Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân bố nhiệt
độ thấp ở Lai Châu bằng công nghệ viễn
thám và GIS
Trần Thị Tâm
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Bản đồ, Viễn thám và Hệ thông tin địa lý
Mã số: 60 44 76
Người hướng dẫn: PGS.TS. Dương Văn Khảm
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Điều tra, khảo sát và thu thập dữ liệu có liên quan phục vụ công tác
nghiên cứu. Nghiên cứu, đánh giá điều kiện hình thành và mức độ ảnh hưởng của
nhiệt độ thấp đến cây cao su. Xây dựng các bản đồ chuyên đề nhiệt độ thấp bằng
công nghệ viễn thám và GIS tỉnh Lai Châu, tỷ lệ 1/50.000. Đề xuất vùng an toàn
nhiệt độ thấp phục vụ quy hoạch phát triển sản xuất cao su tỉnh Lai Châu.
Keywords: Hệ thông tin địa lý; Xây dựng bản đồ; Cây cao su; Công nghệ viễn
thám; Quy hoạch đất trồng; Bản đồ phân bố nhiệt độ thấp
Content
MỞ ĐẦU
Lai Châu là một tỉnh miền núi phía Bắc được đánh giá là có nhiều lợi thế để phát triển
cây công nghiệp dài ngày nhất là cây cao su, nhưng điều kiện thời tiết cực đoan nơi đây là
một thách thức không nhỏ đối với sự sinh trưởng và phát triển của loại cây này. Nhiệt độ
thấp là hiện tượng rất nguy hại đối với cây trồng, trong đó sự sinh trưởng, phát triển, hình
thành năng suất và hiệu quả kinh tế của các cây dài ngày phụ thuộc rất nhiều vào sự tác
động của nhiệt độ thấp. Tác hại nghiêm trọng của các đợt nhiệt độ thấp đối với các mô
hình trồng các cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là cao su ở vùng Tây Bắc nói chung và
Lai Châu nói riêng trong những năm gần đây đã góp phần minh chứng vai trò và ảnh
số liệu thiếu hụt, nhất là ở các vùng khó tiếp cận. Viễn thám (RS) kết hợp với hệ thống
thông tin địa lý (GIS) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) có thể xây dựng được những bản
đồ hiện trạng với độ chính xác cao đi cùng với nhiều thông tin hữu ích khác mà bản đồ
thông thường không thể có. Vì vậy, việc sử dụng các thông tin viễn thám và công nghệ
GIS, GPS kết hợp với các quan trắc thu được từ bề mặt sẽ đáp ứng một cách khách quan
các thông tin cần thiết như thời gian, phạm vi, mức độ và vị trí của các yếu tố khí tượng
thủy văn (KTTV), khí tượng nông nghiệp (KTNN) đáp ứng kịp thời và đa dạng các số liệu
phục vụ cho công tác nghiên cứu đánh giá và dự báo KTTV, KTNN mà đặc biệt là phục vụ
cho công tác giám sát và cảnh báo tác hại của thiên tai trong đó có nhiệt độ thấp để có các
biện pháp quy hoạch, phòng tránh kịp thời.
Trước những ưu thế rõ rệt của viễn thám, công nghệ GIS và nhu cầu cấp bách trong
việc quy hoạch phát triển cây cao su bền vững, phòng tránh những tác hại của hiện tượng
thời tiết cực đoan đặc biệt là nhiệt độ thấp có hại gây ra, vì vậy việc lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân bố nhiệt độ thấp phục vụ quy hoạch trồng cây cao
su ở tỉnh Lai Châu bằng công nghệ viễn thám và GIS” là hết sức cấp thiết.
Các nội dung nghiên cứu của đề tài được xây dựng trên hệ thống tổng hợp, mà nền tảng
là công nghệ viễn thám và GIS cả phần cứng và phần mềm. Đây là một sản phẩm khoa học
công nghệ hiện đại, thể hiện rõ nét ứng dụng công nghệ tiên tiến kết hợp kiến thức chuyên
môn đa ngành vào công tác quản lý, giám sát thiên tai mà trước mắt là nhiệt độ thấp phục
vụ phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển cao su nói riêng ở Lai Châu, vì
vậy đề tài có tính khoa học và tính thực tiễn cao.
1. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá được nguy cơ và mức độ tác hại của nhiệt độ thấp đối với cây cao su ở
Lai Châu.
- Xây dựng được các bản đồ chuyên đề về nhiệt độ thấp tác động đến cây cao su
bằng công nghệ viễn thám và GIS.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Điều tra, khảo sát và thu thập dữ liệu có liên quan phục vụ công tác nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá điều kiện hình thành và mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ
thấp đến cây cao su.
nghiệp.
- Phương pháp điều tra khảo sát.
- Các phương pháp nghiên cứu đánh giá điều kiện tài nguyên khí tượng thủy
văn bằng các thông tin viễn thám đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới.
- Công nghệ GIS trong việc chuyển đổi lưới toạ độ, thành lập cơ sở dữ liệu,
các bản đồ số hoá.
- Phương pháp chuyên gia, tư vấn.
5. Nội dung nghiên cứu
5.1. Đặc điểm khí hậu Lai Châu
Khí hậu Lai Châu là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh và ít mưa, có
sương muối. Mùa hè nóng, mưa nhiều. Nửa cuối mùa đông là thời kì khô nóng chuyển tiếp
sang mùa hè. Khí hậu Lai Châu được phân hoá thành 2 tiểu vùng có khí hậu rõ rệt là vùng
thấp như Bình Lư, Tam Đường, Than Uyên và vùng cao nguyên như Sìn Hồ, Phong Thổ
5.2. Đặc điểm sinh thái cây cao su
Đất đai: Cây cao su có thể sống trên hầu hết các loại đất khác nhau ở vùng nhiệt đới
ẩm, thích hợp với các vùng đất có bình độ tương đối thấp: dưới 200m. Càng lên cao thì
nhiệt độ càng thấp và ảnh hưởng của gió càng mạnh không thuận lợi cho cây cao su. Bình
độ lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là: vùng xích đạo, trong đó có Việt Nam, có
thể trồng cao su ở độ cao đến 500–600m.
Độ dốc: Cây cao su thường được trồng trên nền đất có độ dốc nhỏ hơn 8%. Với độ
dốc 8 - 30% thì vẫn trồng được nhưng chú ý đến các biện pháp chống xói mòn. Độ dốc liên
quan đến độ phì nhiêu của đất. Đất càng dốc thì xói mòn càng mạnh, khiến các chất dinh
dưỡng trong đất, nhất là trong lớp đất mặt mất đi nhanh chóng. Khi trồng cao su trên đất
dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốn kém như đê, mương,
đường đồng mức…. Hơn nữa, các diện tích cao su trồng trên đất dốc sẽ gặp nhiều khó
khăn trong công tác trồng mới, chăm sóc, thu mủ và vận chuyển mủ về nhà máy chế biến.
Độ sâu tầng đất: độ sâu lý tưởng cho trồng cây cao su là 2m, tuy nhiên trong thực tế
nếu độ sâu tầng đất là 0,8 - 2m thì vẫn có thể trồng được, độ pH trong đất thích hợp cho
cây cao su là 4,5- 5,5, giới hạn pH đất có thể trồng cây cao su là 3,5 - 7,0. Đất trồng cao su
phải có cấp hạt sét ở lớp đất mặt (0 - 30cm) tổi thiểu là 20%, ở lớp đất sâu hơn (>30cm) tối
C, sẽ gây ra hiện tượng mủ chảy dai trong khai thác, làm
giảm năng suất mủ. Nhiệt độ mà cao hơn 40
0
C, gây ra hiện tượng khô vỏ ở gốc cây và dẫn
đến cây chết.
Lượng mưa và ẩm độ: Cây cao su thường được trồng trong những vùng có lượng
mưa 1800- 2500mm/năm, số ngày mưa thích hợp là 100 – 150 ngày/năm. Ẩm độ không
khí bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su là trên 75%, đồng
thời ẩm độ không khí cũng thể hiện tương quan tỷ lệ thuận với dòng chảy mủ khi khai
thác. Bên cạnh lượng mưa thì sự phân bố mưa và tính chất cơn mưa cũng rất quan trọng.
Việc khai thác mủ tập trung vào buổi sáng, vì thế số ngày mưa vào buổi sáng càng nhiều
thì năng suất càng giảm.
Khả năng chịu hạn: Cây cao su có khả năng chịu hạn cao hơn một số cây công
nghiệp khác như: tiêu, cà phê…. Tuy nhiên, cây cao su trồng mới từ 6 tháng trở xuống
không thể chịu hạn tốt do bộ rễ chưa được phát triển đầy đủ, cao su trong vườn ươm thì
không thể chịu hạn quá 1 tháng. Nhưng cao su trồng mới trên 6 tháng có thể chịu hạn trên
4 – 5 tháng.
Khả năng chịu úng: Cây cao su cũng thể hiện một sức chịu đựng tốt. Tuy nhiên, tuỳ
thuộc vào từng giống, đối với cây đang trong giai đoạn cạo mủ, nếu bị ngập sâu khoảng 30
- 40 ngày, thì 75% số cây trên vườn sẽ chết, số còn lại tăng trưởng chậm, cây khô và bong
vỏ nên không cạo mủ được nữa.
5.3. Đặc trưng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su
Để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự sinh trưởng, phát triển và hình
thành năng suất cao su tỉnh Lai Châu, trên cơ sở các ngưỡng nhiệt độ thấp có hại đối với
loại cây này (bảng 2.4), tác giả tiến hành đánh giá các đặc trưng nhiệt độ thấp trên chuỗi số
liệu được xem xét, bao gồm các đặc trưng:
- Khả năng xuất hiện nhiệt độ thấp theo các ngưỡng.
- Ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ các ngưỡng theo các suất bảo đảm.
5.3.1. Ngưỡng nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su
Các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể thực vật (quá trình quang hợp, vận
chính đông (tháng XII, tháng I), tần suất xuất hiện năm là 18%. Để đánh giá mức độ khắc
nghiệt của nhiệt độ thấp theo chỉ tiêu tổng số lần xuất hiện trong năm, thì trung bình 1 năm
chỉ có 0.6 ngày xảy ra, như vậy mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp dưới 5
0
C ở đai cao
này là không đáng kể. Nhiệt độ dưới 10
0
C xảy ra ở tất cả các tháng trong mùa đông, trung
bình 1 năm có 8.86 ngày, tập trung nhiều vào tháng XII (3.67 ngày) và tháng I (2.22 ngày),
các tháng khác chỉ từ 0.31 ngày đến 1.1 ngày, tần suất xuất hiện nhiệt độ tối thấp năm dưới
10
0
C là 85%, tuy khả năng xuất hiện cao, nhưng số ngày xảy ra không nhiều và không liên
tục vì vậy cũng không ảnh hưởng lớn đến cây trồng.
- Ở đai độ cao từ 300 - 600m: đã bắt đầu xuất hiện nhiệt độ dưới 2
0
C tuy nhiên tần
suất xuất hiện năm là rất thấp (8%). Nhiệt độ tối thấp dưới 5
0
C có thể xảy ra bất cứ lúc nào
trong mùa đông, trung bình hàng năm có 1.62 ngày nhiệt độ xuống dưới 5
0
C. Ở ngưỡng
nhiệt độ dưới 10
0
C không chỉ xuất hiện ở trong các tháng mùa đông mà còn xuất hiện ở
tháng chuyển tiếp (tháng IV), trung bình hàng năm có 15.41 ngày trong đó tháng XII có
6.98 ngày và tháng I là 4.15 ngày, tần suất xuất hiện nhiệt độ tối thấp năm dưới 10
0
C là
hiện nhiệt độ tối thấp dưới 10
0
C, thời gian xuất hiện kéo dài cả sang tháng IV, và tháng X,
trung bình hàng năm có 45.2 ngày trong đó tháng XII có 14.28 ngày và tháng I là 14.25
ngày.
- Ở độ cao 1000 - 1500m: trung bình 1 năm có 0.03 ngày có nhiệt độ dưới 0
0
C. Ở
ngưỡng nhiệt độ dưới 2
0
C, tần suất xuất hiện năm là 45%, trung bình năm có 1.1 ngày xuất
hiện. Nhiệt độ tối thấp dưới 5
0
C đã xuất hiện ở trong tháng chuyển tiếp (tháng IV), với tần
suất năm là 97%, hàng năm có 7.41 ngày. Ở độ cao này năm nào cũng có ít nhất một ngày
xuất hiện nhiệt độ tối thấp dưới 10
0
C, thời gian xuất hiện kéo dài cả sang cả 2 tháng
chuyển tiếp (tháng IV, tháng X), trung bình hàng năm có 46.93 ngày, trong đó tháng XII là
13.86 ngày và tháng I là 13.69 ngày.
- Ở độ cao trên 1500m: nhiệt độ tối thấp tuyệt đối năm là -3.3
0
C, xảy ra vào tháng
XII/1999 tại Shìn Hồ. Ở độ cao này nhiệt độ tối thấp dưới 0
0
C xuất hiện ở hầu hết các
tháng trong mùa đông, xác suất xuất hiện là 36% năm, trung bình 1 năm có 1.25 ngày có
nhiệt độ dưới 0
0
C. Ở ngưỡng nhiệt độ dưới 2
IX
X
XI
XII
Tổng
năm
<300
5
0.24 0.36
0.60
10
2.22
0.98
0.31
1.10
0.59
≤ 5
0.57
0.10
0.06 0.19
1.24
2.16
10
9.79
4.74
1.56
0.04
0.14
2.24
9.65
28.16
800
- 1000
≤ 5
2.02
0.96
0.19
2.17
7.41
- 1500
≤ 10
13.69
8.72
5.69
0.55
0.31
4.10
13.86
46.93
>
1500m
≤ 5
5.86
2.68
0.89
0.04 0.04
0.29
1.54
8.86
20.18
94
600 - 800
52
100
800 - 1000
73
100
1000 - 1500
97
100
> 1500
100
100
5.3.3. Ngày bắt đầu và kết thúc các cấp nhiệt độ thấp theo các đai độ cao
Để xác định khoảng thời gian an toàn trong năm đối với các ngưỡng nhiệt độ thấp
có hại cho cao su ở Lai Châu, thông qua chuỗi số liệu quan trắc, tác giả đã tính toán ngày
bắt đầu và kết thúc các ngưỡng nhiệt độ với các suất bảo đảm khác nhau. Kết quả cho thấy
(bảng 2.7):
- Ở các khu vực độ cao dưới 300m: ngày có nhiệt độ dưới 5
0
C là rất ít, xảy ra vào
một số ngày cuối tháng XII và đầu tháng I, vì vậy ngày bắt đầu và kết thúc ngưỡng nhiệt
độ này cũng chỉ tập trung vào một vài ngày trên. Đối với ngưỡng nhiệt độ dưới 10
0
C, ngày
bắt đầu với suất bảo đảm 5% là ngày 16/11, nghĩa là trong 100 năm thì có 5 năm có nhiệt
độ dưới 10
0
C xảy ra trước 16/11 và 95 năm xảy ra sau 16/11. Với suất bản đảm 50% thì
C, để đảm bảo thời gian an
toàn nên gieo trồng cao su trong khoảng từ sau ngày 22/4 và đến trước ngày 14/10.
- Ở độ cao trên 1500m: so với các vành đai khác, vành đai trên 1500m khoảng thời
gian an toàn trong năm khi gieo trồng cao su bị thu hẹp. Thời gian nhiệt độ bắt đầu ảnh
hưởng đến cây cao su là từ ngày 2/10 đến ngày 20/4. Bảng 4. Suất bảo đảm ngày bắt đầu và kết thúc của các ngưỡng nhiệt độ
theo các đai độ cao
Đai độ
cao (m)
Ngưỡng
nhiệt độ
(
0
C)
Bắt đầu -
Kết thúc
Suất bảo đảm (%)
5
20
50
80
95
< 300
10
BD
16/11
04/12
15/12
26/12
02/02
18/02
05/03
29/03
600 -800
5
BD
24/11
04/12
16/12
29/12
12/01
KT
26/12
08/01
22/01
08/02
24/02
10
BD
30/10
14/11
30/11
13/12
28/12
KT
27/01
18/02
05/03
5
BD
01/12
11/12
25/12
19/01
06/02
KT
15/01
03/02
24/02
09/03
22/03
10
BD
14/10
31/10
17/11
21/11
08/12
KT
22/02
13/03
29/03
05/04
22/04
>1500
5
BD
02/11
dưới 10
0
C và kéo dài liên tục trong 3 ngày trở lên (gọi là đợt rét hại đối với cao su) .
Trên cơ sở số liệu nhiều năm, tác giả đã tính toán số đợt rét hại đối với cao su, kết
quá tính toán được thể hiện ở bảng 2.8.
Bảng 5. Các đợt rét hại đối với cây cao su theo các đai độ cao ( Đơn vị: đợt)
Đai độ cao
Số đợt có T
min
<10
o
C
3 ngày liên tục
< 300m
1.6
300 - 600m
2.9
600 - 800m
6.3
800 - 1000m
10.8
1000 - 1500m
18.2
> 1500m
24.6
Để đánh giá mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp tới sự sinh trưởng, phát triển của
cao su, tác giả đã sử dụng chỉ tiêu đợt rét hại, số đợt rét hại trong năm càng nhiều mức độ
khắc nghiệt càng lớn. Căn cứ thực tiễn các đợt rét hại đối với cao su ở Lai Châu, tác giả đã
phân ngưỡng mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp đối với cao su (bảng 6).
Bảng 6. Phân ngưỡng mức độ khắc nghiệt của nhiệt độ thấp
đây là kết quả các bản đồ LST được tính từ ảnh MODIS và NOAA (hình 2).
Ảnh MODIS,
NOAA
Xử lý số liệ u gồ m:
chuyể n đổi hệ tọ a
độ,
Lọ c nhiễ u, lọ c mây
Hệ số phát xạ bề mặ t
Hà m lượng hơi nước W
Các thuậ t toán tính LST
LST a) Theo ảnh MODIS
b) Theo ảnh NOAA
Hình 2. Nhiệt độ bề mặt lớp phủ LST theo ảnh MODIS và NOAA
(đêm 9/2/2010)
Từ hình 2 nhận thấy, kết quả LST từ ảnh MODIS và NOAA có giờ chụp của 2 vệ
tinh gần trùng nhau cho kết quả LST là khá tương đồng. Xét tại một vị trí trên bản đồ, các
giá trị LST theo ảnh MODIS và NOAA hầu hết đều có cùng cấp thang mầu.
5.3.6. Tính toán nhiệt độ không khí tối thấp từ giá trị LST
Để nội suy các yếu tố khí tượng thủy văn, trong đó có nhiệt độ không khí
tối thấp, trước đây thường sử dụng một số phương pháp thống kê truyền thống như:
phương pháp nghịch đảo khoảng cách, phương pháp nội suy đa thức, phương pháp nội suy
tối ưu, phương pháp tính toán theo vị trí địa lý và độ cao địa hình…Tuy nhiên, do mạng
lưới trạm thưa thớt, đặc biệt là vùng miền núi sự phân bố các yếu tố khí tượng khá phức
tạp, nên các phương pháp nội suy này mức độ chính xác không cao.
Với sự ưu việt của công nghệ viễn thám như đã trình bày ở trên, các ảnh vệ tinh có
thể cho biết giá trị từng điểm ảnh tương ứng với độ phân giải. Trên cơ sở các giá trị LST
được tính toán từ ảnh MODIS và NOAA với độ phân giải khoảng 1km x 1 km, có nghĩa là
Dữ liệu thực địa gồm có bản đồ các đối tượng được xác định trực tiếp trong quá trình thực
địa và một bảng biểu miêu tả hình thái, tính chất các đối tượng đó. Tuân thủ các nguyên tắc
xây dựng bản đồ trên nền GIS như đã trình bày ở trên và theo sơ đồ khối trong việc thực
hiện xây dựng bản đồ chuyên đề. Bản đồ được được biên tập phù hợp với tỷ lệ và đáp ứng
các yêu cầu kỹ thuật của quy phạm thành lập bản đồ chuyên đề. Các bản đồ về đặc trưng
nhiệt độ thấp bao gồm:
Bản đồ phân bố thời gian xuất hiện nhiệt độ thấp có hại cho cao su:
Bản đồ này thể hiện diễn biến nhiệt độ tối thấp <=10
0
C là ngưỡng nhiệt độ bắt đầu
ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây cao su.
Bản đồ ngày bắt đầu và kết thúc nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su
Suất bảo đảm ngày bắt đầu, kết thúc nhiệt độ thấp là tổng các giá trị xác suất (%)
của ngày bắt đầu, kết thúc nhiệt độ thấp lớn hơn (đối với ngày bắt đầu), nhỏ hơn (đối với
ngày kết thúc) một ngày nhất định. Qua suất bảo đảm có thể biết khả năng dao động của
ngày xuất hiện nhiệt độ thấp tương ứng với suất bảo đảm sớm hơn hoặc muộn hơn ngày
nào đó so với trung bình nhiều năm (so với chuẩn).
Bản đồ ngày bắt đầu, ngày kết thúc nhiệt độ thấp ứng với mỗi suất bảo đảm thể
hiện khả năng xuất hiện ngày bắt đầu hoặc ngày kết thúc nhiệt độ thấp đối với từng khu
vực cụ thể trên bản đồ. Ví dụ tại khu vực Sìn Hồ ngày bắt đầu nhiệt độ thấp với suất bảo
đảm 80% là ngày 2 tháng 1, có nghĩa là tại khu vực Sìn Hồ trong 10 năm có đến 8 năm
nhiệt độ thấp xảy ra trước ngày 2 tháng 1.
Bản đồ phân bố mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đối với cao su:
Dựa trên dữ liệu nhiệt độ không khí tối thấp từ các trạm quan trắc kết hợp ảnh vệ
chiếm 20.8% và diện tích ảnh hưởng rất nặng là 94.3 km
2
chiếm
4.5%.
Dựa trên số liệu quan trắc và tính toán, tác giả đã thành lập bản đồ phân bố nhiệt độ
thấp, cũng như các kết quả tính toán diện tích đối với từng huyện như sau:
Bảng 7. Diện tích đất tự nhiên có khả năng bị ảnh hưởng của nhiệt độ thấp có hại cho cây cao su ở đai cao dưới 600m tỉnh Lai Châu
References
Tiếng Việt
1. Ban chỉ đạo phát triển cao su tỉnh Sơn La (2011), "Báo cáo tóm tắt tình hình triển khai
chương trình phát triển cây cao su tỉnh Sơn La", Tài liệu báo cáo đoàn công tác Bộ Khoa
học và Công nghệ, Hà Nội.
2. Nguyễn Duy Chinh và nnk (2006), "Kiểm kê, đánh giá tài nguyên khí hậu Việt Nam",
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Viện khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi
trường, Hà Nội.
3. Công ty Cổ phần cao su Lai Châu II (2011), Báo cáo tình hình thực hiện dự án đầu tư
phát triển 10.000 ha cao su tại địa bàn tỉnh Lai Châu, Hà Nội.
4. Lại Văn Chuyển, Vương Hải, Nguyễn Trọng Hiệu (1999), "Điều tra khoanh vùng
sương muối gây hại cây cà phê tỉnh Sơn La", Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp tỉnh,
Hà Nội.
Workshop on climatic analysis and mapping for agriculture, Meteorological Service –
Enviromental Protection and Prevention Agency.
19. Shaohua Zhao, Qiming Qin, Yonghui Yang, Yujiu Xiong, Guoyu Qiu in Earth (2009),
"Comparison of two split window methods forretrieving land surfacetemperature from
MODIS data", EarthSyst.Sci, 118, pp.345–353.
20. Xiangming Xiao et al (2006), "Mapping paddy rice agriculture in South and Southeast
Asia using multi-temporal MODIS images", Remote sensing of Environment 100, pp.95 -
113.
21. Z. Li, H. Liu, L. Xu, J. Ding, and X. Deng (2008), Estimation of Total Atmospheric
Water Vapor Content Using MODIS Channels 31 and 32, Atmospheric Radiation & Satellite
Remote Sensing Lap.