quan điểm cơ bản của triết học duy vật biện chứng và quá trình dạy học ngoại ngữ - Pdf 10

Quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
và quá trình dạy - học ngoại ngữ.
Khoa Hiệp Vụ
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Nga
1. Quan điểm cơ bản của Triết học Duy vật biện chứng.
Quan điểm quan trọng, cơ bản, cốt lõi nhất của triết học Duy vật biện
chứng đó là: Mọi sự vật và hiện tợng đều vận động theo quy luật khách quan.
Do đó muốn nắm vững bất kỳ sự vật và hiện tợng nào trớc hết phải phát hiện
đợc quy luật vận động khách quan của chúng và hành động phù hợp với quy
luật đó. Theo Giáo s, Tiến sỹ triết học Lê Phúc Thăng (Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh): Quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng
đợc thể hiện trong các quan điểm triết học và tôn giáo khác nhau. Đó là:
Triết học Hy Lạp và ấn Độ cổ đại, Triết học Phơng Tây, thuyết số và mệnh,
thuyết âm dơng của Trung Quốc, thuyết vô thờng, luật nhân quả của đạo
Phật.
Nh vậy quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng: Mọi sự vật
và hiện tợng vận động theo quy luật khách quan, mang tính nhân loại.
Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội, đơng nhiên ngôn ngữ phải vận động
theo quy luật khách quan. Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, từ không thể
không vận động theo quy luật khách quan. Nếu ngôn ngữ không vận động đ-
ơng nhiên ngôn ngữ không tồn tại. Trong thực tế không ít sinh ngữ do không
vận động, không đợc sử dụng trong đời sống đã biến thành từ ngữ trong đó
có tiếng Latinh và tiếng Hán Nôm của chúng ta.
Trong các quan điểm cơ bản về từ vựng các nhà ngôn ngữ không đề cập
gì đến quy luật vận động khách quan của từ. Trong các công trình về từ vựng
các tác giả cũng không nói gì đến quy luật vận động khách quan của từ. Đó
chính là một hạn chế lớn nếu nh không nói là cơ bản.
Các nhà ngôn ngữ, nhất là các nhà ngữ pháp đã mô tả những đặc điểm
cơ bản của từ loại và khả năng kết hợp của chúng. Thí dụ: động từ chỉ hành
động hoặc quá trình, động từ có thể đòi hỏi danh từ có hoặc không có giới từ
làm tân ngữ Đó không phải là quy luật vận động của từ. Đó chính là các

ngữ cha đầy đủ, không bao quát hết các loại từ.
- Căn cứ theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ có thể hiểu và nắm vững
các từ nh sau: Thí dụ: từ rob và hear trong tiếng Anh, về mặt hình thức
đó là cách phát âm, đọc và viết từ rob và hear, về mặt nội dung đó là ý
nghĩa từ vựng (tơng đơng trong tiếng Việt) là cớp, ăn cớp và nghe thấy.
ý nghĩa ngữ pháp: rob - động từ chia theo quy tắc, đòi hỏi tân ngữ trực
tiếp.
Động từ hear: bất quy tắc, đòi hỏi tân ngữ trực tiếp. Khi cần diễn dạt
bằng tiếng Anh: Tôi nghe thấy cô ấy nói Chúng ăn cớp một triệu đô la của
ngân hàng phần lớn sinh viên Việt Nam đã nói: (I heard (that) she said
"They robbed one million dollars of (from) the bank")
Câu tiếng Anh trên sai. Lỗi sai mang tính cơ bản, bản chất. Những lỗi
kiểu nh vậy mang tính phổ biến đối với ngời Việt Nam. Sở dĩ ngời Việt sai
vì:
2
Không hiểu đầy đủ mặt hình thức của sự vật, bỏ qua tính chất cơ bản,
quan trọng và bản chất về hình thức của sự vật, trong trờng hợp này là của từ
(cho dù chúng ta đã hiểu đúng về từ theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ)
- Theo quan điểm của triết học Duy vật biện chứng Bất kỳ sự vật nào
cũng có hình thức bên ngoài nào đó, nhng hình thức đợc chủ nghĩa Duy vật
biện chứng nói đến trong cặp phạm trù Nội dung và Hình thức không phải là
hình thức bên ngoài mà là hình thức bên trong của sự vật, tức là cơ cấu bên
trong của nội dung. Trích từ "Tìm hiểu Triết học Mác- Lê Nin" - NXB Lý
luận chính trị 2005 trang 49.
- Rõ ràng về mặt hình thức của từ các nhà ngôn ngữ mới quan tâm đến
hình thức bên ngoài tức là âm và chữ viết, cha quan tâm đến cơ cấu bên trong
của nội dung.
Trong cuốn "Pratical English usage" Nhà xuất bản "Oxford University
Press" trang 241: "Sau "hear" đòi hỏi tân ngữ trực tiếp, sử dụng động từ
nguyên dạng không có "to" khi nghe thấy toàn bộ hành động, sử dụng động

- . Do đó không chú ý tìm hiểu mối quan hệ logic ngữ nghĩa của
chúng, không phân biệt đợc sự khác nhau giữa chúng tức là không phân biệt
đợc sự khác nhau khi dùng cách 2 và cách 4.
- Khi dạy - học ngoại ngữ không chú ý đến mô hình cấu trúc và quy luật
vận động của các ngôn ngữ, trớc hết là của từ. Điều này thể hiện trong dạy -
học tiếng Anh.
- Đã chú ý đến mô hình cấu trúc của các hiện tợng ngôn ngữ (Tuy cha
thật đầy đủ), nhng không chú ý đến quan hệ logic ngữ nghĩa trong hệ thống,
đến quy luật vận động khách quan. Điều này thể hiện trong Tiếng Nga: Ngời
học nắm vững hệ thống biến đổi của các loại từ, nắm vững cách của danh từ
mà động từ đòi hỏi, nhng do không nắm vững quan hệ logic ngữ nghĩa mang
tính quy luật tiềm ẩn trong từ nên đã sử dụng từ sai, dẫn đến đặt câu sai, tình
huống giao tiếp sai. Những trờng hợp nh vậy rất nhiều. Dới đây là thí dụ
minh họa:

.
.
. .
.
.

2.3. Dạy - học ngoại ngữ theo quan điểm cơ bản triết học Duy vật biện
chứng.
2.3.1 Dạy - học từ theo quan điểm cơ bản của triết học Duy vật biện chứng.
- Cấu trúc bên trong tiềm ẩn của từ cần đợc phát hiện và mô hình hóa.
- Cần hiểu quan hệ logic ngữ nghĩa chứa đựng trong mô hình cấu trúc
của từ.
- Ngời học cần hiểu, ghi nhớ, nắm vững các mô hình cấu trúc cả về hình
thức và nội dung.
4

- Việc dạy - học giới từ hiện nay chủ yếu dựa vào ghi nhớ máy móc.
- Vì không nắm đợc quy luật hoạt động của giới từ trong nhiều trờng
hợp ngời học thờng phức tạp hóa cách diễn đạt bằng tiếng Nga hoặc tiếng
Anh, mà cách diễn đạt đó ngời bản ngữ ít khi sử dụng.
5
Thí dụ: I met the girl who was wearing black shoes hoặc He loves the
girl who has blue eyes.
Thực ra ngời Anh thờng nói: I met the girl in black shoes hoặc He loves
the girl with blue eyes.
Dạy - học giới từ tiếng Nga và tiếng Anh theo quan điểm cơ bản của
triết học Duy vật biện chứng.
- Tìm hiểu quy luật vận động khách quan của giới từ trong tiếng Nga
và tiếng Anh.
- Quy luật vận động khách quan của giới từ tiếng Nga, Anh, Việt có bản
chất khác nhau, có thể chứng minh thông qua hệ thống giới từ thể hiện các
quan hệ logic - ngữ nghĩa khác nhau nh quan hệ không gian, thời gian, mục
đích
Thí dụ: quan hệ không gian bao gồm địa điểm và phơng hớng. Khi xét
các mối quan hệ không gian ngời Việt lấy con ngời làm trung tâm, ngời Nga
và Anh không lấy con ngời làm trung tâm mà xét mối quan hệ thực tại khách
quan giữa các vật, hoặc sự vật với nhau.
Ngời Việt nói: "Đèn treo trên trần nhà" vị trí của cả "trần nhà" và
"ngọn đèn" đều cao hơn con ngời, cao hơn ngời nói nên tiếng Việt dùng từ
"trên" để chỉ vị trí cao hơn ngời nói. Tiếng Anh "The lamp hangs under the
ceiling" tiếng Nga ", ".
Trong tiếng Nga và tiếng Anh khi xét các mối quan hệ không gian,
không lấy con ngời, không lấy ngời nói làm trung tâm mà chỉ xét mối quan
hệ khách quan giữa các vật. Vì "ngọn đèn" ở vị trí thấp hơn so với "trần nhà"
nên ngời Anh dùng từ "under" và ngời Nga dùng từ "" với danh từ cách 5
để chỉ vị trí thấp hơn, vị trí phía dới.

giới từ "on" khi diễn đạt bằng tiếng Anh trong những trờng hợp sau: "trên
trời, trên cánh đồng, bơi trên sông, nhà trên núi, hoa trên cây, trên phố, trên
quảng trờng.
Các trờng hợp trên phải sử dụng giới từ "in". Sinh viên sẽ không hiểu tại
sao các trờng hợp trên lại dùng "in" mà không dùng "on". Họ thờng xuyên sử
dụng giới từ sai mà không biết họ đã sai. Việc dạy - học giới từ, việc sử dụng
giới từ hiện nay rất khó khăn, sinh viên thờng xuyên mắc lỗi và khi đã đợc
sửa vẫn không hiểu tại sao đó là lỗi nên vẫn thờng xuyên mắc lại các lỗi đó.
- Vì không hiểu, không nắm vững quy luật hoạt động của giới từ tiếng
Anh nên sinh viên rất lúng túng, khi phải chuyển sang tiếng Anh những cụm
từ chỉ địa điểm trong tiếng Việt nh: trên sân, trong sân, ngoài sân, dới sân
- Phát hiện các quy luật vận động khách quan của giới từ trong
tiếng Nga và tiếng Anh.
- Theo quan điểm của triết học Duy vật biện chứng: hiện tợng là phạm
trù triết học dùng để chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. Nh vậy
thông qua nhiều hiện tợng chúng ta sẽ nhận ra bản chất.
7
Nói đến bản chất của sự vật là nói đến tính quy luật vận động và phát
triển của sự vật.
Quy luật là mối quan hệ bản chất tất nhiên phổ biến và lặp đi lặp lại
giữa các sự vật và hiện tợng, giữa các thuộc tính của cùng một sự vật, hiện t-
ợng.
- Nh vậy thông qua nhiều hiện tợng ngôn ngữ lặp đi lặp lại có thể khái
quát hóa thành bản chất chung và rút ra quy luật.
- Thí dụ: Trong tiếng Anh chúng ta hay gặp từ "in" trong các tình
huống, trong các cụm từ sau: The man in a red tie, the girl in sunglasses, in
black shoes, in a red hat, in Japanese watch, in a gold ring, in a white shirt.
Có thể rút ra một quy luật hoạt động của từ in trong lời nói: khi diễn tả các
trang phục, đồ trang sức mang trên ngời, tiếng Anh sử dụng giới từ "in".
Trong trờng hợp này ngời Nga dùng giới từ "" với danh từ cách 6.

Thí dụ: Sau khi đa ra kết luận: giới từ "in" đi với danh từ là địa điểm có
đờng ranh giới phân biệt, có thể cho sinh viên nhiều hình thức luyện tập:
Where do you see many stars? (in the sky). Where do farmers work? (in a
field)
- Cần chú ý những trờng hợp chuyển di tiêu cực của tiếng Việt ảnh hởng
nhiều đến việc sử dụng giới từ tiếng nớc ngoài. Thí dụ: Giới từ "on" thể hiện
địa điểm chỉ sử dụng khi một vật ở trên bề mặt của một vật khác có tiếp xúc,
vị trí tĩnh. Nếu biết nh vậy sinh viên sẽ dễ dàng tránh đợc rất nhiều lỗi khi sử
dụng giới từ "on" trong tiếng Anh. Họ sẽ không sử dụng giới từ "on" khi diễn
đạt bằng tiếng Anh, "trên trời, trên cánh đồng, bơi trên sông, hoa trên cây, đi
trên phố, trên quảng trờng, vết nứt trên tờng, bay trên thành phố, trên sân
bay, trên sân vận động"
Nhiều trờng hợp tởng nh rất khó trong tiếng Việt lại dễ dàng chuyển
sang tiếng Anh. Thí dụ: sách ở trên bàn, sách ở ngoài bàn, sách ở dới bàn
(tầng một) đều sử dụng giới từ "on".
Mối quan hệ hữu cơ giữa việc nắm vững quy luật vận động khách
quan của giới từ và hành động phù hợp với quy luật đó thông qua quá
trình dạy - học theo phơng hớng thực hành giao tiếp.
Dạy - học giới từ theo quy luật vận động khách quan trong hệ thống
các quan hệ logic - ngữ nghĩa
* Các giới từ có thể biểu hiện:
- Quan hệ không gian
- Quan hệ thời gian
- Quan hệ công cụ và phơng thức hành động
- Quan hệ định tính
- Quan hệ mục đích
- Quan hệ nhân quả
9
- Quan hệ nhợng bộ
- Quan hệ điều kiện

nâu rất đẹp" hoặc "Tôi mua chiếc bàn to bằng gỗ hình tròn rất đẹp màu nâu"
hoặc "Tôi mua chiếc bàn to rất đẹp hình tròn màu nâu bằng gỗ". Tiếng Anh
chỉ có thể nói "I bought a beautiful large round brown wooden table"
Tiếng Việt có thể nói: "Anh ấy giàu và thông minh" hoặc "Anh ấy
thông minh và giàu. Tiếng Anh chỉ có thể nói "He is rich and intelligent"
Qua thí dụ trên có thể nhận thấy quy luật hoạt động của tính từ tiếng
Anh khác xa so với quy luật hoạt động của tính từ trong tiếng Việt. Nếu
10
không nắm đợc quy luật hoạt động của các loại tính từ trong tiếng Anh, khi
giao tiếp bằng tiếng Anh ngời Việt sẽ sử dụng quy luật hoạt động tính từ
trong tiếng Việt áp đặt vào tiếng Anh và đơng nhiên tạo ra những câu tiếng
Anh không đúng.
- Trong hầu hết các giáo trình tiếng Anh, nhất là giáo trình thực hành
giao tiếp của các tác giả trong và ngoài nớc không nói gì đến quy luật hoạt
động của tính từ, và đơng nhiên không có bài tập nhằm giúp ngời học nắm
vững sử dụng các tính từ theo quy luật hoạt động của chúng.
- Cần giúp ngời học nắm vững quy luật hoạt động của tính từ trong
tiếng Anh.
- Cần có hệ thống các bài tập nhằm giúp ngời học luyện tập theo quy
luật đó.
- Nêu rõ một số quy luật hoạt động của tính từ trong tiếng Anh.
- Một số dạng bài tập minh hoạ.
- Trong các giáo trình thực hành giao tiếp tiếng Anh có rất nhiều loại
hình bài tập rèn luyện các cách đặt câu hỏi bằng tiếng Anh. Tuy vậy sinh
viên Việt Nam thờng hay mắc lỗi.
- Chuyển di tiêu cực từ tiếng Việt ảnh hởng rất nhiều đến cách đặt câu
hỏi bằng tiếng Anh của ngời Việt. Thí dụ: Tiếng Việt có thể nói: "Hôm qua
anh cùng An đi đâu?", "Anh cùng An hôm qua đi đâu?" hoặc Anh cùng Anh
đi đâu hôm qua.
- Vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều nếu phát hiện, nắm vững và hành động

đến quy luật vận động khách quan của ngôn ngữ mà trớc hết là quy luật vận
động khách quan của từ. Tức là chúng ta phải nắm vững cái bản chất không
thay đổi để sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp luôn biến hoá và
thay đổi không ngừng. Nh vậy tình huống giao tiếp là đích của việc dạy - học
ngoại ngữ. Để đạt đợc mục đích đó trớc hết phải nắm vững và vận dụng tốt
các quy luật hoạt động khách quan của từ.
Những hạn chế trong phơng pháp dạy học ngoại ngữ hiện nay và giải
pháp khắc phục dựa trên cơ sở nắm vững quy luật hoạt động của từ đợc thể
hiện trong đề tài khoa học mã số N.00.04 với tiêu đề Khắc phục lỗi sử dụng
giới từ tiếng Nga và tiếng Anh bằng phơng pháp dạy - học giới từ theo quan
niệm logic ngữ nghĩa. Đề tài đã đợc nghiệm thu tháng 4 2001 và đợc
đánh giá tốt.
Vì trình độ và khả năng còn nhiều hạn chế chúng tôi cha thể giải quyết
vấn đề sâu sắc và triệt để hơn, cha thể đa ra các giải pháp khắc phục cụ thể
và hiệu quả hơn trong nhiều lĩnh vực. Chúng tôi rất mong muốn nhận đợc sự
giúp đỡ của các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp trong toàn trờng.
Với đội ngũ các nhà khoa học đầy năng lực hiện có, với đội ngũ giáo
viên giầu kinh nghiệm và năng lực chúng tôi tin rằng trờng ta có thể giải
quyết đợc nhiều hạn chế trong quá trình dạy - học ngoại ngữ hiện nay, có thể
đa ra những quan điểm khoa học mới trong lĩnh vực ngôn ngữ nhất là trong
dạy học ngoại ngữ.
Những quan điểm mới, những giải pháp khắc phục không chỉ có giá trị
trong quá trình dạy học ngoại ngữ trên đất nớc chúng ta.
Tài liệu tham khảo
1. . 1989.
. . .
12
2. Hornby. 1986. Oxford Advanced Leaner’s Dictionay of Current English.
Oxford University Press.
3. NguyÔn Quang. 2001. Mét sè vÊn ®Ò giao tiÕp vµ giao tiÕp v¨n ho¸.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status