Bài 6 BỐ TRÍ DÂY CHUYỀN SẢN XUẤT
I. Các dạng chuyền may lý thuyết:
Có các loại dây chuyền may như sau :
1/ Dây chuyền hàng dọc :
p dụng may những sản phẩm đơn giản như hàng dệt kim. may mũ giày…
Trong chuyền này, máy sắp xếp theo thứ tự lắp ráp và theo hàng dọc không có sự
quay lui của sản phẩm.
Ưu điểm :
- Gọn nhẹ, dễ điều khiển dây chuyền và quản lý sản phẩm.
- Chuyển biến hợp lý các bước công việc.
- Công nhân được chuyên môn hóa vì may chuyên một thao tác.
- Dễ cơ gới hoá qúa trình sản xuất ( băng chuyền tự động ).
- Giảm bớt người điều hàng (công nhân sau tự lấy hàng của công nhân
trước).
Khuyết điểm :
- Bắt buộc phải tôn trọng tuyệt đối qui trình công nghệ.
- Chuyền may bò xáo trộn khi công nhân vắng mặt, cần có người dự trữ biết
may các thao tác.
- Dễ gây nhàm chán cho công nhân may.
- Diện tích dây chuyền lớn.
3/
Dây chuyền nhóm đồng bộ :
Dạng dây chuyền này áp dụng cho phân xưởng sản xuất nhiều mặt hàng
khác nhau hoặc mặt hàng phức tạp. Phân xưởng được chia thành nhóm chủng loại
hoặc nhóm máy hoặc nhóm công việc. TD : nhóm máy 1 kim có thể có bộ phận
may những chi tiết có đường may ngắn , nhóm may chi tiết có đường may dài,
hoặc bộ phận may túi, hoặc bộ phận may tay, bộ phận may cổ…
Vai trò của nhóm : làm tất cả công việc của một loại. Công nhân làm nhiều
thao tác hơn ở dạng dây chuyền trước như là may hoàn toàn một túi mổ chứ không
may một phần của túi.Công nhân độc lập làm việc dưới sự hướng dẫn của nhóm
trưởng, không phụ thuộc nhiều vào công nhân khác.
Phân bổ công việc : bán thành phẩm được cột thành từng bó nhỏ. Công
nhân nhận 1 bó từ 10 - 30 lớp, khi may xong, công nhân nhận thêm bó khác. Hệ
thống dây chuyền này cần có xe nhỏ hoặc giá đẩy hàng để đem hàng đến bất kỳ
cho những vò trí làm việc.
Cân đối các vò trí làm việc phải làm dần dần theo NĐSX của nhóm.
Chuyền trưởng phối hợp tiến độ làm việc của các nhóm để đảm bảo tiến độ sản
xuất cả chuyền đồng bộ. Chuyền may dạng này thường áp dụng may áo gió.
- Kiểm tra trong chuyền cần nhiều bàn để nhận những bó đã làm xong và
phân bổ lại cho nhóm khác.
- Thời gian ra hàng khó xác đònh chính xác vì năng suất biến động trong
nhóm và trong chuyền.
- Huấn luyện công nhân lâu dài vì phải làm rất nhiều thao tác cho mỗi vò
trí.
4/ Dây chuyền bó tiến dần :
Công việc được thực hiện theo bó, các lớp chi tiết có một hay nhiều thao
tác cùng một giá trò thời gian được cột thành một bó. Những bó này được phân bổ
cho công nhân tùy theo thứ tự hợp lý của qui trình may. Sao đó được tập trung lại,
kiểm tra và phân bổ tiếp.
Phân chia công việc : cân đối được thực hiện như dây chuyền dọc và theo
bó. Công việc phải điều hòa và đồng bộ trong những vò trí làm việc ( sức làm của
những vò trí làm việc phải bằng nhau, chênh lệch 5% -10% ), công nhân độc lập
với nhau. Có người kiểm tra đếm những bó đến và mang đến cho những vò trí làm
việc khác. Công nhân được tập trung thành những bộ phận theo loại công việc
hoặc theo chi tiết của sản phẩm. Số người kiểm tra tùy theo số công nhân và số
nhóm. Một người kiểm tra và phân bổ bó cho 4 - 10 công nhân. Con số này còn
3
tùy thuộc vào tính đơn giản hay phức tạp của sản phẩm, số mã hàng được may
cùng một lần.
Người kiểm tra sẽ giao những bó từ bộ phận trước và sau khi kiểm tra, giao
cho công nhân tiếp theo. Công nhân trong cùng một nhóm không bắt buộc phải
nhận những bó hàng cùng một lần. Bó được đi từ nhóm này sang nhóm khác, có
têrn là bó tiến dần.
Chú ý một bó được may xong bởi một công nhân, được người kiểm tra lấy
đi kiểm tra. Bó này có thể giao cho công nhân của nhóm tiếp theo hoặc cho công
nhân của nhóm đã thực hiện bó này.
BTP
Tập trung
Hệ thống
chuyển giao
Phướng pháp
chuyển giao
Chú thích
Hệ thống
đồng bộ
Phân công lao
dộng theo công
đoạn
Theo từng
chiếc
Chuyển bằng
tay
Bố trí theo
công đoạn
Hệ thống bó Phân công lao
dộng theo công
đoạn
Theo lô (bó) Chuyển bằng
tay
Bố trí theo
công đoạn
Hệ thống
đồng bộ theo
đơn vò
Phân công lao
dộng theo công
đoạn
Theo lô (bó) Chuyển bằng
Đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa về may mặc sau những năm 1960. Hệ thống
ngày được phổ biến vào những năm 1970.
3/
Hệ thống JUSS (Juki Unit Tynchno System):
Đây là phương thức sản xuất thích hợp nhất với dạng: sản xuất nhiều mẫu
mã nhưng với số lượng ít (quần áo nữ). Quần áo nữ là những loại quần áo phức tạp
nhất, sử dụng máy tự động, thiết bò trong đoạn lắp ráp bao gồm 3 loại: Máy chỉ,
vắt sổ, bàn là. Thông thường từ trước đến nay được tổ chức như vậy. Nhưng với
JUSS thì cùng với 3 loại nói trên thêm một quá trình nhữa, tổ chức công nhân trong
dây chuyền khoảng 20 người, mỗi nhóm khoảng 2-3 người. Trong phạm vi biến
đổi ít sẽ phân chia các chi tiết sản phẩm và lắp ráp trong quá trình thêm. Di
5
chuyển sản phẩm bằng phương thức vận chuyển thủ công, phân biệt ra màu sắc,
cân bằng khoảng cách giữa các dây chuyền.
Các dạng hệ thống sản xuất dạng tự động hóa:
1/ Hệ thống treo Hanger:
Bán thành phẩm di chuyển từng chiếc.
Khoảng cách giữa các máy là 1500mm – 1800mm
* Quần âu:
1 dây chuyền may thân trước: 9 vi trí
1 dây chuyền thân sau : 13 vò trí
1 dây chuyền lắp ráp : 28 vò trí
* Áo sơ mi:
2 dây chuyền lắp ráp : 13 x 2 = 26 vò trí
* Áo đầm:
1 dây chuyền lắp ráp : 14 vò trí
2/ Hệ thống Flow Convey:
* Quần short:
Lấy sản phẩm từ bộ phận đựng đang từ ở vò trí làm việc đặt tạm thời trên
bàn máy. Sau khi làm xong 1 lô, trả lại bộ phận đựng. Bán thành phẩm trong lô : 5
a. Liên hợp: ( Hàng dọc)
Bán thành phẩm đi theo đường thẳng hoặc đi theo đường zic-zac. Rải hàng
từng cái hay theo bó, nhòp tự do, thường năng suất nhỏ để may các mặt hàng ổn
đònh có thời gian thực hiện thấp, cài hàng theo liên tíếp. Đây là kiểu chuyền đơn
giản nhất, hiệu quả thấp nhất.
b. Băng chuyền với nhòp chặt chẽ:
Rải hàng từng cái theo chu kỳ,liên tiếp hay tổng hợp, bán thành phẩm
chuyển động theo đường thẳng. Năng suất trung bình hay lớn thường sử dụng với
các mặt hàng có thời gian lớn và kích thước lớn, mặt hàng ổn đònh.
c. Băng chuyền với nhòp tự do:
Cài hàng liên tiếp, chu kỳ, bán thành phẩm di chuyển theo đường thẳng hay
đường tròn trong các hộp con, các xe con trên băng chuyền. Băng chuyền với
đường chuyền bán thành phầm là thẳng được áp dụng ở khu vực lắp ráp khi may
các mặt hàng có sản lượng lớn như quần âu, áo sơ mi, áo gió….Băng chuyền đường
vòng thì bán thành phẩm chuyển động trong vòng khép kín và được đặt trong các
thùng nhỏ, thường được áp dụng may các mặt hàng áo đầm, áo nữ. Thỉnh thoảng
kiểu chuyền này được sử dụng ở khu vực may chi tiết với các mặt hàng mặt ngoài.
d. Nhóm liên hợp: (theo nhóm đồng bộ)
Được chia theo các nhóm chuyên môn để may các chi tiết riêng biệt. Công
nhân được bố trí theo nhóm và chuyên môn hóa cao. Cài hàng có thể theo 3 cách:
liên tiếp, chu kỳvà tổng hợp, cài hàng từng bó, nhòp tự do, bán thành phẩm được
đưa theo các phương tiện khác nhau. Thường được sử dụng để làm các mặt hàng
ổn đònhcó kích thước nhỏ (chuyền trung bình và lớn) và áp dụng ở khu vực may chi
tiết đối với các mặt hàng mặc ngoài.
III. Những điểm cần lưu ý khi thiết kế dây chuyền may:
Dây chuyền công nghệ được thành lập trên cơ sở quy trình may sản phẩm,
có sự hợp tác với tổ trưởng và đốc công, bởi vì ở đây không những ta phải lưu ý tới
tình trạng thiết bò mà còn phải chú ý đến khả năng và tâm sinh lý của những người
tham gia vào dây chuyền.
8
Bài 7 BỐ TRÍ MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG
I. Đònh nghóa:
Là phương pháp săp xếp đem lại hiệu quả nhất cho máy móc và thiết bò
cũng như sự giảm tối đa chi phí sản xuất bằng cách cung cấp vật liệu và bán thành
phẩm nhanh nhất và giảm tối đa công việc chuyển giao từ vò trí này qua vò trí khác
trong suốt quá trình sản xuất từ khi nhận nguyên liệu cho đến khi giao s3n phẩm
cuối cùng. Để đạt những mục đích ấy, việc kế hoạch hóa bố trí phải được xem xét
từ nhiều góc độ kể cả việc chọn đòa điểm, bố trí nhà xưởng và máy móc.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bố trí:
- Yếu tố tài chính: lực lượng lao động, nguyên liệu tại chỗ, người sử dụng
và những bộ phận liên quan.
9
thước của chúng. Thiết kế mặt bằng phải đúng theo quy trình công nghệ, các vò trí
làm việc phải được sắp đặt hợp lý, đảm bảo tổ chức sản xuất một cách tốt nhất,
đáp ứng các điều kiện phân xưởng. Trong khi thiết kế mặt bằng phải chú ý sao cho
phân xưởng phải rộng và thoáng đạt, được chiếu sáng tốt và vận chuyển thuận lợi.
Phải chú ý tránh sự chuyển động vô ích của bán thành phẩm tại chế. Các vò trí làm
việc không được gần nhau quá, cũng không được xa nhau quá, khoảng cách trung
bình giữa các vò trí làm việc là 60 cm. Mỗi một vò trí làm việc có ký hiệu riêng của
mình và được đánh số theo số thứ tự trong bản thiết kế dây chuyền công nghệ. Các
loại ký hiệu cũng như các ký hiệu khác về đường vận chuyển của hàng đều phải
được giải thích rõ ở góc bản thiết kế. Đồng thời phải ghi rõ số lượng máy, số lượng
công nhân.
Trong bản thiết kế mặt bằng không được quên đặt máy dự bò. Bàn thu hóa
bao giờ cũng đặt ở cuối chuyền và gần cửa sổ để được chiếu sáng tốt. Việc thiết
kế mặt bằng phân xưởng vô cùng phức tạp cho nên trước khi thực hiện phải kiểm
tra kỹ rồi mới sắp đặt thiết bò theo như bản thiết kế.
Lưu ý : Ở nước ta hiện nay, thường trong thực tế sản xuất bỏ qua việc thiết
kế mặt bằng phân xưởng mà thường là giữ cố đònh việc sắp đặt thiết bò. Trong điều
kiện lao động thủ công của ta, việc vận chuyển hàng vẫn do công nhân bốc vác từ
nơi này sang nơi khác cho nên việc sắp đặt thiết bò không theo thứ tự của dây
chuyền cũng không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất. Ở các nước có công nghiệp
may tiên tiến, việc vận chuyển đã tự động hóa bằng băng chuyền cho nên việc sắp
đặt thiết bò tuân theo dây chuyền phải được tuyệt đối tuân thủ nhất là đối với dây
chuyền hàng dọc.
III. Các số liệu liên quan đến việc bố trí mặt bằng:
1/ Xác đònh diện tích gian xưởng :
Diện tích chiếm chỗ của dụng cụ và thiết bò. Việc bố trí thiết bò trên dây chuyền
phải thỏa mãn 2 yêu cầu sau :
- Đường đi bán thành phẩm nhỏ nhất.
- Tốn ít diện tích nhất.
d
và tổng
chiều rộng thiết bò R
tb
nằm trong một dãy máy trong một chuyền.
D
dc
= K
tb
. (X
tb
– 1) + R
tb
. X
tb
(m)
X
tb
: số thiết bò trong dây chuyền
Chiều rộng dây chuyền R
dc
chính là khoảng cách giữa các thiết bò K
n
theo chiều
ngang và tổng chiều dài các thiết bò D
tb
nằm trong một dãy máy trong một chuyền.
D
dc
= K
- May vải màu nhạt : 200 - 300 lux
May vải màu đậm : 300 - 1000 lux
- Kiểm tra may mẫu : 2000 lux
( Lux là đơn vò của ánh sáng )
Thí dụ : Kích thước các chỗ làm việc như sau :
Phòng quản đốc phân xưởng, trưởng ca và các nhân viên là 2,5 x 5 = 12,5 m
2
.
Phòng để sản phẩm sau khi may là 2,5 x 4 = 10 m
2
.
3/ Các yếu tố ảnh hưởng đến chỗ làm việc của gian xưởng sản xuất :
- Sử dụng hiệu quả tổ chức sản xuất. Đảm bảo điều kiện thoáng mát, dài rộng
hợp lý, đảm bảo mỹ quan thuận tiện cho việc phục vụ sản xuất.
- Bám sát theo sơ đồ may lắp sản phẩm.
- Bảo quản đủ diện tích bảo quản bán thành phẩm và thành phẩm.
- Các kích thước cơ bản của các loại thiết bò, dụng cụ làm việc, và các đường đi
trong chuyền .
11
Gian xưởng được thiết kế nhằm hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động,
nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm giảm đến mức tối đa các động tác dư thừa.
- Thiết bò phải đáp ứng các điều kiện sản xuất , công suất và trình độ chuyên
môn hóa.
- Đảm bảo các đònh mức sản xuất , chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật.
- Xác đònh kỹ thuật lao động tiên tiến, tổ chức hợp lý chỗ làm việc, khắc phục sự
hao phí về thời gian, giảm bớt phế phẩm và thời gian ngừng máy.
- Điều kiện lao động an toàn, hợp vệ sinh, cơ khí hóa và hợp lý hóa các công
việc nặng nhọc.
- Kiểu nhà xưởng phải hợp lý có tính đến qui trình công nghệ, sự sắp sếp vò trí
thiết bò phải đảm bảo thông suốt trong dây chuyền.
D
px
= D
dc
+ D
2dc
+ D
cp
+ D
các bàn
D
dc
= 24 m
D
2dc
= 1,5 m x 2 = 3 m
D
cp
= 2,5 m
D
các bàn
= bề rộng các bàn + khỏang cách giữa các bàn
= ( 1,25 x 3 ) + ( 1,4 + 1,4 + 0,8 ) = 7,35 m
D
gx
= 24 m + 3m + 2,5 m + 7,35 m = 36,85 m
* Diện tích gian xưởng để sản xuất :
S
gx
= D