từ, không đa ra đợc các tiêu chí sử dụng mỗi giới từ mà
dựa vào ghi nhớ máy móc thông qua nhiều thí dụ. Hơn nữa trong giáo trình và
sách giáo khoa lại có nhiều trờng hợp ngoại lệ. Phải ghi nhớ máy móc, lại thêm
quá nhiều ngoại lệ làm cho sinh viên khi sử dụng giới từ tiếng Nga cũng nh tiếng
Anh thờng xuyên nhầm lẫn và mắc lỗi.
Nh chúng ta đã biết, quan điểm cơ bản, quan trọng và cốt lõi nhất của triết
học Duy vật biện chứng là: Muốn nắm vững bất kỳ một sự vật hoặc hiện tợng
nào cần nắm vững quy luật vận động khách quan của chúng và hành động phù
hợp với quy luật đó.
Xét theo quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng, việc sử dụng
các giáo trình và tài liệu hiện có để dạy học từ, nhất là giới từ trong ngoại ngữ
gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả thấp là điều không khó hiểu bởi lẽ các giáo
trình, sách giáo khoa, tài liệu hầu nh không chỉ ra quy luật vận động khách quan
của từ, nhất là của giới từ và đơng nhiên không hớng dẫn ngời học hành động
phù hợp với quy luật hoạt động của từ.
Trong quá trình học ngoại ngữ hầu hết mọi ngời đều sử dụng từ điển, nhất
là từ điển song ngữ đối với giai đoạn đầu. Phần lớn các từ điển mô tả, giải thích ý
nghĩa của từ bao gồm ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng kèm theo các thí dụ
minh hoạ. Các từ điển hầu nh không mô tả và giải thích quy luật vận động khách
viên thờng sử dụng qua đó tìm ra những hạn chế của từ điển, những khó khăn do
từ điển gây ra đối với việc dạy-học và sử dụng giới từ tiếng Nga và tiếng Anh.
Tìm hiểu, phân tích, đánh giá phần dạy học giới từ trong các giáo trình thực
hành tiếng Nga và tiếng Anh đã, đang đợc sử dụng để tìm ra những khó khăn mà
các giáo trình có thể gây ra cho sinh viên khi học và sử dụng giới từ.
Nghiên cứu những giáo trình chuyên sâu về giới từ để rút ra những điều
cần thiết cho việc nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Phân tích, so sánh, đánh giá phơng pháp dạy học giới từ tiếng Nga và
tiếng Anh hiện nay.
Tìm hiểu, thống kê, phân tích đánh giá các lỗi sinh viên thờng mắc khi sử
dụng giới từ tiếng Nga và tiếng Anh. Các lỗi đợc tập trung nghiên cứu là những
lỗi có tính phổ biến và điển hình, những lỗi sinh viên thờng lặp lại.
2
Các lỗi đợc sắp xếp và nghiên cứu theo hệ thống các quan niệm logic ngữ
nghĩa về sử dụng giới từ trong hoạt động lời nói nh quan hệ không gian, thời
gian, định tính, phơng thức hành động v v Trong quá trình thực hiện đề tài, đã
sử dụng hơn 500 bài kiểm tra về sử dụng giới từ của sinh viên khoa Nga và sinh
viên hệ tại chức khoa Anh.
2.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng, nghiên
cứu để hiểu rõ hơn về sự vật và hiện tợng, về những khái niệm quy luật và
khách quan theo quan điểm của triết học Duy vật biện chứng.
Nghiên cứu, tìm hiểu quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
thể hiện trong ngôn ngữ và hoạt động lời nói.
Tìm hiểu, phân tích nguyên nhân mắc các lỗi phổ biến và điển hình của
sinh viên khi học và sử dụng giới từ tiếng Nga và tiếng Anh.
Nghiên cứu áp dụng quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
vào quá trình dạy học giới từ tiếng Nga và tiếng Anh.
3. Cơ sở khoa học và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Đề tài đợc nghiên cứu trên các cơ sở khoa học
học giới từ tiếng Nga và tiếng Anh hiện nay, phơng pháp tự học và kết quả
học tập của sinh viên.
Phơng pháp so sánh, đối chiếu.
So sánh đối chiếu tìm ra những tơng đồng và khác biệt trong việc sử
dụng giới từ tiếng Nga, tiếng Anh và những từ tơng đơng trong tiếng Việt nhằm
hạn chế các chuyển di tiêu cực, phát huy những chuyển di tích cực giúp việc dạy
học hiệu quả hơn.
Phơng pháp thống kê
Trên cơ sở thống kê sẽ tìm ra các quy luật hoạt động của giới từ tiếng
Nga và tiếng Anh.
Phơng pháp tổng hợp
Trên cơ sở các phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê sẽ tổng hợp, khái
quát hoá rút ra các nguyên tắc chung và quy luật hoạt động của các giới từ tiếng
Nga và tiếng Anh nhằm giúp việc dạy - học hiệu quả hơn.
4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu thành công đề tài sẽ đa ra phơng pháp dạy học mới
dựa trên những cơ sở khoa học, hợp lý và hiệu quả cao. Đó là phơng pháp dạy
học từ theo quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng.
Việc nghiên cứu thành công đề tài sẽ đa ra hệ thống các quy luật vận động
khách quan của giới từ tiếng Nga và tiếng Anh đợc sắp xếp theo các quan hệ
logic ngữ nghĩa nh quan hệ không gian và thời gian, quan hệ khách thể, định
tính, mục đích, nguyên nhân v v. Hệ thống này sẽ giúp việc dạy học giới từ
tiếng Nga và tiếng Anh đơn giản và hiệu quả hơn.
Việc nghiên cứu thành công đề tài có thể mở ra những phơng pháp biên
soạn giáo trình dạy học từ, nhất là giới từ, phơng pháp biên soạn từ điển song
ngữ theo quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng. Đó là phản ánh
4
những quy luật vận động khách quan của từ và hớng dẫn ngời học hành động
phù hợp với những quy luật đó.
Đề tài là sự tiếp tục, mở rộng và làm sâu sắc, hoàn thiện hơn của đề tài
khi sử dụng giới từ tiếng Nga và tiếng Anh trong lời nói. Có thể nêu thí dụ để
minh hoạ:
Cuốn Sách giáo khoa tiếng Nga cho sinh viên nớc ngoài của tác giả
.. đến nay đợc tái bản tới 10 lần, đợc xem nh cẩm nang ngữ
pháp cho tất cả những ai dạy học tiếng Nga nh một ngoại ngữ; thế nhng
trong phần ngữ pháp về sử dụng giới từ và cách 6 chỉ địa điểm các tác
giả đa ra 68 trờng hợp mà sinh viên nớc ngoài cần phân biệt khi sử dụng giới từ
và chỉ địa điểm. Chắc chắn, không một sinh viên nớc ngoài nào có thể
hiểu cách sử dụng, nhớ hết 68 trờng hợp đó và đơng nhiên sử dụng đợc chúng mà
không bị nhầm lẫn và mắc lỗi; bởi lẽ chỉ sau khi bắt đầu học tiếng Nga nửa
tháng chúng ta đã phải dạy học giới từ và với danh từ cách 6 chỉ địa
6
điểm, đặc biệt tác giả không chỉ ra đợc bản chất của giới từ và trong
hoạt động lời nói, không đa ra bất kỳ tiêu chí nào để phân biệt việc sử dụng giới
từ và , hơn thế nữa căn cứ vào sự sắp xếp của 68 trờng hợp đó thì không
một ai có thể thấy đợc sự khác nhau trong việc sử dụng giới từ và , cho
nên chỉ có cách là học thuộc lòng máy móc. Việc học thuộc lòng và ghi nhớ máy
móc trong trờng hợp này hết sức khó khăn, thậm chí không thể đợc vì đây không
phải là 68 từ mới, mà là 68 trờng hợp sử dụng giới từ và chỉ địa điểm có
bản chất khác nhau. Cho dù có học thuộc lòng và nhớ đợc 68 trờng hợp đó thì
khi sử dụng giới từ và trong li nói sinh viên vẫn nhầm lẫn và thờng
xuyên mắc lỗi bởi lẽ khó có thể liệt kê đầy đủ các trờng hợp cần phân biệt giới từ
và trong hoạt động lời nói. Trong cuốn sách các tác giả đã đa ra 68 tr-
ờng hợp, nhng thực ra nếu muốn con số đó phải là hàng trăm. Điều quan trọng
nhất, chủ yếu và cơ bản nhất làm sinh viên thờng mắc lỗi khi sử dụng giới từ
và trong tiếng Nga là do họ không hiểu, không nắm đợc bản chất của các
giới từ.
Trong các cuốn sách giáo khoa, các giáo trình ngữ pháp tiếng Anh cho
sinh viên nớc ngoài của các tác giả Anh - Mỹ phần giới từ nói chung và giới từ
không gian nói riêng cũng giống nh những cuốn sách tiếng Nga ở chỗ không nêu
ờng dùng at với các danh từ chỉ địa điểm nhỏ, in - địa điểm lớn. Đặc biệt các
tác giả đã đa động từ arrive để làm thí dụ cho việc sử dụng giới từ at và in
làm cho sinh viên bị nhầm lẫn. Phải thấy rằng khi đi với động từ arrive giới từ
at phải kết hợp với danh từ chỉ địa điểm nhỏ, in chỉ địa điểm lớn, điều đó
hoàn toàn không có nghĩa là danh từ chỉ địa điểm nhỏ thì kết hợp với giới từ at,
địa điểm lớn với giới từ in. Nh trên đã nói các giáo trình ngữ pháp tiếng
Anh của các tác giả Anh - Mỹ phần giới từ chỉ địa điểm chỉ đa ra ba giới từ at,
in, on với quá nhiều thí dụ, nhng lại bỏ qua quá nhiều giới từ chỉ địa điểm khác.
Tất nhiên các giới từ này ít phức tạp hơn ba giới từ at, in, on nhng không phải
không gây khó khăn cho ngời nớc ngoài học tiếng Anh và họ cũng hay nhầm lẫn
và mắc lỗi khi sử dụng trong lời nói, có thể nêu một số giới từ để minh hoạ. Đó
là 4 giới từ past, across, over, through khi dịch ra tiếng Việt đều có nghĩa là
qua.
- among, between và in the middle of đều đợc dịch ra tiếng Việt là
giữa.
- above và on với nghĩa là trên.
- below và under với nghĩa là dới.
Những bộ giáo trình, sách giáo khoa nổi tiếng của các tác giả Nga đợc đa
ra làm thí dụ minh họa là . . . .
. . 2001.
Giáo trình tiếng Anh: Raymond Murphy, English grammar in use for
intermediate students, Cambridge university press.
Hầu hết những bộ giáo trình, sách giáo khoa do các tác giả Nga, Anh -
Mỹ biên soạn để dạy học từ, nhất là giới từ có những hạn chế mang tính cơ
bản và phổ biến. Hạn chế cơ bản thể hiện ở chỗ các tác giả không chỉ ra đợc bản
chất của mỗi giới từ, không chỉ ra đợc quy luật vận động khách quan của chúng
trong hoạt động lời nói, không đa ra đợc các tiêu chí sử dụng đối với mỗi giới từ
mà chủ yếu dựa vào ghi nhớ máy móc, mang tính áp đặt. Hạn chế phổ biến thể
hiện ở chỗ những hạn chế cơ bản nêu trên lặp lại trong hầu hết các giáo trình và
sách giáo khoa, đối với hầu hết các giới từ trong tiếng Nga và tiếng Anh.
(,)
)
9
Không ai có thể phủ nhận đợc những giá trị to lớn và cần thiết của các bộ
từ điển song ngữ.
10
Tuy nhiên trong phạm vi công trình này, chúng tôi muốn đề cập đến một
khía cạnh khác, muốn nêu lên một số hạn chế trong các bộ từ điển song ngữ.
Hầu hết những ai học và sử dụng tiếng Nga nh một ngoại ngữ đều biết và
sử dụng bộ từ điển Nga Việt gồm hai tập có khoảng 43.000 từ của các tác giả
ngời Nga là K. M. Alikav. V. V. Ivanôv, cùng một số tác giả ngời Việt. Nhà xuất
bản Tiếng Nga. Mat-xcơ-va. Bộ từ điển này đợc đánh giá là một trong số
những bộ từ điển Nga Việt tốt nhất hiện nay. Chúng ta hãy tìm hiểu việc sử
dụng bộ từ điển này trớc hết từ các giới từ. Mục giới từ từ điển đa ra 19 tiểu
mục với những nét nghĩa khác nhau, nhng ý nghĩa cơ bản và quan trọng nhất là ý
nghĩa số 1.
Trích dẫn từ điển Nga Việt. Nhà xuất bản Tiếng Nga. Matxcơva
: 1 trên, ở trên trên tờng
Chúng ta cũng cần tìm hiểu cuốn từ điển Nga Việt xuất bản gần đây
nhất - đó là Từ điển giáo khoa Nga Việt Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội
2002. Trang 680 của từ điển, mục giới từ có ghi:
HA giới từ c.4 và c.6.
3. c.6 trên, ở trên (chỉ bề mặt sự vật)
, , ,
Khi diễn đạt bằng tiếng Nga những câu nh: 1- Tôi đi trên đờng, 2- Thuyền
bơi trên sông, 3 Mây trôi trên trời, 4 Trên bầu trời Hà Nội. 5 Trên biển
Việt Nam, 6- Nông dân làng tôi làm việc trên cánh đồng của họ, 7- Trẻ em chơi
trên sân; căn cứ vào nghĩa trong các từ điển Nga Việt ngời Việt học tiếng Nga
thờng sử dụng giới từ với danh từ cách 6. Căn cứ vào các tài liệu ngữ pháp
tiếng Nga nh cuốn Giới từ tiếng Nga, những cách sử dụng của I.I. Axtapheva.
Nhà xuất bản Đại học Minxcơ. 1984 có thể khẳng định việc sử dụng giới từ
trong tất cả các câu tiếng Nga nêu trên đều sai. Ba câu đầu phải dùng giới từ
no với danh từ cách 3. Qua thực tế hàng chục năm giảng dạy tiếng Nga bậc đại
giả đã chỉ rõ: Giới từ là một loại h từ không có ý nghĩa từ vựng độc lập, chúng
chỉ có ý nghĩa từ vựng khi kết hợp với các loại từ khác trong hoạt động lời nói;
nhng trong rất nhiều trờng hợp giới từ vẫn không hề có ý nghĩa từ vựng mặc dù
đã kết hợp với các loại từ khác trong hoạt động lời nói.
Thí dụ tiếng Anh I am interested in music: Tôi thích âm nhạc, I listen to
the radio: Tôi nghe đài, I am waiting for you: Tôi đang đợi anh. Trong những
câu trên các giới từ in, on, for không hề có ý nghĩa từ vựng. Đặc biệt, không ai
có thể tìm thấy ý nghĩa từ vựng của giới từ trong vô số động từ kép của tiếng
Anh, nhất là động từ kép đặc ngữ (idiomatic). ý nghĩa của loại động từ kép này
không đợc hình thành bởi ý nghĩa của tổ hợp các từ cấu tạo nên chúng. Thí dụ:
The fire went out ngọn lửa đã tắt, The meat has gone off thịt đã thiu, I get
on well with him Tôi quan hệ tốt với anh ta. A plane takes off máy bay cất
cánh. They brought up six children họ nuôi dỡng sáu đứa trẻ. I picked up a
little Italian Tôi đã học đợc một ít tiếng Italia. (giáo trình tiếng Anh cho sinh
viên nớc ngoài). New headway English course Intermediate Students book,
Oxford University.
12
Thí dụ tiếng Nga: : chăm sóc trẻ em,
: lắng nghe ý kiến, : đề nghị
bạn giúp đỡ, : lấy chồng là bác sĩ. Trong những câu trên
các giới từ , , mặc dù đã kết hợp với các thực từ trong hoạt động lời nói
nhng chúng vẫn không có ý nghĩa từ vựng.
Chúng ta tìm hiểu từ trên trong tiếng Việt. Từ điển tiếng Việt 2001, nhà
xuất bản thành phố Hồ Chí Minh có ghi: Trên 1 (danh từ) ở vị trí cao, ở phía
cao, trái với thấp. Sau đó từ điển đa thêm 4 ý nghĩa nữa, nhng xét cho cùng từ
trên dù xuất hiện ở những ý nghĩa khác nhau nhng đều có cùng một ý nghĩa
bản chất đó là ở vị trí cao chỉ khác biệt là dùng nghĩa bóng hay nghĩa đen: Từ
trên có thể làm chủ ngữ đứng ở đầu câu với chức năng nh một danh từ. Trên
bảo dới không nghe từ trái nghĩa với trên là dới.
Trong tiếng Nga từ , tiếng Anh từ on không có ý nghĩa từ vựng độc
hơn ngời nói nên chúng ta đã dùng từ trên. Cũng ý đó ngời Anh lại nói: The
lamp hangs under the ceiling. Ngời Nga nói:
Khi xem xét mối quan hệ không gian giữa ngọn đèn và trần nhà ngời
Anh và ngời Nga không lấy chính bản thân họ, không lấy ngời nói làm trung tâm
mà chỉ xét mối quan hệ thực tại khách quan giữa ngọn đèn và trân nhà. Vì
ngọn đèn ờ vị trí thấp hơn so với trần nhà nên ngời Anh dùng từ under, ng-
ời Nga dùng từ , cả hai từ dó kết hợp với danh từ đều chỉ vị trí thấp hơn, ở
bên dới. Qua những phân tích trên có thể thấy rằng các từ tiếng Việt đợc đa ra
với t cách là từ tơng đơng với giới từ tiếng Nga hoặc tiếng Anh trong các từ điển
song ngữ có sự khác nhau về bản chất.
Có thể nêu thêm thí dụ về giới từ chỉ nguyên nhân trong tiếng Nga để
chứng minh cho nhận định trên. Trong từ điển Nga- Việt có rất nhiều giới từ chỉ
nguyên nhân. Bất cứ quyển từ điển Nga Việt nào ít nhất cũng có 7 giới từ cơ
bản chỉ nguyên nhân. Đó là các giới từ: , -, , với danh từ cách II,
, danh từ cách III, danh từ cách V.
Trong các từ điển Nga Việt 7 giới từ khác nhau đó đều có từ tiếng Việt
tơng đơng là vì. Từ điển không nêu đợc bản chất của mỗi giới từ Nga trong
hoạt động lời nói (thông qua ý nghĩa và các thí dụ trong từ điển). Chính vì thế
ngời Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn một trong bảy giới từ
đó khi thể hiện quan hệ nguyên nhân bằng tiếng Nga. Nếu diễn đạt sáu câu sau
bằng tiếng Nga thì phải sử dụng sáu giới từ chỉ nguyên nhân khác nhau và các
giới từ đó không thay thế cho nhau đợc.
1. Cô ấy học giỏi vì yêu tiếng Nga. 2. Cô ấy học giỏi vì đợc ngời yêu giúp
đỡ. 3. Cô ấy hạnh phúc vì yêu. 4. Cô ấy học kém vì yêu. 5. Cô ấy nghỉ học vì ốm.
6. Cố ấy học kém vì thiếu thời gian.
Theo các sách giáo khoa và giáo trình ngữ pháp tiếng Nga nh
. . 2000;
.
. 1984; Sáu câu tiếng Việt nêu trên sẽ đợc chuyển sang tiếng Nga nh sau:
14
1.3 Những hạn chế trong phơng pháp dạy học giới từ
tiếng Nga và tiếng Anh
15
Việc dạy học từ, nhất là giới từ tiếng Nga và tiếng Anh đã dựa trên cơ sở
các giáo trình, sách giáo khoa và từ điển song ngữ hiện có. Nh đã trình bày các
giáo trình, sách giáo khoa, các từ điển Nga - Việt và Anh - Việt về giới từ có
những hạn chế mang tính cơ bản và phổ biến, do đó phơng pháp dạy học giới
từ hiện nay không tránh khỏi những hạn chế. Trong quá trình dạy học từ nhất
là giới từ ngời dạy đã không chỉ ra đợc bản chất của mỗi giới từ, không đa ra đợc
các tiêu chí sử dụng mỗi giới từ mà chủ yếu dựa vào ghi nhớ máy móc, yêu cầu
học thuộc lòng, trong khi đó lại phải ghi nhớ qua nhiều trờng hợp ngoại lệ. (Thực
ra, nếu phát hiện đợc bản chất của các giới từ thì hầu nh không có ngoại lệ. Các
giới từ trong lời nói đều hoạt động theo những quy luật nhất định). Do phải ghi
nhớ máy móc quá nhiều nên khi sử dụng giới từ trong lời nói sinh viên thờng
mắc lỗi, thậm chí khi đã đợc sửa lỗi họ vẫn không hiểu tại sao đó là lỗi nên lại
mắc những lỗi tơng tự nh vậy.
Do không nắm đợc bản chất của mỗi giới từ, hơn nữa lại chịu ảnh hởng tiêu
cực của các từ điển song ngữ nên trong quá trình dạy học ngoại ngữ chúng ta
đã gán cho nhiều giới từ những ý nghĩa từ vựng độc lập mà bản thân chúng
không hề có. Điều đó làm cho việc dạy học giới từ thêm khó khăn, phức tạp
và hiệu quả thấp.
Thí dụ: Chúng ta thờng cho giới từ tiếng Nga và on tiếng Anh nghĩa
là Trên, ở trên. Giáo viên có thể hớng dẫn sinh viên luyên tập sử dụng giới từ
theo tình huống hoặc trả lời câu hỏi kiểu: e
Nông dân làng em thờng làm việc ở đâu? Hầu hết sinh viên
đã trả lời Họ làm việc trên cánh đồng làng
em. Sinh viên đã sử dụng sai giới từ. Tất nhiên giáo viên sẽ sửa lại
Hầu hết sinh viên không hiểu tại sao phải sử dụng giới từ mà không
phải là . Sự việc sẽ đơn giản nếu chúng ta chỉ ra cho sinh viên thấy rõ bản
chất của giới từ và . Trong tiếng Nga rất nhiều danh từ có thể kết hợp
Thực ra từ bằng của tiếng Việt tùy từng trờng hợp đợc chuyển thành một
trong bốn từ tiếng Anh là by, in, on with. Các từ by, in, on, with không thay
cho nhau đợc. Trong quá trình dạy học chúng ta đã không chỉ ra đợc bản chất
của bốn giới từ trên, không đa ra đợc tiêu chỉ sử dụng đối với mỗi giới từ. Chính
vì thế sinh viên thờng xuyên nhầm lẫn và sử dụng sai.
Hạn chế phổ biến và cơ bản nhất trong quá trình dạy học từ, nhất là giới
từ tiếng Anh là không chỉ ra đợc tiêu chí sử dụng đối với mỗi giới từ, không
luyện tập việc sử dụng giới từ dựa theo quy luật vận động của chúng trong hoạt
động lời nói.
17
Chơng II
Quan điểm cơ bản của triết học
Duy vật biện chứng và quá trình
dạy học ngoại ngữ
2.1 Quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
Quan điểm quan trọng, cơ bản, cốt lõi nhất của triết học Duy vật biện chứng
là: mọi sự vật hiện tợng đều vận động theo quy luật khác quan. Do đó muốn nắm
vững bất kỳ sự vật và hiện tợng nào trớc hết phải phát hiện đợc quy luật vận động
khách quan của chúng và hành động phù hợp với quy luật đó.
Giáo s, tiến sĩ triết học Trần Phúc Thăng (nguyên chủ nhiệm khoa Triết
Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: Quan điểm cơ bản của triết
học Duy vật biện chứng còn đợc thể hiện trong các quan điểm Triết học Hy Lạp
và ấn Độ cổ đại, triết học phơng Tây, thuyết số và mệnh, thuyết âm dơng của
Trung Quốc, thuyết Vô thờng, luật nhân quả của đạo Phật.
Nh vậy quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng: Mọi sự vật và
hiện tợng vận động theo quy luật khách quan, mang tính nhân loại.
Để tìm hiểu quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng đối với quá
trình dạy - học ngoại ngữ trớc hết cần tìm hiểu một số khái niệm cơ bản của triết
học Duy vật biện chứng.
2.1.1 Khái niệm sự vật và hiện tợng theo quan điểm triết học Duy vật
bản chất của sự vật ở chính sự vật, không thể tìm bản chất sự vật ở bên ngoài sự
vật. Khi kết luận về bản chất của sự vật cần tránh những nhận định chủ quan. Chỉ
có thể tìm ra bản chất của sự vật trên cơ sở nghiên cứu các hiện tợng.
2.1.2. Khái niệm vận động theo quan điểm của triết học Duy vật biện
chứng
Vận động là hoạt động biểu thị sự tồn tại của vật chất, bao hàm chuyển
động, biến đổi, phát triển.
Vận động là một phạm trù chỉ mọi sự biến đổi nói chung, từ sự thay đổi vị
trí đơn giản đến t duy. Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, là phơng thức
tồn tại của vật chất.
Vận động của vật chất là sự tự vận động. Bởi lẽ, nguồn gốc của sự vận động
này nằm ở ngay trong bản thân cấu trúc nội tại của vật chất.
Các hình thức vận động tơng ứng với trình độ nhất định của tổ chức vật
chất. Giữa các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức
vận động cao nẩy sinh trên cơ sở hình thức vận động thấp. Hình thức vận động
cao có sự khác biệt về chất và không thể quy về hình thức vận động thấp.
Đứng im là biểu hiện của một trạng thái vận động, đó là sự vận động trong
thăng bằng, trong sự ổn định tơng đối. Đứng im chỉ xảy ra trong một hình thức
vận động, trong một thời gian xác định, ngay trong thời gian đó cũng nảy sinh
những nhân tố dẫn đến phá vỡ sự đứng im.
19
2.1.3. Khái niệm quy luật theo quan điểm của triết học Duy vật biện chứng
Quy luật là mối liên hệ bản chất tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các
sự vật, hiện tợng, giữa các nhân tố tạo thành đối tợng, giữa các thuộc tính của
các sự vật cũng nh giữa các thuộc tính của cùng một sự vật, hiện tợng.
Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến, các quy luật có thể đợc chia thành
những quy luật riêng, những quy luật chung và những quy luật phổ biến.
Các quy luật riêng biểu hiện những mối liên hệ đặc trng cho một phạm vi
nhất định những hiện tợng cùng loại hoặc những thuộc tính vốn có chỉ của một
sự vật, một hiện tợng.
2.2 Quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
thể hiện trong ngôn ngữ và hoạt động lời nói
2.2.1 Tính sự vật thể hiện trong ngôn ngữ và hoạt động lời nói
- Theo triết học Duy vật biện chứng mọi sự vật đều có hai mặt: hình thức và
nội dung.
Ngôn ngữ và hoạt động lời nói cũng nh mỗi đơn vị, mỗi hiện tợng của ngôn
ngữ và hoạt động lời nói đều có hai mặt hình thức và nội dung. Hình thức chính
là âm thanh, ngữ điệu biểu hiện bằng chữ viết, các dấu ngắt câu.v.v Mặt nội
dung chính là các ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa câu.v.v Có thể lấy
đơn vị cơ bản của ngôn ngữ là từ làm thí dụ minh họa. Mặt hình thức của từ là
âm thanh biểu hiện bằng chữ viết. Mặt nội dung chính là ý nghĩa từ vựng và ý
nghĩa ngữ pháp.
- Mối quan hệ giữa các sự vật: Mọi sự vật chỉ có ý nghĩa trong một mối
quan hệ nhất định. Một sự vật có thể nằm trong nhiều mối quan hệ.
Trong ngôn ngữ đợc thể hiện nh sau:
Các từ kết hợp với nhau theo một mối quan hệ nhất định nh quan hệ chi
phối, quan hệ phù hợp, quan hệ đẳng lập tạo nên các loại cụm từ.
Từ có thể nằm trong nhiều mối quan hệ : quan hệ giữa từ và âm tiết, từ với
trọng âm từ, từ với trọng âm câu (trọng âm logic), quan hệ giữa từ với cụm từ,
quan hệ từ trong câu, từ trong văn bản.
Theo quan điểm triết học Duy vật biện chứng: sự vật mang tính khách quan,
sự vật là chính nó, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân
nào.
Ngôn ngữ và hoạt động lời nói, các hiện tợng, các đơn vị ngôn ngữ mang
tính khách quan. Thí dụ từ mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của bất cứ cá nhân nào. Chính vì lẽ đó xét đến cùng từ không giải thích
đợc. Thí dụ công trình xây dựng có mái, có tờng dùng để cho ngời ở trong
tiếng Việt đợc gọi là nhà (Trích từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học
2006). Tại sao lại gọi là nhà mà không là từ khác. Điều đó không ai giải thích
đợc. Tơng tự nh vậy, không ai giải thích đợc tại sao tiếng Anh là house, còn
động có mối liên hệ phát sinh nghĩa là hình thức vận động cao nảy sinh trên cơ
sở hình thức vận động thấp. Trong ngôn ngữ chúng ta nhận thấy từ hoạt động,
liên kết với nhau tạo thành câu. Câu liên kết tạo thành văn bản. Văn bản là hình
thức tồn tại của ngôn ngữ cao hơn câu. Câu ở cấp độ cao hơn từ.
2.2.3 Tính quy luật trong ngôn ngữ và hoạt động lời nói
Mối quan hệ giữa các hiện tợng ngôn ngữ nh mối quan hệ giữa các âm và
âm tiết để tạo nên từ, giữa các từ với nhau thành câu, mối liên hệ ấy mang tính
bản chất, phổ biến và khách quan. Trong hoạt động lời nói mối quan hệ giữa các
hiện tợng ngôn ngữ lặp đi lặp lại vô số lần. Nh vậy mối liên hệ giữa các hiện t-
ợng ngôn ngữ và hoạt động lời nói mang tính quy luật.
Ngôn ngữ là hiện tợng xã hội đặc biệt của con ngời, vì thế các quy luật
trong ngôn ngữ mang đặc điểm của quy luật xã hội. Điều đó thể hiện ở chỗ quy
luật ngôn ngữ không thể nảy sinh và tác động bên ngoài hoạt động có ý thức của
con ngời. Mặc dù vậy, các quy luật ngôn ngữ vẫn mang tính khách quan. Điều đó
22
có nghĩa là các quy luật ngôn ngữ không do bất cứ cá nhân nào sáng tạo ra,
không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân nào.
Thí dụ, trong tiếng Nga danh từ biến đổi theo giống, số, cách. Các biến đổi
đó mang tính quy luật. Nhng chắc chắc không ai có thể làm cho danh từ tiếng
Việt biến đổi về mặt hình thái, cho dù dới dạng đơn giản nhất. Nh vậy không ai
có thể sáng tạo ra quy luật biến đổi hình thái từ trong tiếng Việt.
T duy của con ngời bao giờ cũng hình thành, hoạt động dới một hình thức
ngôn ngữ nào đó. Không có t duy ngoài ngôn ngữ và cũng không có ngôn ngữ
nào không gắn với t duy. Chính vì thế quy luật trong ngôn ngữ mang những đặc
tính của quy luật t duy. Quy luật của ngôn ngữ cũng phản ánh mối liên hệ nội tại
của những khái niệm, những phạm trù, những phán đoán nhờ đó trong t tởng của
con ngời hình thành tri thức nào đó về các sự vật.
Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến, trong các ngôn ngữ cũng có những
quy luật chung.
Thí dụ: tính từ có thể kết hợp với danh từ làm rõ thêm tính chất của danh từ.
ngữ hoạt động theo quy luật nhất định, vấn đề tính khách quan trong ngôn ngữ
đã đợc đề cập tới. Tuy nhiên cần tìm hiểu sâu hơn vấn đề này.
Theo triết học Duy vật biện chứng: khách quan là cái tồn tại thực, không
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời.
Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội đăc biệt. Ngôn ngữ đã, đang và tiếp tục
tồn tại, phát triển trong xã hội loài ngời. Sự tồn tại và hoạt động của ngôn ngữ
không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ cá nhân nào. Không một ai có thể tạo ra
một ngôn ngữ mới để mọi ngời sử dụng.
Sự vật mang tính khách quan. Sự vật là chính nó. Ngôn ngữ cũng mang tính
khách quan. Ngôn ngữ là chinh nó.
Thí dụ: Đại từ nhân xng ngôi thứ hai là ngời nghe hoặc ngời đọc trực tiếp
tham gia hoạt động giao tiếp, trong tiếng Anh chỉ sử dụng duy nhất một từ
you. Điều đó rất thuận lợi cho ngời nớc ngoài học và sử dụng tiếng Anh.
Đối với ngời nớc ngoài vấn đề đại từ nhân xng tiếng Việt rất rắc rối và phức
tạp. Trong hoạt động lời nói rất khó, thậm chí không thể liệt kê hết các từ tiếng
Việt tơng đơng với từ you tiếng Anh. Dù có muốn, không ai có thể đa ra một
từ duy nhất chỉ đại từ nhân xng ngôi thứ hai trong tiếng Việt.
Mọi quy luật của ngôn ngữ đều mang tính khách quan, tức là quy luật nội
tại bản thân của chính mỗi ngôn ngữ, quy luật ấy không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con ngời. Thí dụ: quy luật hoạt động của thể động từ trong tiếng
Nga rất phức tạp. Thể động từ gây rất nhiều khó khăn cho ngời nớc ngoài học và
sử dụng tiếng Nga. Tuy thế, không ai có thể làm cho quy luật hoạt động của thể
động từ tiếng Nga đơn giản hơn và không ai có thể giải thích tại sao thể động từ
tiếng Nga lai phức tạp nh vậy.
Qua việc tìm hiểu, phân tích, chúng ta có thể khẳng định: quy luật cơ bản
của triết học Duy vật biện chứng thể hiện đầy đủ trong ngôn ngữ và hoạt động
lời nói. Do đó muốn nắm vững bất cứ ngôn ngữ nào trớc hết phải phát hiện ra các
quy luật vận động khách quan của chúng và hành động phù hợp với quy luật đó.
24
2.3 Dạy học ngoại ngữ xét theo quan điểm cơ bản của
là các khái niệm. Khái niệm là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua lăng
kính chủ quan.
Tuy nhiên, trong hầu hết các ngôn ngữ đều có những lớp từ không mang
những đặc tính cơ bản của từ vựng đã đợc các nhà ngôn ngữ chỉ ra. Đó là từ loại
thán từ. Có thể xem xét thán từ ôi trong tiếng Việt.
25