Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ
thông thành phố Hải Phòng Phạm Đức Thái
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Bùi Văn Quân
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục (HTTTQLGD): đưa ra các khái niệm cơ
bản, giới thiệu vai trò, yêu cầu và quy trình xây dựng HTTTQLGD trong đổi mới giáo
dục Trung học phổ thông (THPT) hiện nay. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn
hóa, xã hội cũng như tình hình phát triển giáo dục THPT tại thành phố Hải Phòng. Phân
tích và đánh giá thực trạng hoạt động của HTTTQLGD THPT thành phố Hải Phòng
(nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về vai trò của HTTTQLGD, nhân lực cho hoạt
động thông tin quản lý giáo dục, hệ thống tiêu chí, chỉ số thông tin quản lý giáo dục
THPT, cơ chế thu thập, xử lý báo cáo dữ liệu, điều kiện đảm bảo cho HTTTQLGD hoạt
động). Đề xuất các biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng về vai trò, vị
trí của HTTTQLGD trong công tác quản lý giáo dục; bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho
cán bộ quản lý giáo dục; thống nhất các chỉ số thông tin quản lý giáo dục trong các
trường THPT; cải tiến cơ chế thu thập và các kênh thông tin cấp trường; đổi mới công tác
tài chính và trang thiết bị phục vụ cho công tác thông tin quản lý giáo dục; thực hiện triệt
thống thông tin QLGD trong công tác quản lý; chưa thống nhất trong quá trình xử lý và sử dụng
các tiêu chí và chỉ số thông tin trong nhà trường. Cơ sở vật chất phục vụ cho thông tin QLGD
chưa được tăng cường. Cán bộ chuyên trách công tác thông tin QLGD còn thiếu, còn yếu và các
cơ chế quản lý của nhà trường THPT còn chưa đáp ứng cho nhu cầu của HTTT QLGD nói
chung.
Để đáp ứng có hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đổi mới công tác QLGD hiện nay,
việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD nói
chung, của Sở GD&ĐT với các trường THPT nói riêng trở thành vấn đề cấp thiết.
Với những phân tích trên, tôi quyết định chọn vấn đề “Biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống thông tin quản lí giáo dục Trung học phổ thông thành phố Hải
phòng” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ QLGD.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về lý thuyết thông tin quản lý và thực trạng quản lý hệ thống thông tin
QLGD, đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTTT QLGD Trung học phổ
thông thành phố Hải phòng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu
Hệ thống thông tin quản lý giáo dục Trung học phổ thông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục THPT thuộc sự quản lí của Sở
GD&ĐT thành phố Hải phòng
4. Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu được thực hiện tại 10 trường THPT thành phố Hải phòng được chọn đại
diện cho 2 mô hình (công lập và dân lập hoặc tư thục) của thành phố: THPT Lương Thế Vinh,
THPT Thái phiên, THPT Thăng long, THPT Tiên lãng, THPT Đồ Sơn, THPT Bán công Vĩnh
bảo, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Đức Cảnh, THPT Nguyễn Trãi, THPT Kiến Thụy.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông của sở giáo dục và đào tạo Hải
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lí
giáo dục trung học phổ thông thành phố Hải phòng.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THÔNG
TIN QUẢN LÍ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới:
Những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX, Chính phủ ở các nước phát triển đưa ra quan
điểm tiếp cận mới đối với việc quản lý HTTT, đó là quan điểm tiếp cận tổng thể và tiếp cận hệ
thống, cốt lõi của quan điểm này là ý tưởng xây dựng Chính phủ điện tử. Các nghiên cứu ở nước
ngoài đều khẳng định vai trò quan trọng của HTTT trong quản lý và tìm cách quản lý phát triển
hệ thống thông tin đó ngày càng hiệu quả phục vụ đắc lực cho hoạt động quản lý.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, đặc biệt trong QLGD muộn
hơn so với nhiều nước trên thế giới. Vào thập niên 90, sau nghiên cứu đánh giá tổng thể về
GD&ĐT và nguồn nhân lực ngành GD&ĐT (VIE 89/022) nước ta đã nhận thức được tầm quan
trọng của thông tin QLGD và đã có những bước tiến đáng khích lệ về mặt này. Đã có một số hội
thảo đề cập đến vấn đề này trong toàn quốc như: Hội thảo về thông tin quản lý và điều hành
trong giáo dục cho mọi người do Viện Khoa học Giáo dục tổ chức (1993); Hội thảo về HTTTQL
giáo dục đại học do Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục tổ chức (1995) và Hội thảo về xây
dựng HTTT phổ cập giáo dục tiểu học do Vụ Tiểu học - Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức (1997).
Về mặt lý luận, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này như chuyên đề về
"Hệ thống thông tin QLGD và văn hoá" do trường Cán bộ quản lý giáo dục trung ương I (nay là
Học viện Quản lý giáo dục) dùng trong giảng dạy cao học và các khoá bồi dưỡng tại trường. Một số báo cáo tại các hội thảo xây dựng HTTTQL giáo dục: “Xây dựng hệ thống thông tin giáo dục
cho mọi người” của Hoàng Đức Nhuận; “Thông tin QLGD phục vụ xây dựng chính sách giáo
dục” của Lê Thạc Cán; “Tăng cường tiềm năng và nâng cao năng lực cho Trung tâm thông tin
QLGD thuộc Bộ” của Trần Ngọc Chương, trong những báo cáo đó các tác giả cho rằng thông tin
và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch để chủ động gây ảnh
hưởng đến đối tượng quản lí nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết, sao cho đảm bảo cân
đối giữa tính (mặt ) ổn định và phát triển của tổ chức.
- Quản lý giáo dục: Quản lí giáo dục là dạng quản lí (với đầy đủ nghĩa khai thác, lựa
chọn, tổ chức, và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng quản
lí, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết) được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục và đối
với giáo dục.
- Quản lý trường học: Quản lí nhà trường là sự cụ thể hoá của quản lí giáo dục. Trường
học là phân tử của hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lí nhà trường, thực chất là quản lí giáo dục
ở cơ sở. Theo đó, trường học trở thành khách thể quản lí của tất cả các cấp quản lí, trong đó Ban
giám hiệu và Hội đồng sư phạm của mỗi trường là chủ thể quản lí trực tiếp. Quản lí trường học
có bản chất là quản lí hoạt động dạy, hoạt động học và các hoạt động giáo dục khác của nhà
trường.
1.1.2. Hệ thống thông tin quản lí giáo dục (Educational Management Information System -
EMIS)
- Thông tin quản lí giáo dục: Thông tin quản lí giáo dục phản ánh liên tục các yếu tố đa
dạng cần thiết theo các chu kỳ QLGD phục vụ cho các cấp quản lý điều chỉnh các quyết định
hiện hành, ra quyết định mới và điều khiển tối ưu sự vận hành để tiếp cận mục tiêu giáo dục.
Nội dung thông tin QLGD gồm: Nguồn thông tin nhằm cụ thể hoá mục tiêu; Nguồn
thông tin về hình thành mục tiêu; Thông tin để đối chứng
- Hệ thống thông tin quản lí giáo dục: Hệ thống thông tin QLGD (Educational
Management Information System - EMIS) là hệ thống cung cấp cho các nhà QLGD những thông
tin có ích trong lập kế hoạch và phân bổ các dịch vụ giáo dục. Hệ thống thông tin QLGD (EMIS)
là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLGD đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay QLGD được coi là giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục.
1.1.3. Tiêu chí và chỉ số thông tin quản lí giáo dục
- Tiêu chí thông tin quản lí giáo dục: Tiêu chí thông tin quản lí giáo dục là đặc trưng,
dấu hiệu của thông tin quản lí giáo dục có thể được lấy làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, xếp loại,
đánh giá thông tin quản lí giáo dục tại các cơ sở hoặc hệ thống giáo dục.
Tính kịp thời: Thông tin QLGD phải được cập nhật hàng tháng , hàng quý, giúp cho các
nhà QLGD điều chỉnh kế hoạch đúng với tình hình thực tế hoặc điều chỉnh kịp thời các quyết
định quản lý . Tính tối ưu hóa: Thông tin được thu thập, xử lý phục vụ QLGD phải được phân loại,
chọn lọc, đảm bảo tin cậy và hệ thống hóa theo trình tự thời gian, không gian cụ thể . Nội dung
thông tin ngắn gọn, vừa đủ.
Tính hệ thống: Thông tin phải có cơ cấu hợp lý , thống nhất cả về nội dung ( các thuật
ngữ và giá trị thông điệp), lẫn hình thức trình bày trong toàn bộ quá trình thu thập, xử lý, truyền
tải, lưu trữ, sử dụng thông tin trong hệ thống QLGD .
Tính kinh tế: Thông tin phải giúp ích cho việc quản lý, đó là việc ra quyết định và giải
quyết các nhiệm vụ QLGD ở các cấp bằng chi phí nhỏ nhất( kể cả chi phí thời gian, chi phí kinh
tế, chi phí nhân lực). Thông tin được xử lý và chọn lọc theo yêu cầu đặc thù của người quản lý .
Chỉ có thông tin được xử lý mới có khả năng phản ánh tích cực và do đó mới có giá trị trong
quản lý.
Tính dự báo: Những thông tin được cung cấp ở đây không chỉ cho phép phản ánh cái đã
có mà còn tạo ra sự phản ánh tích cực, tiên đoán, dự đoán diễn biến của các sự kiện trong tiến
trình quản lý .
Tính bảo mật: Toàn bộ quy trình thông tin phải có khả năng bảo mật, bảo đảm giữ bí mật
một cách tuyệt đối .
1.3.2. Quy trình thông tin quản lý giáo dục
Quy trình thông tin QLGD là thủ tục (Procedure) và những biện pháp cụ thể kèm theo
(measures) để giải quyết các nhiệm vụ thông tin trong QLGD, bảo đảm cho hoạt động quản lý có
cơ sở thông tin và dữ liệu đầy đủ, chính xác. Quy trình thường có tính logic, có trật tự nhất định ,
có tổ chức và có cấu trúc phù hợp với nội dung QLGD và yêu cầu của cấp quản lý.
Kết luận chương 1
Nghiên cứu lý luận về hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục trong
các trường THPT cấp Sở GD&ĐT quản lý, giúp cho việc đánh giá xác đáng thực trạng công tác
0,45% diện tích tự nhiên cả nước.
Tài nguyên đất: Hải Phòng có diện tích đất nông nghiệp không lớn khoảng 67,8 nghìn
ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là 55,7 nghìn ha. Đất trồng rau chiếm diện tích khoảng
2500-3000 ha
Tài nguyên rừng: Là thành phố cảng biển, Hải Phòng không có nhiều rừng. Rừng ở
ngoài hải đảo, tập trung ở vùng quần đảo Cát Bà
Tài nguyên biển: Tài nguyên biển của Hải Phòng được xem như một thế mạnh mà thiên
nhiên ban tặng và tạo ra những lợi thế đặc biệt cho sự phát triển toàn diện ngành hải sản
Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản của Hải Phòng chủ yếu là đá vôi tập trung ở Tràng
Kênh, puzolan có nhiều điều kiện để phát triển công nghiệp sản xuất xi măng, đất phèn và các
đặc sản phẩm hóa chất gốc từ cacbonat.
Tài nguyên nước: Nguồn nước Hải Phòng bị hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố Giao thông vận tải: Hải Phòng được nối với các tỉnh qua các hệ thống đường bộ, đường
sắt, đường sông và đường hàng không
2.2. Tình hình phát triển giáo dục Trung học phổ thông thành phố Hải phòng
2.2.1. Tình hình phát triển giáo dục của thành phố Hải phòng
Hải phòng có hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hoá đã được
hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo; mạng lưới các trường phổ thông, các cơ
sở đào tạo được xây dựng khắp trong toàn thành phố, các trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục
thường xuyên cấp thành phố và cấp huyện. Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp phát triển mạnh.
Từ một hệ thống giáo dục chỉ có các trường công lập THPT đến nay đã có các trường ngoài công
lập đối với hệ này (Qui mô phát triển GD xem phụ lục bảng 2.1).
2.2.2. Tình hình phát triển giáo dụủctung học phổ thông thành phố Hải phòng
Các loại hình trường THPT được mở rộng. Năm 2008 toàn thành phố đã có 60 trường THPT
(trong đó có 25 trường THPT ngoài công lập). Số học sinh THPT có 78.283 (trong đó 20.407
học sinh THPT ngoài công lập). THPT: 88,3% số đối tượng phổ cập tốt nghiệp THCS vào học
THPT hoặc BTTHPT; 79,2% số đối tượng phổ cập 18 – 21 tuổi có bằng THPT hoặc BTTHPT.
thống kê định kỳ chính thức của Bộ.
Tổ chức nghiên cứu và tham gia các dự án nghiên cứu cải tiến công tác thông tin QLGD
của toàn ngành.
Quan hệ với các ngành, các tổ chức trong và ngoài thành phố để thu thập, trao đổi về số
liệu giáo dục và đào tạo và các số liệu có liên quan đến giáo dục của thành phố.
Bộ phận quản lý thông tin tại các trường trung học phổ thông có nhiệm vụ:
Tổ chức thu thập, làm các báo cáo thống kê giáo dục gửi về sở GD&ĐT, các cơ quan
quản lý giáo dục cấp trên và cơ quan có liên quan trên địa bàn.
Dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Sở tổ chức
Lưu trữ các số liệu GD&ĐT của nhà trường
Với cơ cấu phân cấp quản lý như trên, các kênh TT vận hành trong hệ thống QLGD của
thành phố theo hai chiều: từ trên xuống và từ dưới lên.
Kênh thông tin từ dưới lên là hệ thống thông tin, báo cáo được diễn ra từ trường THPT
tới Sở GD&ĐT và các cơ quan quản lý khác.
Kênh thông tin từ trên xuống là thông tin chỉ đạo của Bộ GD&ĐT hoặc của UBND thành
phố cũng như của các cơ quan, ban ngành khác có liên quan được truyền đạt, phổ biến xuống
các trường để các trường thi hành các chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước Ngoài
hai chiều thông tin trên, còn có sự tham gia, trao đổi, phối hợp và cung cấp thông tin trong công
tác QLGD với các sở ban ngành trong thành phố có liên quan tới giáo dục như Cục thống kê
thành phố, Sở Lao động thương binh xã hội, Sở Nội vụ, SởTài chính, Đoàn TNCSHCM, UBND các huyện (thị xã, thành phố) và các trường THPT trong toàn thành phố cũng có nhu cầu trao
đổi thông tin với nhau. Đó là các kênh thông tin theo chiều ngang.
2.3.2. Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về vai trò của hệ thống thông tin quản lý
giáo dục
Đa số giáo viên và CBQLGD nhận thức đúng về vai trò và vị trí của hệ thống thông tin
QLGD với hoạt động quản lí giáo dục. Có 95% CBQLGD khẳng định hệ thống thông tin QLGD
có vai trò rất quan trọng và quan trọng với hoạt động quản lí giáo dục. Trong khi đó, có tới
32,5% giáo viên cho rằng hệ thống thông tin QLGD chỉ có vai trò bình thường với hoạt động
Các tiêu chí về quản lý học sinh gồm:
Tiêu chí 1: Quy mô phát triển giáo dục THPT, gồm có các chỉ số: Số trường , số lớp, Số
học sinh, Số học sinh bình quân/lớp, Tỷ lệ học sinh nữ, Tỷ lệ học sinh dân tộc, Tỷ lệ học
sinh/dân số trong độ tuổi, Tỷ lệ học sinh đúng độ tuổi/dân số trong độ tuổi (dưới 15 tuổi, 15 tuổi,
16 tuổi, 17 tuổi, 18 tuổi trở lên), Tỷ lệ trẻ khuyết tật được đi học trong tổng số trẻ khuyết tật, Số
học sinh chuyển đi (trong đó nữ, dân tộc, nữ dân tộc), Số học sinh chuyển đến (trong đó nữ, dân
tộc, nữ dân tộc), Số học sinh nghỉ học, vắng mặt (trong đó nữ, dân tộc, nữ dân tộc).
Tiêu chí 2: Hiệu quả trong của Giáo dục THPT, gồm có các chỉ số: Tỷ lệ học lưu ban, Tỷ
lệ học sinh bỏ học, Tỷ lệ hoàn thành hết cấp học THCS (trong đó loại giỏi, khá, trung bình,
không xếp hạng), Tỷ lệ chuyển cấp học từ THCS vào THPT (trong đó loại giỏi, khá , trung bình,
không xếp hạng), Tỷ lệ tốt nghiệp THPT (trong đó loại giỏi, khá, trung bình, không xếp hạng)
Tiêu chí 3: Xếp loại văn hóa và hạnh kiểm học sinh THPT, gồm các chỉ số: Xếp loại văn
hóa giỏi, Xếp loại văn hóa Khá, Xếp loại văn hóa trung bình, Xếp loại văn hóa yếu, Xếp loại văn
hóa Kém, Xếp loại hạnh kiểm tốt, Xếp loại hạnh kiểm Khá, Xếp loại hạnh kiểm trung bình, Xếp
loại hạnh kiểm yếu, Không xếp hạng (văn hóa, hạnh kiểm)
Tiêu chí và chỉ số về quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên gồm có các chỉ số: Giáo viên (tổng
số, nữ, dân tộc) chia ra trình độ trên chuẩn, chuẩn và chưa đạt chuẩn; Trong tổng số giáo viên
chia ra các môn học (Văn, sử , địa, toán, lý, hóa, sinh, công nghệ, GDCD, Anh văn, Trung văn,
Pháp văn, các môn còn lại); Hiệu trưởng (tổng số, nữ, dân tộc); Phó hiệu trưởng; Giáo viên
chuyên trách Đoàn; Nhân viên thư viện; Nhân viên thí nghiệm; Nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ;
Nhân viên phục vụ.
Tiêu chí về ngân sách của nhà trường THPT, gồm các chỉ số:
- Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục (tỷ đồng): Tổng chi thường xuyên (tỷ đồng); Chi
đầu tư cơ bản (tỷ đồng), trong đó xây dựng mới, sửa chữa, mua sắm thiết bị.
- Kinh phí từ các nguồn xã hội hóa cho GD (học phí và các khoản đóng góp theo quy
định, các khoản đóng góp tự nguyện của cha mẹ học sinh, hỗ trợ của doanh nghiệp và các tổ
chức kinh tế, tài trợ của các tổ chức ngoài nước, khác). Tiêu chí về CSVC của các trường THPT, gồm các chỉ số: Số phòng học kiên cố (trong đó
Tất cả các trường THPT trong thành phố đã được trang bị máy vi tính văn phòng. Bằng
nhiều nguồn kinh phí từ nguồn xã hội hoá, các trường đều đầu tư trang bị cho trường từ 1 đến 3
phòng máy vi tinh, mỗi phòng 25 máy vi tính, có nối mạng với Sở và nối mạng Internet. Các
phòng học này phục vụ học sinh học bộ môn tin học.
Hiệu quả sử dụng trang thiết bị tin học phục vụ công tác QLGD: Các máy vi tính phục vụ
công tác thống kê, báo cáo công tác thông tin trong các nhà trường chủ yếu dùng để soạn thảo
văn bản, các máy tính phục vụ công tác thông tin không được trang bị đồng bộ, phần mềm không
tương thích. Tuy đã có các chương trình phần mềm cho các báo cáo thống kê định kỳ, báo cáo
quản lý cán bộ giáo viên, báo cáo tài chính ở các trường THPT, phần mềm quản lý thi, phần
mềm xây dựng kế hoạch. Nhưng các báo cáo số liệu vẫn chưa chuẩn, nhiều số liệu cơ sở không
cập nhật, khiến bộ phận thống kê tại Sở gặp khó khăn, số liệu vẫn có sự sai lệch.
Sở GD&ĐT đã có mạng LAN nối mạng nội bộ văn phòng, đã có máy chủ quản lý dữ
liệu. Các trường đã nối mạng với Sở và mạng INTERNET nhưng cán bộ và học sinh chủ yếu vào
mạng xem tin tức và gửi thư điện tử chứ chưa dùng mạng phục vụ công tác quản lý hành chính,
chưa khai thác hết thế mạnh của công nghệ tin học phục vụ công tác thông tin quản lý GD. Chưa
xây dựng được phần mềm thống kê dữ liệu giáo dục với các tiêu chí thống nhất trong toàn HTTT
QLGD. Từ đó ta thấy hiệu quả của việc sử dụng thiết bị tin học đối với công tác QLGD còn thấp,
việc ứng dụng CNTT đã bước đầu được đưa vào hệ thông công tác thông tin QLGD tuy nhiên
kết quả chưa cao do chưa tương thích giữa máy và người sử dụng và giữa các trường với nhau .
2.4. Đánh giá thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục Trung học phổ thông thành
phố Hải phòng.
- Nhận thức của các cấp lãnh đạo về vấn đề này còn chưa cao, chưa đặt công tác thông tin
về đúng vị trí của nó trong công tác QLGD.
- Cơ cấu tổ chức của hệ thống thông tin QLGD còn chậm hoàn thiện.
- Hệ thống tiêu chí và chỉ số thông tin chưa được thống nhất trong toàn thành phố.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, thống kê nhìn chung thiếu về số lượng và chưa
đảm bảo về chuyên môn, nghiệp vụ.
- Việc đầu tư, khai thác và sử dụng các thiết bị hiện đại kém hiệu quả.
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính vận động phối hợp đồng bộ
3.2. Các biện pháp đề xuất
3.2.1. Truyên truyền, giáo dục cho các đối tượng về vai trò, vị trí của hệ thống thông tin quản
lí giáo dục trong công tác quản lý giáo dục
3.2.2. Bồi dưỡng nghiệp vụ sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý cho cán bộ quản lý
giáo dục
3.2.3 Thống nhất các chỉ số thông tin quản lý giáo dục trong các trường trung học phổ
thông Lựa chọn hệ thống chỉ số thông tin có liên quan đến toàn bộ quá trình giáo dục:
Học sinh; Giáo viên và cán bộ công nhân viên; Số lượng trường, lớp; Các phương tiện và trang
thiết bị dạy học: bao gồm chủng loại, số lượng, tình trạng hiện tại; Tài chính; Các kết quả học tập
và rèn luyện; Các chương trình và nội dung đào tạo.
Thống nhất thuật ngữ một số chỉ số: Trường; Phòng học; Học sinh; Giáo viên;
Thống nhất cách tính một số chỉ số:
Độ tuổi của học sinh; Tỷ lệ nhập học cấp THPT; Tỷ lệ đi học cấp THP; Tỷ lệ đi học
theo độ tuổi đúng của cấp THPT; Tỷ lệ lên lớp; Tỷ lệ lưu ban; Tỷ lệ bỏ học; Tỷ lệ tốt nghiệp; Tỷ
lệ chuyển cấp THPT; Tỷ lệ hoàn thành cấp học THPT
Thống nhất hệ thống biểu mẫu báo cáo định kỳ trong các nhà trường trung học
phổ thông:
TT
KÝ HIỆU
BIỂU
TÊN BIỂU
KỲ
B.CÁO
NGÀY
GỬI
1
3.2.4 Cải tiến cơ chế thu thập thông tin và hoạt động của các kênh thông tin cấp trường .
Thiết kế công cụ cho thu thập và báo cáo dữ liệu thống kê ở cấp trường.
Thống nhất cơ chế thu thập, xử lý và báo cáo dữ liệu từ trường THPT tới Sở GD&ĐT
3.2.5 Đổi mới công tác tài chính và trang thiết bị phục vụ cho công tác thông tin quản lý
giáo dục.
Tin học hoá hệ thống thông tin QLGD trong các nhà trường THPT
Xây dựng kế hoạch kinh phí hàng năm cho trang thiết bị phục vụ hoạt động thông tin
Củng cố lại mạng tin học phục vụ quản lí thông tin
3.2.6. Thực hiện triệt để phân cấp quản lí trong giáo dục để hoàn thiện hệ thống thông tin
quản lí giáo dục
Ở cấp tỉnh, thành UBND thành phố Hải phòng phân cấp triệt để về QLGD cho Sở
GD&ĐT cùng các địa phương (huyện, thị xã, thành phố). Theo đó sở GD&ĐT quản lý các trường THPT trên địa bàn tỉnh, các trung tâm HN -GDTX thành phố và huyện, công ty sách và
thiết bị trường học, một số trường trung học chuyên nghiệp. Bộ phận quản lý thông tin giáo dục
của Sở GD&ĐT gồm bộ phận thống kê thuộc phòng kế hoạch - tài chính và bộ phận tổng hợp
thuộc văn phòng Sở GD&ĐT. Đối với trường THPT, đơn vị cơ sở của hệ thống QLGD, cũng là
đơn vị cơ sở của hệ thống thông tin QLGD, trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Sở GD&ĐT, có
trách nhiệm thu thập, xử lý thông tin, báo cáo thống kê, truyền báo cáo tới các cơ quản QLGD
cấp trên và các cơ quan có liên quan trên địa bàn. Các thông tin thu thập được cần được xử lý và
sử dụng trực tiếp tại nhà trường phục vụ các mục tiêu lập kế hoạch phát triển nhà trường và giúp
Hiệu trưởng và ban giám hiệu nhà trường ra các quyết định quản lý phù hợp với tình hình cụ thể
của nhà trường, của địa phương. Nhà trường là đơn vị mắt xích cuối cùng thực thi các chủ
trương, chính sách chung, tại đây khi triển khai các chủ trương đổi mới sẽ nẩy sinh nhiều khó
khăn, mâu thuẫn.
3.3. Điều kiện để thực hiện các biện pháp
3.3.1. Các điều kiện khách quan
- UBND thành phố Hải phòng đã có nhiều chính sách cụ thể để phát triển ngành GD&ĐT
của thành phố từ nay đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó có chú trọng đến việc
Kết luận chương 3
Các biện pháp đề xuất dựa trên các nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn hoạt động
của hệ thống thông tin QLGD ở các trường THPT thành phố Hải phòng, phù hợp với bối cảnh
kinh tế xã hội của địa phương. Các nhóm biện pháp mang tính tổng thể cho việc hoàn thiện hệ
thống thông tin QLGD ở cơ sở
1/Tuyên truyền, giáo dục về vai trò, vị trí của hệ thống TT QLGD
2/ Bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ của CB QLGD
3/Thống nhất các chỉ số thông tin QLGD trong các trường THPT
4/ Cải tiến cơ chế thu thập và kênh thông tin cấp trường
5/Tăng cường CSVC phục vụ công tác thông tin QLGD
6/ Thực hiện triệt để phân cấp QLGD
Các biện pháp trên đã được kiểm chứng về ý nghĩa và tính khả thi thông qua trưng cầu ý
kiến của các đối tượng. Kết quả trưng cầu ý kiến cho phép kết luận đó là các biện pháp cần thiết,
hợp lý, đủ độ tin cậy và khả thi để nâng cao chất lượng hoạt động của HTTTQLGD Trung học
phổ thông thành phố Hải phòng. Tuy nhiên để tăng cường tính khả thi của các biện pháp đã đề
xuất đòi hỏi các nhà QLGD các cấp phải tìm đúng nguyên nhân và tăng cường các nguồn lực đầu
tư tuỳ thuộc đặc thù và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các cơ sở giáo dục tại địa phương.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD có ý nghĩa cấp bách trong giai
đoạn đổi mới công tác QLGD hiện nay, đặc biệt là việc đổi mới công tác thông tin QLGD ở cấp
cơ sở (cấp trường THPT) của các thành phố thành phố trong cả nước. Các kết quả nghiên cứu
của luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
1.1 HTTTQLGD là một công cụ quan trọng của quản lý để nâng cao chất lượng và hiệu quả
công tác QLGD.
1.2 HTTTQLGD trong các nhà trường là cơ sở gốc của HTTT toàn ngành, được xây dựng trên
cơ sở thực tiễn của từng trường học. Đó là tập con trong hệ thống thông tin QLGD, việc xây
Những kết quả nghiên cứu nói trên đã giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Giả
thuyết nghiên cứu của đề tài đã được chứng minh.
2. Khuyến nghị
Thông qua đề tài của luận văn này, chúng tôi xin đề xuất một số khuyến nghị dưới đây để
hệ thống thông tin QLGD các trường THPT thành phố Hải phòng đi vào hoạt động có hiệu quả
và đạt chất lượng cao hơn, đó là :
2.1 HTTTQLGD cấp trường (trường THPT) cần được xem xét và đầu tư thích đáng từ cấp quản
lý của Sở GD&ĐT cũng như các cấp quản lý của thành phố…
2.2 HTTTQLGD cấp trường cần được hoàn thiện dần theo hướng hiện đại, tránh lãng phí trong
việc đầu tư trang thiết bị và xây dựng phần mềm quản lý, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của từng
trường. Cần tích cực đào tạo người sử dụng song song với việc đầu tư trang thiết bị hiện đại.
2.3 Phát huy tính độc lập, tự chủ của các nhà trường trong việc xây dựng kế hoạch, sử dụng kinh
phí hàng năm để đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác thông tin QLGD. Khuyến khích
các nhà trường đẩy mạnh công tác xã hội hoá, huy động các nguồn lực xã hội vào việc hoàn
thiện và hiện đại hệ thống.
2.4 Công tác quản lý HTTT từ cấp Sở phải đẩy mạnh việc kiểm tra, giám sát. Tổ chức thường
xuyên việc tập huấn nghiệp vụ chuyên môn. Đưa hành lang pháp lý vào việc thúc đẩy hoạt động
của hệ thống, tạo nền nếp kỷ luật hoạt động của hệ thống. Xây dựng kế hoạch hoạt động chung
cũng như kế hoạch hiện đại hoá của toàn hệ thống thông tin QLGD cấp thành phố.
References
I- Tiếng Việt :
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Các văn bản pháp luật hiện hành về giáo dục và đào tạo,
NXB Thống kê, Hà Nội
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1990), Một số định hướng phát triển giáo dục Việt Nam từ nay
đến đầu thế kỷ 21, Hà Nội
3. Bộ Giáo dục và đào tạo ( 2001 ), Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, NXB Giáo
19. Nguyễn Công Giáp (2000), Hệ thống thông tin quản lý giáo dục, Viện nghiên cứu phát
triển giáo dục, Hà Nội
20. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường
Cán bộ Quản lý Giáo dục - Đào tạo TW1, Hà Nội.
21. Nguyễn Kỳ và Bùi Trọng Tuân (1974), Một số vấn đề của lý luận quản lý giáo dục .
Trường Cán bộ QLGD TW1, Hà Nội. 22. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
23. Nguyễn Quang Kính ,( 1995) , Thông tin quản lý giáo dục Việt nam, thực trạng và định
hướng , Tài liệu hội thảo Thông tin QLGD đại học , Hà Nội 22-24/8/195.
24. Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1988), Giáo dục học tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội.
25. Phạm Văn Hưng (2005), Tổ chức các tiêu chí và chỉ số thông tin quản lý giáo dục thống
nhất trong các nhà trường quân đội, Luận văn thạc sĩ QLGD, Viện chiến lược và chương
trình giáo dục, Hà Nội.
26. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục, NXB
Giáo dục, Hà Nội.
27. Bùi Văn Quân(2006), Giáo trình phương pháp nghiên cứu giáo dục học, Nhà xuất bản
Đại học sư phạm, Hà Nội
28. Thông tư liên tịch của Bộ Nội vụ – Văn phòng Chính phủ số 55/2005/TTLT-BNV-
VPCP , ngày 06 tháng 5 năm 2005 “ Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn
bản”.
29. Thái Duy Tuyên (1999), Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại, NXB Giáo dục, Hà
Nội.
30. Khổng Tử, Luận Ngữ (Đoàn Trung Còn dịch 1950), Nhà in Trí Đức Tòng Thơ.
31. Trường đại học Kinh tế quốc dân ( 2001), Giáo trình khoa học quản lý, tập I, NXB Khoa
học và kỹ thuật , Hà Nội
32. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
33. Văn kiện Đại hội IX Đảng CSVN ( 2001) NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội