Hướng dẫn học sinh lớp 11-Trung học phổ
thông vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào
việc lĩnh hội và tạo lập văn bản Mai Thị Thùy Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Việt Hùng
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về văn bản, nghĩa của câu trong lì
thuyết ngôn ngữ học. Chứng minh tình đúng đắn của việc tìch hợp dạy học nghĩa
của câu với việc lĩnh hội và tạo lập văn bản trong chương trính lớp 11-Trung học
phổ thông (THPT) qua việc nghiên cứu thực trạng dạy học nghĩa của câu và ứng
dụng của nó trong việc lĩnh hội và tạo lập văn bản trong chương trính lớp 11 hiện
nay. Đề xuất các thao tác tổ chức cho học sinh lớp 11 hính thành kiến thức và tổ
chức hoạt động dạy học giúp học sinh lớp 11 rèn luyện kĩ năng vận dụng hiểu biết
về nghĩa của câu để lĩnh hội và tạo lập các loại văn bản trong chương trính Ngữ văn
11. Thực nghiệm sư phạm nhằm xác nhận tình khả thi và hiệu quả của đề tài.
Keywords. Phương pháp giảng dạy; Ngữ văn; Văn bản; Câu; Lớp 11 Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Yêu cầu này làm cho giáo viên phải lựa chọn và xây dựng một tư duy sư phạm đa chiều.
Vừa tư duy phương pháp, hính thức tổ chức dạy học cho học sinh, vừa tư duy hệ thống kĩ
năng cần vận dụng hợp lì nhất, hiệu quả nhất để rèn luyện cho học sinh.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã gợi cho chúng tôi ý tưởng chọn lựa một cách tổ
chức dạy học tìch hợp trên cơ sở giúp cho học sinh có khả năng tìch hợp kiến thức và kĩ năng
đã học để tiếp nhận các kiến thức và kĩ năng khác. Chúng tôi lựa chọn đề tài “Hướng dẫn học
sinh lớp 11- trung học phổ thông vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo
lập văn bản” để nghiên cứu với mong muốn sẽ góp phần lì giải nhiều vấn đề đặt ra trong việc
vận dụng dạy học tìch hợp trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Ý nghĩa của luận văn
2.1 Ý nghĩa lí luận
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần sáng ỏ khái niệm tìch hợp dạy học, vận dụng thành tựu
nghiên cứu của tiếng Việt vào dạy học Ngữ văn nói chung và vận dụng hiểu biết về nghĩa của
câu vào lĩnh hội và tạo lập văn bản nói riêng.
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có tác dụng thiết thực đối với giáo viên dạy ngữ văn ở
bậc THPT hiện nay khi dạy học chương trính Ngữ văn lớp 11. Những ứng dụng được trính
bày có thể là tư liệu tham khảo cho giáo viên áp dụng trong thực tế dạy häc Ng÷ v¨n lớp 11-
THPT ë ViÖt Nam hiÖn nay.
3. Lịch sử nghiên cứu
Chương trính giáo dục THPT hiện hành đã tìch hợp ba phân môn: văn học, làm văn và
Tiếng Việt trước đây thành bộ môn duy nhất: Ngữ văn. Trên quan điểm dạy học tìch hợp ở ba
phân môn này, nhiều nghiên cứu về phương pháp dạy học tìch hợp trong bộ môn ngữ văn ở
nhà trường phổ thông đã có những thành tựu nổi bật.
Đầu tiên phải kể đến cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt” do Lê A chủ biên. Đây là
cuốn sách bám sát yêu cầu đổi mới dạy học tiếng Việt trong mối tương quan với các phân môn
Làm văn và văn học. Các tác giả đã xác định rất rõ về vai trò và tình ứng dụng của dạy học
tiếng Việt nói chung và phần nghĩa của câu với các tri thức về lĩnh hội và tạo lập văn bản.
Công trính thứ hai có ý nghĩa lớn trong việc dạy và học câu là công trính “ Câu tiếng
Việt” của tác giả Nguyễn Thị Lương. Trong đó, tác giả đã đề cập đến việc giảng dạy câu theo
dụng hiểu biết về nghĩa của câu để lĩnh hội và tạo lập các loại văn bản trong chương trính
Ngữ văn 11
- Thực nghiệm sư phạm nhằm xác nhận tình khả thi và hiệu quả của đề tài.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu theo mục tiêu đã đề xuất tại mục 4.
6. Mẫu khảo sát
- Khảo sát các tài liệu dạy học Ngữ văn hiện hành.
- Khảo sát thực tế dạy học tại trường THPT B Hải Hậu, Nam Định và trường THPT
Ngọc Hồi, Hà Nội.
7. Vấn đề nghiên cứu
Luận văn này xem xét những vấn đề sau đây:
- Tại sao học sinh có thể vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn
bản?
- Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh như thế nào để giúp các em có khả năng vận dụng
hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản?
8. Giả thuyết nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đã đặt ra, người viết sơ bộ đưa ra một số giả thuyết sau:
- Kiến thức về nghĩa của câu mà học sinh được trang bị không chỉ là kiến thức ngữ pháp về
câu mà còn là lì luận, là phương pháp tư duy giúp học sinh có thể vận dụng để lĩnh hội và tạo
lập văn bản.
- Giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh hính thành và rèn luyện kĩ năng vận dụng hiểu
biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản thường xuyên, liên tục trong các
giờ dạy và theo một quy trính khoa học như sau:
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học nhằm trang bị kiến thức về nghĩa của câu cho học sinh
theo hướng tìch hợp dạy học giữa tiếng Việt với Văn học và Làm văn.
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học thực hành, luyện tập cho học sinh nhằm giúp học sinh
hính thành kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của câu.
+/ Tổ chức các hoạt động dạy học văn học và làm văn theo hướng tìch hợp, tạo cơ hội và
điều kiện cho học sinh vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
thành nhiệm vụ giao tiếp trong một hoàn cảnh phát ngôn nhất định. Đặc biệt nó
gắn với một chủ thể nhất định đã sáng tạo ra nó…”[30; tr. 69]
Cách định nghĩa thứ hai gắn văn bản với hoạt động giao tiếp, môi trường sản sinh và tồn
tại của văn bản.
Ở đây, chúng tôi nhận diện văn bản, phân loại văn bản sao cho phù hợp với việc truyền
thụ kiến thức cho học sinh phổ thông, đặc biệt đảm bảo tình hệ thống của chương trính Ngữ
văn bậc phổ thông. Ví vậy chúng tôi xin không bàn đến tình đúng sai của các định nghĩa, mà
từ các định nghĩa này, chúng tôi nhận ra những kiến thức quan trọng về văn bản phục vụ cho
việc vận dụng dạy học được đặt ra ở đề tài nghiên cứu này.
1.1.1.2 Đặc điểm của văn bản
Dù định nghĩa theo cách nào, chúng ta cũng cần thừa nhận một số các đặc điểm cơ bản
của văn bản sau đây:
- Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ về mặt cấu trúc nghĩa( nội dung) và cấu trúc hính
thức.
+/Về mặt nội dung: văn bản có một chủ đề nhất định, toàn bộ văn bản gắn kết với nhau về
mặt ý nghiã, tập trung thể hiện một chủ đề. Điều này giúp ta phân biệt với các tổ hợp ngôn
ngữ không là văn bản- có nhiều câu, nhiều đoạn được ghép với nhau nhưng không có quan hệ
gí về ý nghĩa. Văn bản bao giờ cũng phải thể hiện được chủ đìch của người tạo lập nó.
+/ Về mặt hính thức: các câu trong văn bản có những mối liên hệ, quan hệ nhất định.
Toàn bộ những mối liên hệ ấy tạo nên cấu trúc của văn bản. Như vậy văn bản không đơn
thuần chỉ là chuỗi câu ghép lại. Mặt khác, tùy vào chủ đìch mà người tạo lập văn bản phải
chon lựa các phương tiện ngôn ngữ phù hợp, điều này tạo nên những cấu trúc khác nhau của
các loại văn bản.
- Văn bản tồn tại cả ở dạng nói và dạng viết
- Văn bản có thể dài và có thể ngắn
1.1.1.3. Phân loại văn bản
Chương trính lớp 10 THPT phân loại văn bản theo phong cách chức năng ngôn ngữ
bao gồm:
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ( thư, nhật kì…)
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật ( thơ, truyện…)
* Thành phần nghĩa thứ hai là nghĩa tính thái. Nghĩa tính thái có thể được bộc lộ tường
minh qua các từ ngữ tính thái trong câu, có thể hàm ẩn, nhưng câu nào cũng có nghĩa tính thái.
Nhiều loại nghĩa tính thái có thể hòa quyện với nhau trong một phương tiện ngôn ngữ, thậm chì
đan xen với nghĩa miêu tả.
Nghĩa tính thái là vấn đề phức tạp đối với học sinh phổ thông. Chúng tôi chỉ tập trung
vào hai trường hợp có ý nghĩa thiết thực với việc vận dụng để lĩnh hội và tạo lập văn bản
trong nhà trường phổ thông hiện nay:
Một là: Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người phát đối với sự việc được đề cập
đến trong câu.
Khi đề cập đến sự việc nào đó, người phát không thể không bộc lộ thái độ, sự đánh giá
của mính đối với sự việc đó. Đó có thể là sự tin tưởng chắc chắn, sự hoài nghi, sự phỏng
đoán, sự đánh giá, …đối với sự việc.
Hai là: Tình cảm của người phát đối với người nhận
( thông qua các từ ngữ cảm thán, từ ngữ xưng hô, từ tình thái…)
1.1.3 Ứng dụng lí thuyết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản
Như chúng ta đã phân tìch ở phần 1 về cấu tạo của văn bản, có thể nhận thấy mối liên hệ
hữu cơ, nòng cốt, biện chứng giữa nghĩa của câu với văn bản.
Khi lĩnh hội hoặc tạo lập một văn bản bao giờ các nhân vật giao tiếp cũng phải tình đến
yếu tố nghĩa của nó. Kiến thức về nghĩa của câu như chiếc chía khóa để giải mã các văn bản
đồng thời là nền móng để tạo lập các văn bản. Do đó, việc ứng dụng những thành tựu nghiên
cứu về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản là điều vô cùng cần thiết.
1.2.Cơ sở tâm lí- giáo dục học
1.2.1 Quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
1.2.1.1 Quan điểm dạy học tích hợp
Các nhà khoa học thừa nhận những ưu thế của dạy học tìch hợp:
→ HS được lĩnh hội các năng lực song song với lĩnh hội kiến thức thông thường.
→ Hạn chế tính trạng quá tải, trùng lặp, dư thừa kiến thức nhằm tiết kiệm thời gian
trong đào tạo.
→ Rèn luyện kĩ năng vận dụng sáng tạo cho HS
→ Hính thành và rèn luyện tư duy tổng hợp, tư duy sáng tạo cho HS
một khối kiến thức ngữ nghĩa đơn thuần mà được rèn luyện để hính thành kĩ năng vận dụng
kiến thức này vào quá trính đọc và tạo lập văn bản( quá trính học hai phân môn Văn học và
Làm văn). Việc vận dụng này kìch thìch tình chủ động, tìch cực hoạt động của học sinh trong
giờ học Ngữ văn. Đồng thời hính thành, rèn luyện và nâng cao năng lực học văn cho HS. Đặc
biệt là năng lực lì giải và tạo lập văn bản.
1.2.3. Đặc điểm tâm lí đối tượng học sinh lớp 11- THPT
HS lớp 11- THPT ở vào độ tuổi gần như đã phát triển hoàn thiện về trính độ tiếng Việt
thông qua giao tiếp hàng ngày. Đó là những kinh nghiệm thực tiễn quan trọng và quý báu
giúp các em trong quá trính hính thành những kĩ năng vận dụng mới. Dạy học tiếng Việt cho
các em trong độ tuổi này phần lớn là giúp các em có được sự ý thức khoa học trong việc sử
dụng những kinh nghiệm đó.
HS lớp 11- THPT là đối tượng đã được hoàn thiện kiến thức cơ sở về từ vựng, ngữ pháp
tiếng Việt, các loại văn bản, lì luận văn học; đã hính thành năng lực tiếp nhận và tạo lập các
loại văn bản ở bậc THCS. Ở bậc THPT, HS tiếp tục được nâng cao những tri thức và kĩ năng
đã học và rèn luyện ở lớp dưới.
HS lớp 11- THPT đã phát triển tư duy trừu tượng, điều này bộc lộ ở khả năng liên hệ kiến
thức, ở tư duy khái quát, tổng hợp, năng lực chiếm lĩnh tri thức một cách hệ thống, khả năng
vận dụng kiến thức và kĩ năng. Tư duy trừu tượng phát triển là một điều kiện thuận lợi cho
việc học tập các nội dung về nghĩa của câu- vốn là vấn đề khá trừu tượng. Đó cũng là một
thuận lợi cho HS để có thể vận dụng linh hoạt kiến thức, có thể kĩ năng hóa các kiến thức đã
có.
HS lớp 11- THPT đã có vốn hiểu biết về văn học nói chung và ngôn ngữ văn học nói
riêng.
Cùng với sự phát triển của xã hội thông tin, các em rất cần có những công cụ tư duy hỗ
trợ để nâng cao năng lực chiếm lĩnh và tạo lập các loại văn bản khác nhau trong nhà trường
và ngoài đời sống xã hội. Hướng dẫn các em vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu để lĩnh hội
và tạo lập văn bản là giúp các em rèn luyện thêm một công cụ hữu ìch.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VỀ NGHĨA CỦA
CÂU VÀO VIỆC LĨNH HỘI VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN TRONG CHƢƠNG TRÌNH
2.2.2 Thực trạng dạy học tích hợp nghĩa của câu với lĩnh hội và tạo lập văn bản
2.2.2.1. Thực trạng dạy học của GV
- Đa số GV ( tác giả của các thiết kế bài dạy) không coi trọng kiến thức về nghĩa của câu và
việc tìch hợp các kiến thức đó với việc lĩnh hội và tạo lập văn bản. Các giáo án hầu như dập
khuôn theo SGK và sách GV. Chúng tôi khảo sát 18 giáo án của GV đang đứng lớp và 7 giáo
án lưu hành trên thị trường đối với bài dạy “ Nghĩa của câu” thí có 23 giáo án sử dụng ngữ
liệu giống nhau, các bước lên lớp như nhau.
- Việc rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS chỉ gói gọn trong 2 giờ dạy theo phân phối
chương trính, còn lại hầu như bị bỏ quên
- Không có một quy trính khoa học nhằm rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức.
2.2.2.2 Thực trạng học tập của HS
HS ở bậc THPT học tiếng Việt rất hời hợt, đối phó, gần như không có ý thức suy xét, vận
dụng các kiến thức Tiếng Việt đã học vào tiếp nhận các môn học khác.
Nghĩa của câu là một nội dung kiến thức tiếng Việt nên không tránh khỏi tính trạng nói
trên. HS nắm bắt những kiến thức cơ bản về nghĩa của câu một cách chung chung, không có
ý thức và khả năng vận dụng kiến thức về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản.
2.2.3. Các hiệu quả của dạy học tích hợp nghĩa của câu với đọc hiểu văn bản và tạo lập
văn bản
Học nghĩa của câu, các em không chỉ được học kiến thức tiếng Việt, làm giàu có
thêm tri thức ngôn ngữ cho các em mà các em còn được trang bị một công cụ tư duy để từ đó
phát triển các năng lực tiếp nhận , năng lực tư duy logic, năng lực tư duy tổng hợp, phân tìch
và sáng tạo.
Chƣơng 3: HƢỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 11-THPT VẬN DỤNG HIỂU BIẾT VỀ NGHĨA CỦA
CÂU VÀO VIỆC LĨNH HỘI VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN
3.1. Trang bị kiến thức về nghĩa của câu cho HS lớp 11
3.1.1. Định hướng nhận thức
Trang bị kiến thức về nghĩa của câu cho HS, trước hết phải hướng đến mục tiêu nhận thức
ở hai mức độ cơ bản:
Mức 1: Giúp HS biết ( nhớ, nhắc lại, nhận ra) các thành phần nghĩa của câu.
thống.
Bước 3: Phân tìch đối tượng tím được để xác định đặc điểm của nó, đối chiếu với kiến
thức lì thuyết về nghĩa của câu đã học.
3.2.2.1. Đặc trưng của giờ đọc- hiểu văn bản ở trường THPT
Chúng tôi nhận thấy rằng, dù có những điểm khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu và các
GV đứng lớp đều công nhận một số thao tác quan trọng trong dạy đọc- hiểu văn bản là:
- Hướng dẫn HS chuẩn bị cho giờ đọc- hiểu văn bản.
- Tổ chức, hướng dẫn HS đọc diễn cảm/ trần thuật sáng tạo
- Đặt những câu hỏi tím hiểu văn bản
- Bính, giảng
- Hướng dẫn HS vận dụng tri thức
3.2.2.2. Hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội văn bản
Thao tác 1: Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức về nghĩa của câu trong hoạt động hướng dẫn
HS chuẩn bị cho giờ đọc- hiểu.
Qúa trính chuẩn bị bài không hoàn toàn lệ thuộc vào những cảm xúc mang tình tức thời.
Qúa trính này có thể chia làm hai giai đoạn:
- Đọc
- Muốn biết được văn bản nói gí.
* Các thao tác hướng dẫn của GV
Hoạt động chuẩn bị bài là một hoạt động dạy học ví vậy với một hoạt động bao giờ
người GV cũng phải xác định:
- Mục tiêu của hoạt động
- Cách tiến hành hoạt động
- Thời lượng để thực hiện hoạt động
- Kết luận về hoạt động
Thao tác 2 Hướng dẫn HS vận dụng kiến thức về nghĩa của câu trong khi kiến tạo các câu hỏi
nhằm tím hiểu văn bản trong giờ đọc -hiểu văn bản.
Các thao tác kiến tạo câu hỏi của GV theo hướng tìch hợp vận dụng kiến thức về
nghĩa của câu.
Sau khi đã xây dựng kế hoạch bài dạy, xác định các mục tiêu bài học… GV cần lập bảng 3
Căn cứ vào bảng, GV xác định các yếu tố khả thi để có thể hướng dẫn HS vận dụng hiểu
biết về nghĩa của câu mà trả lời câu hỏi, nói cách khác là dẫn dắt HS vận dụng kiến thức về
nghĩa của câu mà lĩnh hội văn bản.
Bước tiếp theo, GV tiến hành viết câu hỏi.
3.3. Hình thành và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của câu trong việc
tạo lập văn bản
3.3.1. Thực hiện trong giờ luyện tập về nghĩa của câu
Để rèn kĩ năng vận dụng kiến thức về nghĩa của câu trong việc tạo lập văn bản, loại bài
tập tạo lập là thìch hợp và hiệu quả.
Bài lập tạo lập là loại bài tập yêu cầu HS tự mính tạo nên sản phẩm ngôn ngữ theo một
yêu cầu nào đó. Việc thực hiện những bài tập này gắn với những hoạt động nói và viết hàng
ngày của HS nhưng vẫn ở dạng luyện tập theo yêu cầu.
Trong phạm vi giờ học về nghĩa của câu, thời gian luyện tập trên lớp chỉ gói gọn trong
45 phút, GV phải kiến tạo nhiều loại bài tập khác nhau ví những mục tiêu khác nhau, ví vậy,
GV cần cân đối các loại bài tập cho vừa khớp với thời lượng và lực học của HS.
3.3.2. Thực hiện trong giờ làm văn
GV có thể tiến hành hướng dẫn HS vận dụng kiến thức về nghĩa của câu để rèn luyện kĩ
năng viết câu, viết đoạn, dùng từ trong giờ trả bài làm văn, cụ thể là trong khâu phân tìch và
11A3
45
Vũ Thị Thanh Thúy
11A4
45
Nguyễn Thị Minh
Trường THPT
Ngọc Hồi- Hà
Nội
11A1
45
Bùi Thị Thanh Tâm
11A2
45
Nguyễn Thị
Thường
Thời gian thực nghiệm
Để đảm bảo tình khách quan, chúng tôi tổ chức dạy thực nghiệm theo kế hoạch dạy học của
nhà trường, của tổ chuyên môn và theo thời khóa biểu.
4.3. Quy trình thực nghiệm
4.3.1. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm dạy học 3 tiết trên lớp: 2 tiết về nghĩa của câu, 1 tiết
đọc- hiểu văn bản.
GV thực hiện các thao tác dạy học nhằm giúp HS có kiến thức về nghĩa của câu, rèn
luyện để HS có thể có khả năng vận dụng hiểu biết đó trong giờ đọc- hiểu và giờ làm văn.
4.3.2. Cách thức tiến hành
* Trao đổi mục đích thực nghiệm với GV dạy thực nghiệm
* Soạn giáo án dạy thực nghiệm, xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả từ giờ dạy và thiết
kế nội dung bài kiểm tra
* Chúng tôi thiết kế phiếu quan sát hành vi thực hiện hoạt động học tập đọc hiểu văn bản
KẾT LUẬN
Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, luận văn của chúng tôi đã đạt được một số kết quả sau:
1. Chúng tôi đã hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về văn bản, nghĩa của câu trong lì
thuyết ngôn ngữ học; cơ sở tâm lì giáo dục học; thực trạng của việc hướng dẫn HS vận dụng
hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản.
2. Từ cơ sở lì luận và thực tiến trên, chúng tôi đã xây dựng một hệ thống các thao tác
nhằm giúp GV có thể hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và
tạo lập văn bản.
Hệ thống các thao tác này được chúng tôi xây dựng mang ý nghĩa thực tiễn cao, người
GV đứng lớp có thể vận dụng trong thực tế dạy học hiện nay. Chúng tôi đã đưa ra nhiều bài
tập vận dụng, câu hỏi hướng dẫn HS để GV có thể tham khảo.
3. Kết quả thực nghiệm bước đầu khả quan cho thấy tác dụng và tình khả thi của việc
hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu vào việc lĩnh hội và tạo lập văn bản.
4. Qua quá trính nghiên cứu và hoàn thành đề tài, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị,
đề xuất như sau:
(1).Trong toàn bộ chương trính Ngữ văn ở bậc phổ thông, HS chỉ được học 2 tiết về
nghĩa tường minh và hàm ý ở lớp 9, lên lớp 11 cũng chỉ dành thời lượng 2 tiết để dạy về
nghĩa của câu. Kiến thức về nghĩa của câu là kiến thức khó nhưng lại cần thiết cho HS trong
việc nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng. Am hiểu, có kĩ
năng sử dụng và vận dụng kiến thức về nghĩa của câu sẽ giúp HS không chỉ giữ gín sự trong
sáng của tiếng Việt mà còn giúp HS có thể làm cho tiếng Việt có vị thế xứng đáng hơn trong
hoạt động giao tiếp của các em. Ví vậy, kiến thức về nghĩa của câu cần được dạy cho HS một
cách đầy đủ hơn với thời lượng xứng đáng hơn.
(2) Thành tựu nghiên cứu về nghĩa của câu hiện nay đã được khẳng định trong nhiều
công trính khoa học ngôn ngữ và nhiều công trính nghiên cứu ngôn ngữ rất có giá trị cập
nhật. Nhưng nội dung lì thuyết về nghĩa của câu trong SGK còn rất sơ lược, chỉ ở mức nhận
diện đơn giản, làm cho HS và GV lúng túng khi phải phân biệt các kiến thức ở lớp 9 và lớp
11. Chúng tôi kiến nghị nên xây dựng hệ thống kiến thức về nghĩa của câu một cách đầy đủ
hơn, cập nhật thông tin thành tựu khoa học hơn khi đưa vào SGK và SGV.
5. Tuy nhiên, do thời gian có hạn, phương tiện và địa bàn thực nghiệm còn nhiều khó
12. Trương Dĩnh (2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp. NXB Giáo
dục
13. Nguyễn Văn Đường (chủ biên, 2006), Thiết kế bài dạy Ngữ văn 11. NXB Hà Nội
14. Cao Xuân Hạo (chủ biên,1999), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt- câu. NXB Giáo dục
15. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đính Sử (2004), Từ điển thuật ngữ văn học.
NXB Giáo dục
16. Lưu Đức Hạnh(2008), Thiết kế bài dạy Ngữ văn 11. NXB Giáo dục
17. Nguyễn Chì Hòa (2008), Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, NXB
ĐHQGHN
18. Võ Lì Hòa, Các đặc trưng ngôn ngữ cơ bản của văn bản tóm tắt, Tạp chì Ngôn ngữ,
số 4, tr28-40,năm 2009
19. Nguyễn Văn Hiệp(2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích ngữ pháp. NXB Giáo dục
20. Nguyễn Thúy Hồng (2007), Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn học sinh
THCS và THPT. NXB Giáo dục
21. Đỗ Việt Hùng (1998), Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong việc day học
tiếng Việt. NXB Giáo dục
22. Phan Trọng Luận(1999), Phương pháp dạy học văn. NXB ĐHQG Hà Nội
23. Phan Trọng Luận( 2008), Thiết kế bài dạy Ngữ văn 11. NXB Giáo dục
24. Phan Trọng Luận (2003), Văn chương và bạn đọc sáng tạo, NXB ĐHQG Hà Nội
25. NguyÔn ThÞ L¬ng (2009), C©u tiÕng ViÖt, NXB §ại học sư phạm
26. Đăng Lưu, Tu từ cú pháp trong câu văn Nguyễn Tuân, t/c Ngôn ngữ số 12, tr16-24,
2009
27. Lê Sử, Hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản nghị luận từ phương diện ngôn ngữ, t/c
Ngôn ngữ số 4, tr75-80, 2009
28. Tạp chì Văn học và tuổi trẻ (2008), ThiÕt kÕ bµi d¹y ng÷ v¨n THPT- NXB gi¸o dôc
29. Ph¹m Toµn (2006), C«ng nghÖ d¹y v¨n, NXB Gd
30. Trần Thị Chung Toàn (2010), Chủ thể văn bản và vấn đề giảng dạy tiếng Nhật cho
sinh viên Việt Nam. Tạp chì Ngôn ngữ số 4- 2010. tr.69
31. Nguyễn Minh Thuyết- Nguyễn Văn Hiệp (1999), Thành phần câu tiếng Việt, NBX
ĐHQG HN