Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong
sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp
thành phố Hải Phòng
Nguyễn Thị Hồng Phượng
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Địa chính; Mã số: 60 44 80
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Thu thập số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng trong
2 giai đoạn 2005-2010; Thu thập số liệu về hiện trạng môi trường trong các khu đô thị,
công nghiệp giai đoạn 2005- 2010 (số liệu quan trắc môi trường, tổng lượng chất thải
các nguồn thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn, một số kim loại nặng trong đất);
Đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng công nghệ GIS, Viễn thám cho giai đoạn
2005-2010: bản đồ biến động sử dụng đất (từ đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị,
công nghiệp); bản đồ biến động sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ chất
lượng các thành phần môi trường (theo những thông số đánh giá cơ bản được lựa chọn
) tại các khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ tổng thể biến đổi chất lượng môi trường
trong các khu đô thị, khu công nghiệp. Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Keywords: Địa chính; Chất lượng môi trường; Sử dụng đất; Khu đô thị; Hải Phòng;
Khu công nghiệp
Content
Tính cấp thiết của đề tài
Trong thập niên cuối của thế kỉ 20, đặc biệt là những năm đầu thế kỉ 21, Việt Nam
bước vào thời kì bùng nổ về phát triển đô thị và công nghiệp. Quá trình này giữ vai trò quyết
định trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề
Việt Nam nói chung và tại thành phố Hải Phòng nói riêng.
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường do quá trình phát triển các KĐT, KCN, CCN có
nhiều nguyên nhân khác nhau; Tuy nhiên để đánh giá tổng quan các nguyên nhân chính làm
biến đổi chất lượng môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN từ đó đưa ra
những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đất đai có ý nghĩa rất lớn
trong việc quy hoạch khai thác bền vững nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển tiềm năng kinh
tế, điều kiện tự nhiên sẵn có ở một vùng đất trẻ ven biển như Hải Phòng.
Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường nói chung và đánh giá biến đổi chất lượng
môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN theo phương pháp truyền thống như
thống kê, báo cáo đã được thực hiện; tuy nhiên kết quả đánh giá đó chưa thực sự phục vụ
hữu ích cho nhu cầu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường nhằm hướng tới
phát triển bền vững cho thành phố Hải Phòng.
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển, hệ thống thông tin địa lý (GIS), phương pháp
Viễn thám đã được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá về đất đai, môi trường và
nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác. Để có những đánh giá cụ thể, khách quan, khoa học và
tổng quan được các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển các khu đô thị, công nghiệp
đặt trong mối quan hệ hệ thống với qui hoạch sử dụng đất trên bản đồ ở trạng thái động là
phương pháp mới. Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên đất; đồng
3
thời cũng là một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý ô nhiễm trong KCN, KĐT
góp phần tích cực trong việc phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công
nghiệp gây nên trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Xuất phát từ thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
trong thời gian qua, em đã lựa chọn nghiên cứ đề tài “Đánh giá biến đổi chất lượng môi
trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố Hải Phòng”.
Luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, môi trường các khu đô thị, khu công
nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010.
Chúng ta đều hiểu rằng “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoan đất,
vạc đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên đặc
trưng (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước mặt, chế độ
nước ngầm, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa ) tạo ra những điều kiện
nhất định cho việc sử dụng đất vào các mục đích khác nhau. Như vậy, để sử dụng đất hiệu quả
thì điều đầu tiên chúng ta cần phải nghiên cứu, đánh giá đặc trưng cơ bản của đất đai từng khu
vực, từng vùng, từng lãnh thổ.
Qui hoạch sử dụng đất đô thị là việc bố trí, sắp xếp đất đai đô thị, là hệ thống các biện
pháp kinh tế kĩ thuật; là các phương án khai thác sử dụng triệt để nguồn tài nguyên đất đai đô
thị nhằm thoả mãn những nhu cầu mới của con người, xã hội phục vụ tốt nhất cho chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.2. Các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển KĐT, KCN
1.2.1. Môi trường và phát triển bền vững
Cách đây 40 (năm 1972) tại Stốckhôm, Thụy Điển, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị
quốc tế về môi trường và con người. Tại hội nghị này những người đứng đầu thế giới đã nhất
trí rằng “việc bảo vệ và cải thiện môi trường con người cho các thế hệ ngày nay và mai sau là
mục tiêu cấp bách của nhân loại”. Hội nghị này đã đánh dấu sự ra đời của nhận thức về môi
trường và phát triển. Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển họp vào
tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro đã thành lập Ủy ban phát triển bền vững. Thành quả lớn nhất
của Hội nghị này là Chương trình nghị sự 21 - Một kế hoạch hành động chi tiết cho phát triển
bền vững toàn cầu của thế kỷ 21 và đánh dấu sự cam kết toàn cầu vì sự phát triển bền vững.
Đã có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 của
quốc gia mình. Mặc dù cách tiếp cận của mỗi quốc gia khác nhau, nhưng tất cả các chương
trình đều dựa trên điều kiện thực tế của mỗi nước và đề xuất các vấn đề ưu tiên nhằm đảm
bảo phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường.
Hiện nay, việc sử dụng các thành phần môi trường phục vụ phát triển kinh tế là chưa
hợp lý, còn lãng phí, không thân thiện môi trường và thiếu quan tâm đến tính bền vững.
Nguyên nhân chính là do chưa quan tâm đúng mức đến công tác quy hoạch, kế hoạch phân bổ
hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế ngay từ những giai đoạn đầu ra quyết định
không vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn tài nguyên thiên nhiên là điều quan trọng. Cần
xem xét lợi ích về kinh tế- xã hội - môi trường trước khi chuyển đổi qui hoạch sử dụng đất.
Đồng thời, phải dành quỹ đất xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường, bảo tồn
đa dạng sinh học và ứng phó, thích nghi với thiên tai và biến đổi khí hậu.
Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình
khác nhau, dù các cơ sở này có công nghệ hiện đại đến mấy cũng đều tác động đến môi
trường ở những khía cạnh và mức độ khác nhau (ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, không khí,
khói, bụi, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm nhiệt độ, độ ẩm ) làm cho các khu vực xung quanh
bị ảnh hưởng. Các nguồn thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường lớn nhất là: nước thải, khí
thải và chất thải rắn.
6
1.3. Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Viễn thám trong đánh giá biến động sử
dụng đất đai, môi trường
1.3.1. Một số khái niệm
1.3.2. Phương pháp đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng GIS
Đánh giá biến động bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoặc công nghệ Viễn thám có
sự khác biệt cơ bản so với phương pháp thống kê truyền thống. GIS có tọa độ không gian, gắn
với vị trí của từng đối tượng trên bề mặt trái đất. Hơn nữa, bằng chức năng phân tích và xử lý
không gian, GIS cho phép phát hiện, xác định mọi loại hình biến động một cách chính xác về
cả chất lượng và số lượng, theo cả không gian của thế giới thực. Sản phẩm của GIS trong
nghiên cứu biến động bao gồm cả đồ thị, các thông số và đặc biệt là các bản đồ có tọa độ địa
lý thực. Nghĩa là GIS có khả năng theo dõi sự biến động theo thời gian thực và không gian
thực, điều mà phân tích thống kê không đáp ứng được.
1.3.3. Các đề tài, công trình đã nghiên cứu sử dụng GIS để đánh giá biến động
đất đai, môi trường trong nước và tại Hải Phòng
Chương 2- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Điều kiện địa lý tự nhiên thành phố Hải Phòng
2.5. Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các KĐT, KCN
2.5.1. Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các khu đô thị
2.5.1.1. Hiện trạng sử dụng đất các khu đô thị
Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I, có 7 quận là: Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân,
Hải An, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và 8 huyện ngoại thành là: Kiến Thụy, An Dương,
Thủy Nguyên, An Lão, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vỹ; Theo số
liệu thống kê năm 2010, toàn thành phố có 33.958,31ha đất đô thị, chiếm 22,29% diện tích tự
nhiên, phân bố ở 7 quận và 11 thị trấn của các huyện gồm thị trấn: Minh Đức, Núi Đèo, An
Dương, An Lão, Trường Sơn, Núi Đối, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ.
2.5.1.2. Định hướng phát triển các khu đô thị
Theo Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn
đến 2050: dân số toàn thành phố khoảng 2.400.000 người; Trong đó đô thị trung tâm là
2.100.000 người và dân số các đô thị vệ tinh là 300.000 người
8
Quy mô đất xây dựng đô thị đến năm 2015 khoảng: 23.000-24.000 ha, với chỉ tiêu là
145m
2
/người; Quy mô đất xây dựng đô thị đến năm 2025 khoảng: 47.500 - 48.900ha, với chỉ
tiêu là 160m
2
/người tại đô thị trung tâm; Trong đó đất dân dụng sẽ đạt 17.100ha, với chỉ tiêu
là 70-84m
2
/người.
2.5.2. Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các KCN
2.5.2.1. Hiện trạng sử dụng đất
Hải Phòng là một trong 5 địa phương có quy mô công nghiệp lớn nhất cả nước. Giá trị
kiểm kê đất đai, diện tích tự nhiên của thành phố tăng thêm 1.260,39 ha so với năm 2000,
nguyên nhân tăng chủ yếu do phù sa bồi đắp, còn lại một phần do đo đạc lại bản đồ địa chính
tại 67 xã, thị trấn và đo vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp ở huyện Cát Hải.
3.2. Biến động sử dụng đất các KĐT, KCN Tp Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2010
3.2.2. Biến động sử dụng đất các khu đô thị
Diện tích đất ở đô thị tăng lên tương đối nhiều, đến năm 2010 diện tích đất ở đô thị
của thành phố là 4.087,15 ha; tăng 332,96 ha so với năm 2005 và tăng 1.328,24 ha so với năm
2000. Diện tích đất ở tại đô thị tăng lên được chuyển từ các loại đất cụ thể sau: đất trồng lúa,
đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối,
đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp, đất quốc phòng, đất an ninh, đất sản xuất kinh doanh
phi nông nghiệp, đất có mục đích công cộng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất bằng chưa sử dụng
và đất đồi núi chưa sử dụng.
3.2.3. Biến động sử dụng đất các khu công nghiệp
Hiện trạng sử dụng đất các khu công nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-
2010 đã có sự biến động; Tổng diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo qui
hoạch năm 2005 là: 5.605ha, năm 2010 là: 23.400 ha; Dự báo đến 2020 là 23.907 ha. Như vậy
biến động sử dụng đất đô thị, khu công nghiệp năm 2010 so với 2005 là 17.795 ha tăng 76% .
3.3. Đánh giá biến động chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị, công
nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010
3.3.1. Đánh giá chung: Quá trình phát triển đô thị trong thời gian qua cũng đang bộc
lộ những hạn chế và bất cập:
Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị chậm hơn rất nhiều so với tốc độ
đô thị hoá. Diện tích đất giao thông đô thị không đủ, mạng lưới đường giao thông phân bố
không đồng đều, không bảo đảm chất lượng; chỉ tiêu về hạ tầng giao thông cũng rất thấp, chỉ
đáp ứng được khoảng 35-40% so với nhu cầu cần thiết trong khi phương tiện giao thông của
người dân tăng rất nhanh
Hệ thống cấp nước, thoát nước đều là hệ thống chắp vá giữa khu đô thị cũ và khu đô
thị mới, giữa lạc hậu và hiện đại, chất lượng nước cấp chưa đảm bảo tiêu chuẩn nước sạch, tỷ
lệ người dân đô thị được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn trong khoảng 80%-90% tuỳ theo
từng khu vực. Khu đô thị chưa có hệ thống thoát nước thải và nước mưa riêng. 100% nước
máy này thải ra với lượng lớn. Ngoài ra tại các điểm tại khu đô thị, công nghiệp thuộc địa bàn
quận Hải An, huyện An Dương và khu vực tập trung các nhà máy thép tại CCN Quán Toan
cũng là các điểm báo động về chất lượng ô nhiễm môi trường không khí
3.3.2.2. Chất lượng môi trường nước mặt (đánh giá chung cho cả chất lượng nước
hồ, sông tại Hải Phòng.
a. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt.
* Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước
thành phố Hải Phòng. Nước thải sinh hoạt có tải lượng hữu cơ cao, làm cho môi trường nước
sông, hồ trên địa bàn thành phố bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng. Nguyên nhân do cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đô thị không phát triển tương xứng, hầu hết nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý
được thải thẳng xuống các mương, hồ, sông trên địa bàn thành phố, làm gia tăng ô nhiễm môi
trường nước mặt.
11
* Nước thải công nghiệp
Ngoài nước thải sinh hoạt, các dòng sông trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn phải tải thêm
nguồn nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp. Hầu hết nước thải của các nhà máy đều
không qua xử lý, mà xả thẳng ra mương, hồ, cống thoát nước khu trung tâm thành phố dẫn
đến trên nhiều đoạn sông, hồ, mương thoát nước thường có màu đen đặc, thậm chí có cả chất
thải rắn, dầu mỡ, bốc mùi hôi thối.
b. Diễn biến chất lượng nước các hồ ở đô thị Hải Phòng
Kết quả quan trắc từ năm 2006 đến 2010 cho thấy, hàm lượng BOD
5
đo đạc tại các hồ
là từ 3,9-104,7mg/l cao hơn chuẩn 2-7 lần so với QCVN 08:2008 (B1). Trong đợt quan tắc
mùa khô, hàm lượng BOD
5
cao nhất tại hồ Tiên Nga năm 2007 vượt 171,6 mg/l, tức tăng gấp
45 lần so với TCCP. Còn trong đợt quan trắc mùa mưa, lượng BOD
Nguồn nước ngầm tại khu vực Hải Phòng có dấu hiệu ô nhiễm Asen, theo kết quả
phân tích của Cục quản lý Tài nguyên nước, trong tổng số 5,096 mẫu nước ngầm phân tích
Asen trên toàn thành phố Hải Phòng có mẫu nước tại xã Mỹ Đồng (huyện Thủy Nguyên )
bị ô nhiễm nhẹ bởi Asen, có 4,984 mẫu nước dưới 0,01mg/l, 111 mẫu từ 0,01 - dưới
0,025mg/l.
Từ các số liệu về quan trắc chất lượng môi trường nước tại 6 con sông chính ở Hải
Phòng (sông Lạch Tray, Cấm, Bạch Đằng, sông Giá, Rế, Đá Độ) trong 2 đợt quan trắc: mùa
khô (tháng 12) và mùa mưa (tháng 8); Kết quả quan trắc tại các hồ điều hòa trong khu vực nội
thành (hồ Sen, Tam Bạc, Tiên Nga, Dư Hàng ) so sánh với các thông số về môi trường:
COD, BOD, TSS, dầu mỡ, NH
3
-N, độ dẫn, độ đục.
Hàm lượng COD trên
các sông tại Hải Phòng đều đạt mức cho phép của QCVN
08:2008 (B1); duy chỉ tại sông Bạch Đằng vượt
TCCP vào năm 2007. Nước sông Bạch Đằng
khu vực nội thành có nguy cơ ô nhiễm chất lượng nước với hệ số tai biến 0,84 (9/20 thông số
bị ô nhiễm). Nước các sông khu vực biên giới giáp ranh với các tỉnh của Hải Phòng có biểu
hiện ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, nitrrit, amoni, dầu mỡ, chì. Giá trị DO cũng đạt tiêu chuẩn
tại hầu hết các sông.
Phần lớn các chỉ tiêu trong nước sông Cấm, sông Lạch Tray đều nằm dưới giới hạn
cho phép đối với nguồn nước mặt sử dụng cho mục đích B1 theo QCVN 28:2008. Nước các
sông có độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS, độ mặn tập trung ở các khu vực gần biển.
Tại tất cả các dòng sông độ mặm và độ dẫn đều có xu hướng giảm dần từ cửa sông đến
thượng lưu sông. Độ mặm và độ dẫn biến động mạnh ở vùng cửa sông, nhưng tương đối ổn
định ở giữa và thượng lưu sông; Độ đục tại đa số các con sông trên địa bàn Hải Phòng có xu
hướng tăng dần từ cửa sông đến thượng lưu. Những khu vực này thường chịu chịu ảnh hưởng
một phần của thuỷ triều nên thường xuyên bị nhiễm mặn khi triều lên (tại khu vực KCN Đình
có xu hướng tăng dần từ vùng gần thượng lưu sông (Đập Minh Đức) đến vùng gần cửa
sông (Cống Phi Liệt).
3.3.2.4. Chất lượng môi trường đất
Nhìn chung hàm lượng kim loại nặng trong đất thấp, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm.
Hàm lượng As dao động trong khoảng 0,1-2 mg/kg; hàm lượng Cd dao động từ 0,2-2mg/kg,
thấp giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất (QCVN 03:2008). Tuy nhiên, tại Tổng
công ty Bạch Đằng, hàm lượng Zn rất cao 767mg/kg, vượt QCVN 03:2008 tới 2,6 lần.
3.4. Thành lập bản đồ chất lượng môi trường tổng hợp
3.4.1. Nguyên tắc đánh giá chất lượng môi trường giai đoạn 2005-2010
Quá trình phát triển các khu đô thị, công nghiệp tất yếu sẽ làm phát sinh các nguồn
gây ô nhiễm môi trường. Tùy vào mức độ, phạm vi, qui mô mà các yếu tố môi trường tác
động ít hay nhiều đến môi trường tự nhiên và đời sống của cộng đồng dân cư tại khu vực và
ảnh hưởng đến vùng, liên vùng.
3.4.2. Nguyên tắc thành lập bản đồ
Là phương pháp tích hợp nhiều lớp thông tin trong GIS, thực hiện theo công thức :
T = 1/n
1
n
(M n)
Trong đó: n: Số lớp thông tin đánh giá
M: lớp chỉ tiêu môi trường (COD, BOD, CO, NO ) được đánh giá
theo Qui chuẩn Việt Nam, Tiêu chuẩn Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi
trường (chi tiết theo mục lục).
3.4.3. Kết quả đánh giá
3.4.3.1. Bản đồ kết quả
Theo nguyên tắc nêu trên, bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường thành phố Hải
Phòng năm 2010 được thành lập qua 5 mức độ đánh giá:
TT
Mức độ đánh giá
hoạt là không đáng kể. Nồng độ bụi và tiếng ồn tại tại các điểm quan trắc ở khu vực nội thành
đều cao hơn TCCP.
Bên cạnh các vùng bị ô nhiễm nặng trọng điểm, các vùng gần vượt ngưỡng cho phép
phân bố khá rộng xung quanh quận: Hải An, Hồng Bàng, Đồ Sơn và thị trấn Minh Đức huyện
Thủy Nguyên. Nguyên nhân chính ở đây các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa lấp
đầy, số lượng doanh nghiệp hoạt động chiếm tỷ lệ thấp; Đồng thời các doanh nghiệp sản xuất
chính đã đi vào hoạt động tại các KCN, CCN chủ yếu là sản xuất xi măng chủ yếu là ô nhiễm
bụi, gây ô nhiễm vượt TCCP (thị trấn Minh Đức, Huyện Thủy Nguyên); khu vực sản xuất
đóng tàu, sản xuất thép nhỏ lẻ của các doanh nghiệp dọc tuyến đường 5 cũ (quận Hồng Bàng),
các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp kỹ thuật cao xen kẽ các doanh nghiệp chế biến sản
phẩm nhựa, giầy da tại KCN Đồ Sơn và dọc tuyến đường 353 đi Đồ Sơn. Tại khu công
nghiệp Nomura, chất lượng môi trường không khí tương đối tốt, nồng độ bụi, SO
2
, NO
2
, CO
đạt TCCP đối với khu dân cư, ô nhiễm do tiếng ồn thấp, qua đó đánh giá KCN quản lý chất
lượng môi trường tốt và hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải của toàn khu (KCN Nomura là
KCN duy nhất trong các KCN trên địa bàn thành phố có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh,
vận hành thường xuyên).
Khu vực ven đô nhìn chung chất lượng môi trường không khí chưa bị ô nhiễm như
khu vực nội thành trừ những nơi có các các KCN, CCN. Tại các khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà,
đảo Bạch Long Vĩ, nhìn chung môi trường không khí chưa bị ô nhiễm.
Bên cạnh ô nhiễm về không khí, ô nhiễm nước mặt nghiêm trọng nhất xảy ra tại 3
quận nội thành cũ: Hồng Bằng, Ngô Quyền và Lê Chân. Hàm lượng BOD tại các hồ, kênh
mương rất cao, lớn hơn TCVN. Hàm lượng amoniăc tại các hồ cao chủ yếu là do ô nhiễm hữu
cơ từ nước thải. Nồng độ các chất dinh dưỡng khoảng 50mg/l đối với tổng nitơ và 5mg/l đối
với tổng phốt pho. Ô nhiễm nước mặt cũng xảy ra tại những khu vực như ở khu vực quận Hải
An.
* Dự báo ô nhiễm tràn dầu đối với phát triển công nghiệp của thành phố
* Dự báo nước biển dâng và diện ngập đối trên địa bàn thành phố
* Dự báo ô nhiễm môi trường từ phát triển giao thông đô thị trên địa bàn thành phố
Hải Phòng đến năm 2020
3.5.2. Giải pháp về quy hoạch môi trường
Để quy hoạch môi trường đi vào thực tế, có ý nghĩa trở thành công cụ để quản lý tài
nguyên môi trường, trước hết chúng ta cần khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động này
đối với các thành phần quản lý khác. Điểm xuất phát phải bắt đầu từ việc bảo vệ môi trường
16
là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế xã hội; nếu chỉ nhấn mạnh đến vấn đề phát triển
kinh tế xã hội trước mắt thì việc áp dụng các chỉ số môi trường vào các dự án quy hoạch lúc
này chỉ mang tính chất hình thức.
Với quan điểm phát triển bền vững, quy hoạch môi trường được thực hiện để:
Giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể về môi trường sinh thái (tự nhiên và nhân
văn) trên lãnh thổ của mình dưới quan điểm của các nhà môi trường học, từ đó đưa ra các
định hướng phát triển trên cơ sở tích hợp nhiều chính sách phát triển chuyên ngành khác.
Trong trường hợp các quy hoạch chuyên ngành đã được xây dựng trước thì quy hoạch môi
trường giúp cảnh báo, điều chỉnh và đưa ra phương án đề phòng;
Các quy hoạch chuyên ngành dùng sản phẩm quy hoạch môi trường để tìm kiếm
phương án hài hòa về phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trường;
Giúp các quy hoạch chuyên ngành khác tham khảo để loại trừ các rủi ro về sự cố
môi trường và đề ra các giải pháp xử lý;
Quy hoạch môi trường có thể coi là một mô hình lý tưởng mà khi có những thành
phần khác tham gia vào, chúng ta có thể biết được điều gì sẽ xảy ra;
Những giải pháp trong quy hoạch môi trường nhắm tới mục tiêu cải thiện chất
lượng môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng và giữ được tốc độ phát
triển kinh tế.
Quy hoạch môi trường hoàn toàn không xung đột với các quy hoạch khác về chức
năng nhiệm vụ. Nó là sản phẩm khách quan về hoạch định các chính sách trên quan điểm của
việc sử dụng đất đai (tức là đảm bảo đất đai được sử dụng theo hướng phát triển bền vững);
Góp phần tiết kiệm chi phí bảo vệ môi trường: ngăn ngừa các tác hại ngoài dự
kiến đối với môi trường (do không tính toán đầy đủ từ giai đoạn hình thành quyết định sử
dụng đất đai v.v.), có các biện pháp chủ động phòng ngừa các tác hại gây ra cho môi trường;
Góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan (bao gồm cán bộ quản
lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, người dân) trong việc bảo vệ môi trường: nâng nhận
thức của họ lên tầm cao hơn (có chiều sâu trong tư duy)…đưa vấn đề bảo vệ môi trường trở
thành vấn đề gần gũi, gắn kết mật thiết với hành vi của từng chủ thể trong quá trình sản xuất,
kinh doanh, tiêu thụ, sinh hoạt của mình;
Thực hiện tốt chủ trương lồng ghép đất đai và môi trường là giải pháp quan trọng
đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững trong mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế cũng như
của toàn xã hội;
Nội dung lồng ghép các yếu tố môi trường, biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử
dụng đất
* Về cách tiếp cận:
+ Về quản lý: Cần thành lập một tổ công tác bao gồm các chuyên gia về môi trường,
về quy hoạch sử dụng đất và phải xây dựng một kế hoạch hành động chung.
+ Về kỹ thuật: Đây là mảng chính trong nội dung lồng ghép, tức là cách thức thực hiện
lồng ghép. Đây bao gồm các nội dung như: cần áp dụng tiêu chuẩn môi trường nào, xác định
dữ liệu hiện trạng, xác định các yêu cầu bảo vệ môi trường, đánh giá tác động như thế
nàov.v…
* Nguyên lý lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trường
18
Xác định các mục tiêu phát triển trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và các
quy hoạch/kế hoạch ngành có tác động tới môi trường;
Xác định các vấn đề về môi trường, xu thế môi trường, điểm nóng môi trường của
khu vực quy hoạch. Đây là các yếu tố sẽ được dùng để xác định hiện trạng môi trường của
khu vực và được đưa vào phần dữ liệu hiện trạng của quá trình lập quy hoạch;
Xác định biện pháp lập quy hoạch giúp cải thiện/giải quyết một số vấn đề về môi
19
tiêu chí đánh giá khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển bền vững” cần được nghiên
cứu và thực hiện.
Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp, cụm công nghiệp không nằm
ngoài ba mục tiêu của phát triển bền vững cần được xem xét ở một số tiêu chí sau: Vị trí địa lý
của khu công nghiệp; Chất lượng qui hoạch khu công nghiệp; Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy
KCN, CCN; Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện; Kết quả và hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp trong KCN, CCN
3.5.5. Xây dựng hệ thống phần mềm và dữ liệu trong ngành tài nguyên và môi
trường
Hiện nay, số liệu quan trắc môi trường, cơ sở dữ liệu về đất đai đã có của Hải Phòng
hầu như chưa được quản lý một cách thống nhất. Số liệu phần lớn được lưu giữ trong phần
mềm M. Access, M. Exel mà chưa có một phần mềm riêng biệt để quản lý và cập nhật. Điều
này gây ra những khó khăn nhất định trong việc quản lý và lưu giữ thông tin cũng như sử
dụng thông tin cho các mục đích khác nhau.
Bên cạnh đó, các phần mềm GIS như Map Info, Arcview, Arc GIS cũng được các cơ
quan nghiên cứu sử dụng trong quản lý dữ liệu. Ưu điểm của các phần mềm này là quản lý
được cả dữ liệu không gian cũng như dữ liệu thuộc tính. Đây là các phần mềm chuyên dụng
phù hợp với mục đích của các nhà quản lý tài nguyên và môi trường. Sử dụng phần mềm vừa
đáp ứng được nhu cầu quản lý, cập nhật các loại dữ liệu rất đa dạng từ hệ thống trạm quan
trắc môi trường, các cơ sở dữ liệu về đất đai, từ đó tích hợp số liệu sẽ hỗ trợ các nhà quản lý
trong việc đánh giá hiện trạng môi trường cũng như diễn biến môi trường từ hệ thống dữ liệu
chung.
Sử dụng công nghệ GIS, Viễn thám nhằm: Quản lý và cập nhật các dữ liệu/số liệu đa
dạng của hệ thống trạm quan trắc môi trường của thành phố Hải Phòng từ các trạm quan trắc;
Hỗ trợ công tác đánh giá nhanh hiện trạng môi trường và đánh giá diễn biến môi trường thông
qua dữ liệu quan trắc một cách nhanh gọn và dễ thực hiện. Mục tiêu này hướng tới hỗ trợ các
nhà quản lý trong công tác đánh giá và quản lý hiện trạng môi trường.
KẾT LUẬN
Hải Phòng là một khu vực kinh tế rất năng động, có nguồn tài nguyên thiên nhiên
của sự phát triển, quyết đinh đến tính chất và cách thức phát triển, như vậy một môi trường tốt
sẽ tạo điều kiện tối đa cho quá trình phát triển. Phát triển kinh tế - xã hội tác động lên môi
trường thông qua khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, là nguyên nhân gây nên
nhưng biến đổi các thành phần bên trong môi trường; Nhưng nếu đặt chất lượng môi trường
lên trên thì các ảnh hưởng trực tiếp đến con người và chất lượng nguồn tài nguyên thiên nhiên
sẽ đảm bảo tính hài hòa với sự phát triển.
Đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu trong quy hoạch và phát triển đô thị, công
nghiệp là việc cần phải làm. Thực hiện phân vùng quản lý môi trường để quản lý phát triển
kinh tế - xã hội và triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường theo mục tiêu phát triển bền
vững là nhiệm vụ trọng tâm.
Để tiếp tục phát triển kinh tế, xã hội với tốc độ tăng trưởng nhanh trong thời gian tới,
đòi hỏi công tác quản lý và bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nhằm bảo
đảm phát triển bền vững là một nhiệm vụ cấp bách đặt ra đối với các nhà quản lý, hoạch định
chính sách phát triển của thành phố. Kiến nghị các nhà quản lý, hoạch định chính sách qui
21
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch sử dụng đất và bảo vệ môi trường thành phố Hải
Phòng sớm đưa ra những cơ chế, chính sách về phát triển bền vững trên cơ sở bảo vệ môi
trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.
References
1. Bộ Chính trị (1999), Chỉ thị 36/CT-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Sự thật, Hà Nội
2. Bộ Chính trị (2003), Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 05/08/2003 về xây dựng và phát triển
thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Hà Nội.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006
về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường, Hà Nội.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2009:Môi trường
trường thành phố Hải Phòng, tỉ lệ 1: 50.000, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc
gia Hà Nội.
18. Nguyễn Cao Lãnh (2009), “Quy hoạch phát triển các Business Park: Mô hình tất yếu cho
đô thị hiện đại”. Chuyên mục quy hoạch đô thị ngày 23/7/2009.
http://mag.ashui.com/index.php/chuyenmuc/quyhoachxaydung/68-quyhoachxay
dung/1329-quy-hoach-phat-trien-cac-business-park-mo-hinh-tat-yeu-cho-do-thi -hien-
dai.html. Ngày truy cập 05/10/2012.
19. “Phát triển bền vững”, http://vi.wikipedia.org/ wiki/Ph%C3%A1t_tri%E1%BB% 83n_b%
E1 %BB%81n_v%E1%BB%AFng;
20. Quốc hội (2003), Luật đất đai năm 2003, Hà Nội.
21. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường 2005, Hà Nội.
22. “Quy hoạch sử dụng đất đai theo hệ thống của FAO (1993)”, http://cnx.org/content/
m29974/1.1/
23. Nguyễn Hạnh Quyên (2007), Nghiên cứu, đánh giá môi trường chiến lược dự án quy hoạch
tổng thể kinh tế xã hội của thành phố Hạ Long và phụ cận đến năm 2010 trên cơ sở sử
dụng hệ thông tin địa lý, Luận án Tiến sỹ, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội.
24. Nguyễn Ðăng Sơn (2005,2006), Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô
thị, NXB Xây dựng, Hà Nội.
25. Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng (2012), Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) thành phố Hải Phòng,
Hải Phòng.
26. Phùng Chí Sỹ (2009), Hiện trạng môi trường và vấn đề quản lý môi trường khu công
nghiệp tại một số tỉnh thành phía Nam, Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường,
TP Hồ Chí Minh.
27. Nguyễn Ngọc Thạch (2007), Xây dựng bản đồ nhạy cảm của các hệ sinh thái với tác động
môi trường nhằm sử dụng hợp lý cảnh quan lãnh thổ cho mục tiêu phát triển bền vững
khu vực ven biển thành phố Hải Phòng, Báo cáo Đề tài mã số QGTĐ 05-02, Hà Nội.
28. Nguyễn Ngọc Thạch (2010), Địa thông tin - Những nguyên lý cơ bản về Viễn thám, Hệ
thông tin Địa lý và GPS, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải
Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội.
39. Trung tâm tư vấn Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2012), Báo cáo hiện trạng môi
trường thành phố Hải Phòng giai đoạn 2006-2010, Viện khoa học Khí tượng Thủy
văn và Môi trường, Hà Nội.
40. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (9/2012), Báo cáo công tác quản lý môi trường
Khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành phố Hải Phòng, Hải Phòng.
24
41. Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp (2006), Khảo sát đánh giá xây
dựng mô hình quản lý môi trường tại các khu công nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
42. Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (2006-2008), Báo cáo nhiệm vụ Quan trắc và
Phân tích môi trường công nghiệp tại một số khu công nghiệp thuộc các tỉnh phía
Bắc, Hà Nội.
43. Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn (2006), Nghiên cứu giải pháp khắc phục những tồn
tại, xác định định hướng và lộ trình thực hiện chiến lược quản lý chất thải rắn ở các đô
thị và khu công nghiệp ở Việt Nam đến 2020, Bộ Xây dựng.
44. Viện Tài nguyên và Môi trường biển (2012), Đề án Qui hoạch mạng lưới quan trắc thành
phố Hải Phòng đến năm 2025, Hải Phòng.