Chính sách thuế đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 10

Chính sách thuế đối với các chủ thể trên thị
trường chứng khoán Việt Nam

Vũ Trọng Hiếu

Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Tài chính ngân hàng; Mã số: 60 34 20
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Sơn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu các chính sách về thuế đối với thị trường chứng khoán. Phân tích
những tồn tại của chính sách thuế đối với chứng khoán trong thời gian qua áp dụng ở Việt
Nam. Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với chứng khoán.

Keywords: Tài chính ngân hàng; Chính sách thuế; Thị trường chứng khoán

Content
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua hành trình gần 12 năm phát triển với vai
trò quan trọng là công cụ thu hút vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể
trong nền kinh tế. Trong quan điểm phát triển thị trường được nêu tại Quyết định 252/QĐ-TTg
ngày 1 tháng 3 năm 2012 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện quản lý bằng công cụ pháp luật, có
các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát triển ổn định, vững chắc;
phát huy vai trò của các tổ chức tự quản, hiệp hội nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và
khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán’’
Qua gần 12 năm hình thành và phát triển, các chính sách về thuế áp dụng cho các chủ thể
tham gia TTCK bước đầu đã đáp ứng là công cụ điều chỉnh đối với thị trường, góp phần đảm bảo
thị trường vận hành trơn trôi chảy. Sau một thời gian vận hành, thị trường chứng khoán đã có

trên báo chí thời gian qua để đưa ra quan điểm độc lập về chính sách thuế. Trên cơ sở đó luận
văn có hy vọng sẽ đóng góp ý kiến để hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán
Việt Nam trong thời gian tới.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Nội dung của đề tài gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan về thị trường chứng khoán và chính sách thuế đối với thị trường
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện chính sách thuế đối với thị trường chứng khoán Việt Nam.

CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TTCK VÀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI TTCK
1.1. Tổng quan về thị trƣờng chứng khoán
1.1.1. Khái quát chung
1.1.1.1. Khái niệm: Thị trường chứng khoán được định nghĩa theo từ điển tiếng Anh
Longman Dictionary Business English, như sau: một thị trường có tổ chức là nơi các chứng
khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định. Tại điều 6 Luật chứng khoán số
70/2006/QH11 ngày 29/06/2006 thì thị trường chứng khoán được định nghĩa là địa điểm hoặc
hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán.
1.1.1.2. Phân loại thị trường chứng khoán
Phân loại theo hàng hoá của thị trƣờng chứng khoán
Thị trường trái phiếu: là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó
là các trái phiếu.
Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là
các cổ phiếu.
Thị trường các công cụ phái sinh.
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Thị trường sơ cấp: Thị trường sơ cấp là thị trường nơi các chứng khoán được phát hành
và bán cho những người mua đầu tiên (vì vậy còn được gọi là thị trường phát hành).
Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những
chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài

Các ngân hàng thương mại (NHTM)
Cơ quan quản lý và giám sát các hoạt động thị trƣờng chứng khoán
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do Chính phủ của các nước thành lập với mục đích
bảo vệ lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho TTCK hoạt động lành mạnh, an toàn và phát
triển bền vững.
Các tổ chức có liên quan: Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán; Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán; các công ty đánh giá hệ số tín
nhiệm.
1.1.3. Các loại hàng hóa trên thị trƣờng chứng khoán
1.1.3.1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc
vốn của một công ty cổ phần.
Cổ phiếu gồm 2 loại chính: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi
1.1.3.2. Trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay
tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường
là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả cho khoản cho vay ban đầu khi nó đáo
hạn.
Nếu căn cứ vào tính chất có thể chia trái phiếu ra làm bốn loại: Trái phiếu vô danh, Trái
phiếu ghi danh, Trái phiếu chính phủ, Trái phiếu công ty
1.1.3.3. Chứng chỉ quỹ đầu tƣ:
Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với
một phần vốn góp trong quỹ đại chúng. Quỹ đại chúng bao gồm hai loại là quỹ đóng và quỹ mở
1.1.3.4. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy
theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác.
1.1.3.5. Các chứng khoán phái sinh: Quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng kỳ hạn,
hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn
1.2. Chính sách thuế đối với thị trƣờng chứng khoán

- Tính minh bạch
- Tính công bằng
1.2.2. Chính sách thuế đối với chủ thể tham gia TTCK
a. Chủ thể phát hành hay chủ thể đi vay .
Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoán trên thị
trường sơ cấp. Thuộc loại này có: Chính phủ, các cơ quan Chính phủ, các tổ chức tài chính, các
doanh nghiệp và các công ty cổ phần. Trong số đó chủ yếu là Chính phủ và các công ty cổ phần.
Chính sách thuế đối với pháp nhân kinh doanh là thuế TNDN và thuế GTGT ngoài ra chủ
thể này còn có nghĩa vụ thu thuế khấu trừ tại nguồn đối với lãi tiền vay hoặc lợi tức cổ phần.
Chủ thể là pháp nhân không kinh doanh như Nhà nước phát hành trái phiếu, công trái thì
không phải thực hiện các nghĩa vụ thuế. Đơn vị khi chi trả lãi cho tổ chức hoặc cá nhân có nghĩa
vụ thuế khấu trừ tại nguồn.
b. Chủ thể đầu tƣ hay chủ thể cho vay
Chủ thể đầu tư thành hai loại: Nhà đầu tư cá nhân và Các tổ chức đầu tư: các quỹ hưu
bổng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm, các Ngân hàng thương mại, các công ty đầu tư đa
quốc gia, các quỹ tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ …
Chính sách điều tiết đối với các chủ thể đầu tư là TNDN đối với các tổ chức đầu tư và
thuế TNCN đối với nhà đầu tư cá nhân cụ thể:
Chính sách thuế đối với cổ phiếu và trái phiếu
Cổ tức là khoản thu nhập được chia từ thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập. Cổ
tức do bị đánh thuế ở cấp công ty nếu chia lại cho cổ đông lại đánh thuế thì mức độ điều tiết đối
với khoản thu nhập này quá nặng, các cá nhân sẽ cân nhắc lựa chọn hình thức đầu tư dưới dạng
góp vốn cổ phần hay cho vay vốn.
Lãi từ trái phiếu được coi là khoản tiền trả cho việc sử dụng vốn vay dưới bất kỳ hình
thức nào. Tổ chức cá nhân kinh doanh khi chi trả lãi tiền đi vay được hạch toán là khoản chi phí
kinh doanh vì vậy khoản thu nhập này đối với bên cho vay chưa bị đánh thuế ở cấp độ công ty.
Bên cho vay có thu nhập nên phải chịu thuế thu nhập.
Đối với thuế GTGT nhiều nước không áp dụng vì đây là hình thức đầu tư gián tiếp không
xác định chủ thể kinh doanh, mặt khác khó xác định giá trị tăng thêm để làm căn cứ tính thuế.
Chủ thể trung gian

Tuỳ theo từng nước mà có các mức miễn giảm thuế khác nhau.
Thuế đánh vào lãi vốn từ giao dịch chứng khoán:
Đối với thuế lãi vốn liên quan đến chứng khoán, quy định của Hàn Quốc là không đánh
thuế đối với đối tượng là cổ đông nhỏ giao dịch cổ phiếu niêm yết, nhưng lại đánh thuế đối với
cổ đông nhỏ giao dịch chứng khoán chưa niêm yết. Chính sách này thể hiện sự ưu đãi rất lớn của
Hàn Quốc nhằm khuyến khích và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, nhưng lại thể
hiện sự nghiêm ngặt và hạn chế trong việc phát triển tự do. Đây là một nét thể hiện được vai trò
của thuế là một công cụ nhằm khuyến khích hay hạn chế phát triển thị trường và là một trong
những biện pháp mà trong chính sách thuế của Việt Nam nên xem xét áp dụng.
Thuế chuyển nhượng chứng khoán:
Thuế chuyển nhượng cổ phiếu: Tại Hàn Quốc thuế suất đánh vào lãi thu được từ giao
dịch các cổ phiếu trên sàn thường thấp hơn so với các cổ phiếu giao dịch ngoài sàn. Thuế chuyển
nhượng các hợp đồng tương lai được áp dụng tại Trung Quốc cũng mở ra một hướng mới cho
Việt Nam khi TTCK dự kiến sẽ giao dịch các sản phẩm mới này, khi đó việc đánh thuế là cần
thiết.
Thuế chuyển nhượng đối với chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc quy
định thấp hơn trên thị trường Kosdaq và đặt biệt thấp hơn nhiều so với thị trường tự do. Đồng
thời, nhà nước cũng tính áp dụng mức thuế suất là 0,5% trên giá trị giao dịch đối với chứng
khoán niêm yết mà được giao dịch trên thị trường tự do nhằm hạn chế việc giao dịch trên thị
trường này.
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập liên quan đến chứng khoán được đánh theo đối tượng là người cư trú và
người không cư trú tại nhưng việc đánh thuế không có sự phân biệt đáng kể giữa hai đối tượng
này
Về thuế thu nhập doanh nghiệp, tuỳ theo mỗi nước có những mức thuế suất khác nhau và
có một số doanh nghiệp thuộc dạng được ưu đãi thuế, điển hình là các công ty đã niêm yết.
Không chỉ công ty niêm yết được ưu đãi thuế mà cổ đông của công ty đó cũng nhận được những
ưu đãi về thuế. Đối với doanh nghiệp nước ngoài cũng được xem xét miễn giảm trong một số
trường hợp và thông thường các nước thường ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhau để
tránh đánh thuế hai lần với doanh nghiệp nước ngoài.

khoán chia lợi tức cho các nhà đầu tư thì phần lợi tức được chia của tổ chức đầu tư (không phân
biệt tổ chức đầu tư trong nước hay tổ chức đầu tư nước ngoài) phải chịu thuế TNDN theo thuế
suất thuế TNDN.
 Đối với tổ chức niêm yết trên SGDCK:
Trước năm 2007, các tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết lần đầu tại Trung
tâm giao dịch chứng khoán được giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực
hiện niêm yết. Từ 2007 trở đi, doanh nghiệp niêm yết lần đầu không còn được hưởng ưu đãi thuế
TNDN
 Đối với Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán
Khi các đơn vị này chính thức chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên thì việc nộp thuế TNDN sẽ áp dụng như đối với các doanh nghiệp khác, với mức thuế suất
hiện hành là 25%.
 Đối với các tổ chức khác bao gồm các tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc
có thu nhập phát sinh tại Việt Nam; quỹ đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài được thành lập
theo pháp luật nước ngoài, không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam nhưng có mở tài khoản đầu
tư chứng khoán tại Việt Nam. Các đơn vị này nộp thuế chuyển nhượng chứng khoán, trái phiếu
(trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế) sẽ áp dụng mức thuế suất 0,1% trên doanh thu bán chứng
khoán, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại thời điểm chuyển nhượng. Đối với thu nhập từ cổ tức thì
không phải chịu thuế;
2.2.3. Về thuế Thu nhập cá nhân:
Bắt đầu từ ngày 1/1/2009 khi Luật thuế Thu nhập cá nhân có hiệu lực thì nhà đầu tư cá
nhân trong nước và nước ngoài sẽ bị đánh thuế thu nhập đối với cổ tức, trái tức, thu nhập từ
chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, thu nhập từ nhận quà
tặng là chứng khoán. Cụ thể như sau:
Đối với cá nhân cư trú
Thuế suất đối với thu nhập từ đầu tư vốn áp dụng theo biểu thuế toàn phần với thuế suất
là 5%
Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán sẽ là 20% thu nhập từ chuyển
nhượng chứng khoán; hoặc 0,1% trên giá trị chuyển nhượng (giá trị bán)
Đối với cá nhân không cư trú:

bán chứng khoán, nhưng khi đầu tư vào công ty không đại chúng thì chịu mức thuế khoán là
25% trên chênh lệch giữa giá trị mua và giá trị bán.
Về chính sách thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:
Hiện tại, thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài không
phải nộp thuế. Đây là chính sách đúng đắn, cần duy trì nhằm thu hút luồng vốn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam.
2.3.2. Thuế đối với Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Các Quỹ tại Việt Nam thời gian qua không phát triển được do chính sách thuế cho Quỹ
đầu tư quá cao, cao hơn rất nhiều so với các hình thức đầu tư chứng khoán trực tiếp không thông
qua Quỹ. Nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư cá nhân (những nhà đầu tư góp vốn nhiều nhất)
phải chịu nghĩa vụ thuế cao hơn rất nhiều so với việc họ trực tiếp đầu tư và như vậy công ty quản
lý quỹ đầu tư sẽ không có điều kiện huy động được vốn.
2.3.3. Thuế đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán
Trong 4 năm qua, thị trường chứng khoán đã suy giảm mạnh ở tất cả các chỉ số. Hầu hết
các công ty chứng khoán thua lỗ nặng và có nguy cơ phá sản, thâu tóm, sát nhập
Một vấn đề khó khăn đối với việc tính và thu thuế đối với công ty chứng khoán là xác
định chính xác thu nhập của hoạt động môi giới chứng khoán chưa niêm yết. Việc trích lập dự
phòng giảm giá đầu tư chứng khoán chưa niêm yết cũng chưa có hướng dẫn cụ thể để có thể thực
hiện đúng theo các văn bản pháp luật.
Thuế đối với tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán
Trước đây các tổ chức có chứng khoán niêm yết lần đầu, tổ chức đăng ký giao dịch
chứng khoán lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán được giảm 50% số thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết.
Hiện tại, các tổ chức phát hành và thực hiện niêm yết chứng khoán lần đầu trên thị trường
chứng khoán sẽ không được hưởng ưu đãi gì về thuế nữa và chịu sự điều chỉnh của Luật thuế
TNDN với thuế suất 25% như các doanh nghiệp khác
2.4. Đánh giá chính sách thuế đối với TTCK Việt Nam thời gian qua
2.4.1. Thành công
- Chính sách thuế đối với TTCK có các văn bản hướng dẫn riêng giúp các chủ thể
tham gia thị trường dễ dàng nắm bắt và thực hiện đúng các quy định của pháp luật thuế về chứng

3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế đối với TTCK
3.2.1. Thuế giá trị gia tăng
Luật thuế GTGT cần bổ sung thêm các nghiệp vụ của công ty chứng khoán được Bộ Tài
chính cho phép thực hiện. Đó là các nghiệp vụ phổ biến tại các tổ chức cung cấp dịch vụ và được
pháp luật cho phép thực hiện vì vậy việc bổ sung thêm là cần thiết để người nộp thuế có cơ sở để
kê khai thuế.
Trong thời gian tới, Luật cần thu hẹp diện đối tượng không chịu thuế nhằm tạo điều kiện
cho việc tính thuế, khấu trừ thuế được liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh
doanh; Đồng thời áp dụng một mức thuế suất chung để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và
đơn giản hơn trong việc tính thuế.
3.2.2. Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng chứng khoán
Luật không nên quy định thời hạn đăng ký phương pháp kê khai thuế mà để nhà đầu tư
chủ động căn cứ vào tình hình kinh doanh cuối năm để lựa chọn hình thức khai thuế hợp lý nhất
cho mình.
Đối với phương pháp tính thuế, theo kinh nghiệm của các nước như Hàn Quốc, Trung
Quốc, Singapore thì thông thường có loại thuế riêng áp dụng đối với thu nhập có được từ
chuyển nhượng chứng khoán và thường tính theo một tỷ lệ thuế suất nhân với doanh số bán.
Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện tại, Chính phủ chưa nên đánh thuế với thu
nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.
3.2.3. Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhƣợng vốn
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn nên áp dụng cho thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp tại
doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty liên doanh. Đối với nhà đầu tư cá nhân thu nhập
từ chuyển nhượng vốn cũng cần phải để cho nhà đầu tư được lựa chọn một trong hai mức thuế
suất 0,1% trên giá thực chuyển nhượng hoặc mức thuế suất 20% trên chênh lệch giữa giá thực tế
chuyển nhượng với giá mua và các chi phí liên quan đến chuyển nhượng như chuyển nhượng
chứng khoán mà không bị ràng buộc về điều kiện cư trú.
3.2.4. Thuế đối với thu nhập từ đầu tƣ vốn
Cần phân biệt thu nhập của chứng khoán do các công ty hay Chính phủ phát hành, thời
gian nắm giữ chứng khoán lâu thì điều tiết thuế thấp hơn so với chứng khoán có thời gian chuyển
nhượng ngắn nhằm hướng nhà đầu tư theo hướng dài hạn, góp phần làm TTCK phát triển ổn

giá trị gia tăng với những hoạt động mang tính chất phục vụ thị trường nên được ưu đãi không
thu thuế. Đối với thu nhập là từ các khoản thu phí từ việc cung cấp các dịch vụ TTCK. Các
khoản thu này chịu thuế TNDN như đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nước khác.
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Chính sách thuế nên tiếp tục được duy trì để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam
3.2.6. Một số kiến nghị thực hiện hoàn thiện chính sách thuế đối với TTCK
Về chính sách thuế đối với thị trường
Về quản lý thuế

KẾT LUẬN
Mục tiêu đưa thị trường chứng khoán phát triển bền vững thường đề cập đến ba khía cạnh:
kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, môi trường đầu tư được bảo vệ, công bằng xã hội được đảm
bảo. Cả ba yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành nền tảng của phát triển bền vững.
Do đó cần phải khẳng định việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế là việc làm cần thiết,
quan trọng trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán bền vững, đảm bảo cho tính công
bằng đối với các đối tượng tham gia vào thị trường chứng khoán. Việc nghiên cứu đề tài: “Chính
sách đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán Việt Nam” hướng tới mục tiêu hoàn thiện
và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam
đồng thời mong muốn tạo ra sự công bằng trong nghĩa vụ thuế của các đối tượng tham gia thị
trường chứng khoán. Luận văn trong chừng mực nhất định sẽ góp phần bổ sung về lý luận và
thực tiễn xây dựng, hoàn thiện chính sách thuế trên thị trường chứng khoán, làm cơ sở cho các
mục tiêu tham khảo nghiên cứu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. Tuy
nhiên, đề tài chắc chắn vẫn còn một số hạn chế nhất định. Do vậy, tôi hi vọng sẽ nhận được sự
đóng góp của tất cả các thành viên trong hội đồng để kết quả nghiên cứu của đề tài được hoàn
thiện hơn, có thể đóng góp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế đối với các đối
tượng tham gia trên thị trường chứng khoán ./.

References
1. Nguyễn Ngọc Hùng (2008), Giáo trình Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước, Nxb Thống kê, Hà
Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status