Ứng dụng mô hình (VNU MDEC) tính toán chế độ thủy động lực và vận chuyển trầm tích vùng cửa sông ven biển hải phòng - Pdf 10

Ứng dụng mô hình (VNU/MDEC) tính toán chế
độ thủy động lực và vận chuyển trầm tích vùng
cửa sông ven biển Hải Phòng Phạm Văn Tiến

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Hải dương học; Mã số: 60 44 97
Người hướng dẫn: GS.TS. Đinh Văn Ưu
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Tổng quan về mô hình thủy động lực và vận chuyển trầm tích vùng cửa sông
ven biển Hải Phòng. Nghiên cứu mô hình VNU/MDEC: Mô hình thủy động lực; Mô hình
lan truyền trầm tích lơ lửng; Các phương pháp tham số hóa của mô hình. Tiến hành thực
nghiệm và trình bày các kết quả đạt được: Triển khai mô hình; Kết quả tính toán chế độ
thủy động lực; Kết quả tính toán vận chuyển trầm tích lơ lửng; Ảnh hưởng của các cửa
sông Lạch Tray, Nam Triệu đến chế độ thủy động lực và vận chuyển trầm tích trong khu
vực.

Keywords: Hải dương học; Chế độ thủy động lực; Trầm tích; Hải Phòng Content
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vận chuyển bùn cát vùng cửa sông ven biển là một quá trình động lực phức tạp, đa chiều,
nhiều quy mô. Mô hình hóa mô tả cả trầm tích và các chuyển động của môi trường xung quanh
(nước) và tương tác giữa chúng. Vì vậy, phương pháp tiếp cận mô hình 3D là phương pháp đầy
đủ nhất cho các mục đích mô tả vận chuyển trầm tích. Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc
của khoa học máy tính đã đem lại nhiều thuận lợi trong các tính toán khoa học nói chung và

O'Connor và Nicholson, 1988 cung cấp một mô hình 3D đầy đủ, bao gồm một mô hình
vận chuyển bùn lỏng, có tính đến sự kết bông và cố kết. Katopodi và Ribberink 1992 đã phát
triển một mô hình tựa 3D cho vận chuyển bùn cát lơ lửng trên cơ sở của phương trình bình lưu
khuếch tán cho dòng chảy và sóng, phân tích độ nhạy của các tham số sóng và dòng chảy. Các
mô hình (nghiêng áp) thuỷ động lực và vận chuyển trầm tích đã được phát triển và áp dụng cho
các vùng ven biển (De Kok và cộng sự, 1995).
Năm 1994, Leonor Cancino và Ramiro Neves mô tả và ứng dụng hệ thống mô hình thuỷ
động lực và vận chuyển trầm tích 3D (dạng nghiêng áp, sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn).
Mô hình thủy động lực dựa trên xấp xỉ thuỷ tĩnh và xấp xỉ Boussinesq, sử dụng tọa độ sigma kép
cho chiều thẳng đứng với lưới so le và sơ đồ bán ẩn bậc hai. Ngoài phương trình động lượng và
phương trình liên tục, mô hình giải hai phương trình vận chuyển nhiệt độ, độ muối và một
phương trình trạng thái có tính đến hiệu ứng nghiêng áp. Mô phỏng quá trình vận chuyển trầm
tích gắn kết được thực hiện bằng cách giải các phương trình bảo toàn, bình lưu - khuếch tán 3D,
trong cùng một lưới sử dụng trong mô hình thủy động lực. Qúa trình cố kết, xói mòn và lắng
đọng của trầm tích được biểu diễn bằng các công thức thực nghiệm. Các mô hình đã được thử
nghiệm và hiệu chỉnh bằng cách mô phỏng dòng triều và vận chuyển bùn cát lơ lửng ở các cửa
sông. Hai ứng dụng ở cửa sông Western Scheldt (Hà Lan) và Gironde (Pháp) cho thấy sự phù
hợp tốt giữa kết quả tính toán và đo đạc thực địa.
Năm 2003, Changsheng Chen và Hedong Liu phát triển mô hình 3D tính hoàn lưu khu
vực ven biển và cửa sông. Mô hình dựa trên hệ phương trình nguyên thủy 3 chiều gồm các
phương trình động lượng, liên tục, nhiệt, muối, mật độ và sử dụng mô hình khép kín rối bậc 2,5
của Mellor và Yamada. Mô hình sử dụng hệ tọa độ chuyển đổi sigma cho phương thẳng đứng,
phương ngang sử dụng lưới cấu trúc hình tam giác. Mô hình toán sử dụng phương pháp sai phân
hữu hạn, thể tích hữu hạn và phần tử hữu hạn. Mô hình đã được áp dụng cho biển Bột Hải, cửa
sông Satilla River.
Năm 2005, C.H. Wang, Onyx W.H. Wai và C.H. Hu phát triển mô hình tính toán vận
chuyển trầm tích cho vùng cửa sông Pearl River (vịnh Lingding). Mô hình sử dụng kỹ thuật tách
để giải các phương trình chủ đạo: giải các số hạng bình lưu bằng phương pháp Eulerian-
Lagrangian, sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn cho các số hạng khuếch tán theo phương
ngang và phương pháp sai phân hữu hạn cho số hạng khuếch tán theo phương thẳng đứng. Sơ đồ

biển Hải Phòng, Các khu vực xói lở và bồi tụ tiêu biểu có thể kể đến như Cát Hải (Hải Phòng)
Văn Lý, Hải Triều, Hải Hậu (Nam Định), Ngư Lộc, Hậu Lộc (Thanh Hóa ), Cảnh Dương (Quảng
Bình), Phan Rí, La Gi, Phan Thiết (Bình Thuận), Cần Thạnh (Thành phố Hồ Chí Minh), Gò
Công Đông (Tiền Giang), Hồ Tàu, Đông Hải (Trà Vinh), Cửa Tranh Đề (Sóc Trăng), Ngọc Hiển
(Bạc Liêu), Quá trình vận chuyển trầm tích được nghiên cứu trong Chương trình Biển KT.03
(1991-1995), KHCN.06 (1996-2000), ngoài ra nó cũng được nghiên cứu trong các đề tài độc lập
cấp nhà nước và trong chương trình biển giai đoạn 2001-2005. Ngoài ra nhiều đề tài, dự án liên
quan đến trầm tích lơ lửng được thực hiện tại các cấp, cùng nhiều công trình nghiên cứu được
công bố trong các tạp chí khoa học trong nước.
Đinh Văn Ưu (2003 – 2012), nghiên cứu các quá trình thủy động lực, lan truyền vật chất
bằng mô hình 3D (MDEC). Trong thời gian này, tác giả đã phát triển và hoàn thiện dần mô hình
cho mục đích nghiên cứu thủy động lực, vận chuyển trầm tích và lan truyền chất gây ô nhiễm
môi trường. Mô hình sử dụng hệ phương trình bình lưu khuếch tán đầy đủ đối với các tính toán
thủy động lực và nồng độ trầm tích lơ lửng và phương trình bảo toàn khối lượng để tính toán sự
biến đổi của độ dày lớp đáy lỏng. Một số kỹ thuật tính toán mới đã được phát triển và áp dụng
cho phép linh hoạt hơn trong quá trình thiết lập các điều kiện biên có mực nước và lưu lượng
biến đổi phức tạp như các cửa sông.
Năm 2010, Nguyễn Thọ Sáo, Nguyễn Minh Huấn, Ngô Chí Tuấn và Đặng Đình Khá
phân tích đánh giá biến động trầm tích lơ lửng, trầm tích đáy và diễn biến hình thái khu vực cửa
sông Bến Hải và vùng ven bờ Cửa Tùng trên cơ sở số liệu 2 đợt khảo sát do khoa KT-TV-HDH
thực hiện 8/2009 và 4/2010 và thu thập của Công ty Tư vấn GTVT (TEDI) năm 2000. Vũ Thanh
Ca, Nguyễn Quốc Trinh, áp dụng phương pháp tính sóng có năng lượng tương đương vào tính
toán vận chuyển bùn cát dọc bờ khi nghiên cứu về nguyên nhân xói lở bờ biển Nam Định.
Năm 2011, Nguyễn Mạnh Hùng, Dương Công Điển, Nguyễn Vũ Thắng tính biến động
bờ biển khu vực huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định dưới tác động đồng thời của sóng và dòng chảy
bằng cách chạy đồng thời các mô hình tính dòng chảy và sóng. Các mô hình được sử dụng gồm
ADCIRC, CMS-M2D, SWAN và STWWAVE. Phạm Sỹ Hoàn và Lê Đình Mầu áp dụng mô
hình ECOMSED tính toán vận chuyển vật chất lơ lửng tại dải ven biển cửa sông Mê Công. Mô
hình sử dụng phương trình liên tục, phương trình cân bằng thỷ tĩnh, các phương trình bảo toàn
nhiệt-muối, phương trình vận chuyển vật chất, kỹ thuật phân tách dạng dao động do Simons

Dòng chảy sông có sự biến đổi rất lớn theo mùa, tương ứng với mùa mưa và mùa khô có
mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ thường bắt đầu chậm hơn mùa mưa một tháng (vào tháng 6 - 10),
mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa cạn, lượng nước từ thượng lưu về ít, nguồn nước
trong sông chủ yếu do nước ngầm và thủy triều, lưu lượng nước chỉ chiếm 15 - 20% cả năm.
2.2.2.3. Đặc điểm hải văn
a. Thủy triều
Thủy triều trong khu vực Hải Phòng có chế độ nhật triều đều thuần nhất. Đây là vùng có
biên độ triều khá cao của miền Bắc. Thời gian trung bình triều dâng 11-12h, thời gian triều rút
13-14h. Thông thường trong ngày xuất hiện 1 đỉnh triều (nước lớn) và một chân triều (nước
ròng). Trung bình trong một tháng có 2 kỳ triều cao, mỗi chu kỳ kéo dài 11 - 13 ngày với biên
độ dao động mực nước có thể đạt tới 2,0 m. Trong kỳ triều thấp, tính chất nhật triều giảm đi rõ
rệt, tính chất bán nhật triều tăng lên, trong ngày xuất hiện 2 đỉnh triều. Hàng năm, thủy triều có
biên độ lớn vào các tháng 5, 6, 7 và 10, 11, 12, biên độ nhỏ vào các tháng 3, 4 và 8, 9.
b. Dòng chảy
Chế độ dòng chảy vùng ven biển và đảo khu vực Hải Phòng rất phức tạp, thể hiện qua
mối quan hệ tương tác giữa thuỷ triều, sóng, gió, dòng chảy sông, địa hình khu vực. Dòng chảy
ven bờ trong khu vực là tổng hợp của các dòng chảy triều, dòng chảy sóng ven bờ, dòng chảy
gió, dòng chảy sông, trong đó dòng triều có vai trò chính, quy định tính chất của dòng tổng hợp.
Dòng triều mang tính chất thuận nghịch, elíp triều dẹt, định hướng theo luồng, lạch, cửa sông
hoặc song song với đường bờ.
c. Sóng
Sóng ven biển Hải Phòng chủ yếu là sóng truyền từ ngoài khơi đã bị khúc xạ và phân tán
năng lượng do ma sát đáy. Theo số liệu sóng tại trạm Hòn Dáu từ 1960 – 2002 cho thấy, trong
mùa đông sóng có các hướng chính là hướng Đông, Đông Bắc, tần suất tương ứng là 40%, 12%.
Độ cao sóng trung bình các tháng mùa đông là 0,64 m, độ cao sóng cực đại đạt 2,8 m. Trong
mùa hè sóng thịnh hành là hướng Nam và Đông Nam, với tần suất tướng ứng là 27% và 37%. Độ
cao sóng trung bình 0,72 m, độ cao sóng cực đại đạt 5,6 m.
d. Nhiệt độ nước biển
Theo số liệu tại trạm Hòn Dáu từ 1960 – 2002 cho thấy, trong các tháng mùa đông, nhiệt
độ nước biển thường thấp hơn 25

pha trong nước và trầm tích lơ lửng với các quy mô thời gian tháng và mùa.
Trong báo cáo này, học viên tập trung tính toán, phân tích các kết quả thu được đối với
trường dòng chảy, mực nước và trường trầm tích lơ lửng vùng cửa sông ven biển Hải Phòng.
Đánh giá vai trò và các tác động của các sông đến chế độ thủy động lực và vận chuyển trầm tích
lơ lửng trong khu vực.
2.1. Mô hình thủy động lực
2.1.1. Hệ các phương trình động lực biển nguyên thủy
0. v


(2.1)





3



quefuv
t
u
h
(2.2)
T
FTv
t
T












x
k
xx
b
x
u
kv
t
k
kb
~~
~
.
0
3
2
3


(2.5)


2
2
1
1
x
e
x
e
h






;
33
euuv


;
gb
0
0




; f =

- mật độ nước (

0
mật độ quy chiếu),


,
T
F

,
S
F

: thông lượng rối riêng phần của động
lượng, nhiệt lượng và lượng muối; hạng thức năng lượng bổ sung từ các quy mô vừa và nhỏ 
0

sẽ bị triệt tiêu khi mô phỏng hoàn lưu tổng hợp với quy mô thời gian hàng giờ trở lên.
2.1.2. Phương pháp biến đổi tọa độ cong σ
Mô hình MDEC3D sử dụng phương pháp biến đổi tọa độ

kép. Trong mô hình này
phân bố thẳng đứng được phân thành hai vùng Region I và Region II, ranh giới giữa hai vùng
được xác định bằng H
LIM
, trong bài toán này sử dụng H
LIM
=1,86m. Với sự lựa chọn phân vùng ở
trên, theo chiều thẳng đứng mô hình gồm 5 tầng, 1 tầng ở lớp nước mặt và 4 tầng ở lớp nước bên











s
cw
z
cw
z
cv
y
cu
xt
cz
c
zy
c
yx
c
x
zyx

z
c
cw
zs











(2.33)
Trong đó Q là suất trao đổi trầm tích trên một đơn vị diện tích bề mặt do kết quả của
các quá trình lắng đọng (D) và bứt tách (E). Đối với chất lơ lửng là phù sa - một hợp phần tựa
bền vững với các nguồn xuất - nhập hầu như chỉ xẩy ra trên biên, vì vậy chỉ cần chú ý duy nhất
đến quá trình lắng đọng.
2.2.2. Mô hình biến đổi độ dày lớp trầm tích đáy lỏng
Sử dụng phương trình bảo toàn khối lượng để nghiên cứu biến đổi của độ dày lớp đáy
lỏng:

EDq
t





Trong mô hình VNU/MDEC, sử dụng phương pháp thể tich hữu hạn với sơ đồ lưới
Arakawa C hiện theo phương ngang và ẩn theo phương thẳng đứng.

a. Xác định sơ đồ lưới Arakawa C theo
phương ngang, η và các đại lượng vô hướng
HCI(I,J,K) được xác định tại trung tâm ô
lưới, các điểm ; u, HUI(I,J,K) và v,
HVI(I,J,K) được xác định trên ranh giới
giữa các ô tại các điểm các điểm , .
b. Xác định sơ đồ lưới Arakawa C theo
phương thẳng đứng. Chú ý rằng tầng thấp
nhất k=1 và tầng cao hơn k=kmaxI không
nằm trong miền tính. Miền tính giới hạn từ
k=2, … , KSUPI=KMAXI-1

Hình 2.1. Sơ đồ lới 3D Arakawa C
2.2.3. Phương pháp tách mod ( mode- splitting)
Để triển khai mô hình, cần tiến hành lấy tích phân phương trình (2.1) theo độ sâu trong
hệ tọa độ đã chuyển đổi, ta thu được phương trình bảo toàn khối lượng:
0. 


U
t
h

(2.61)
trong đó U là véc tơ dòng vận chuyển:



Tên
phương
án
Các điều kiện tại các biên cửa sông, biên mặt biển
Giá trị gia tăng mực nước
tại các biên cửa sông (


)
Gió
Tham số trầm tích
lơ lửng tại các biên
cửa sông
Lạch
Tray
Bạch
Đằng
Lạch
Huyện
Vận
tốc
Hướng
Lạch Tray
Bạch
Đằng
(mm)
(mm)
(mm)
(m/s)


HP04
0,1
0,15
0,1
5,17
E 5
HP05
2,5
3
1
3,82
N 6
HP06
0,1
0,15
0,1
4,69
SE 7
HP07
2,5
3

0,0001
0,0001
11
HP11
2,5
3
1 0,01
0,01
12
HP12
0,1
0,15
0,1
5,17
E
0,0001
0,0001
13
HP13
0,1
0,15
0,1
3,82
N
0,0001
0,0001
14


4,69
SE

0,001
17
HP18
2,5

0,001

19
HP19
2,5 4,69
SE
0,001 3.1.2. Điều kiện tính toán
Tại các biên mở sử dụng bộ hằng số điều hòa của bốn sóng triều chính K1, O1, M2 và
S2. Ngoài ra, có thể đưa vào các tham số về vận tốc pháp tuyến và tiếp tuyến, nhiệt độ, độ muối.
Trong nghiên cứu này các vận tốc pháp tuyến và tiếp tuyến trên biên được cho bằng 0, nhiệt độ
và độ muối tại các biên được cho bằng giá trị trung bình của khu vực là 25
0

MC2
P5
P6
P1
P4
P3
P2
MC1
MC2
P5
P6
P1
P4
P3
P2
-3
-1.5
0
1.5
3
2/25/06
0:00
2/25/06
12:00
2/26/06
0:00
2/26/06
12:00
2/27/06
0:00

HP02, tăng lên từ 7-10 cm/s trong phương án HP03.
3.2.3. Trường dòng chảy và mực nước tổng hợp 2 (khi tính đến thủy triều, lưu lượng sông và
gió theo 2 mùa)
Tác động tổng hợp của thủy triều, sông và gió đến chế độ thủy động lực trong khu vực
được tính toán theo các phương án HP04 (gió hướng Đông), HP05 (gió hướng Bắc), HP06 (gió
hướng Đông Nam) và HP07 (gió hướng Nam). Kết quả tính toán cho thấy, trong điều kiện gió
bình thường không làm thay đổi hướng hoàn lưu triều áp đảo của khu vực, tuy nhiên có thể làm
biến đổi giá trị của dòng tổng hợp. Đối với các dòng dọc bờ Cát Hải, Đồ Sơn cũng nhận thấy sự
thay đổi của vận tốc dòng chảy so với phương án HP01, HP02 và HP04.
3.3. Kết quả tính toán vận chuyển trầm tích lơ lửng
3.3.1. Vận chuyển trầm tích lơ lửng dưới tác động của thủy triều
Kết quả tính toán cho thấy, hàm lượng trầm tích lơ lửng bị tác động bởi dòng chảy thủy
triều. Độ lớn mực nước và dòng chảy thủy triều ảnh hưởng mạnh mẽ đến nồng độ trầm tích trong
khu vực, ảnh hưởng đến đỉnh của biểu đồ hàm lượng trầm tích lơ lửng. Trong những ngày triều
cường, quá trình động lực nguồn gốc biển hoạt động mạnh, trầm tích dễ dàng theo dòng chảy lan
truyền và khuếch tán ra xa hơn so với thời kỳ triều thấp. Qúa trình phát tán trầm thích diễn ra
mạnh nhất trong pha triều xuống. Dòng chảy xiết khi triều rút mang trầm tích ra xa hơn. Dòng
chảy dọc bờ biển Đồ Sơn cũng góp phần quan trọng vào quá trình này, trầm tích được vận
chuyển dọc bờ biển xuống phía nam tới mũi Đồ Sơn và vượt ra ngoài miền tính. Trong những
ngày triều kém, khả năng lan truyền trầm tích bị hạn chế do dòng triều nhỏ, dẫn đến sự suy giảm
của các dòng chảy ven bờ, trầm tích vận chuyển dọc bờ và tích tụ lại ở khu vực có độ sâu nhỏ
làm nồng độ trầm tích tại các khu vực gần cửa sông, ven bờ tăng lên. Chỉ dưới tác động của thủy
triều, nồng độ trầm tích giữa các tầng không có sự sai khác đáng kể, nồng độ trầm tích tại các độ
sâu khác nhau gần như giống nhau.
3.3.2. Vận chuyển trầm tích lơ lửng dưới tác động của dòng chảy tổng hợp 1
Kết quả cho thấy quá trình lan truyền trầm tích diễn ra mạnh mẽ dưới tác động tổng hợp
của triều và dòng chảy sông. Trầm tích từ 2 cửa Lạch Trach và Nam Triệu phát tán sang tới cửa
Lạch Huyện. Đặc biệt đối với phương án HP11, các điều kiện đầu vào tương tự như mùa mưa lũ,
trầm tích lan truyền gần như phủ khắp miền tính. Điều này là do quá trình động lực trong sông
diễn ra mạnh mẽ. Dòng trầm tích từ các cửa sông được đưa ra khá xa theo dòng chảy sông, trầm

Hình 3.7. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán khi tính đến thủy triều, lưu lượng sông lớn
nhất, nồng độ trầm tích trên biên lớn nhất trong mùa kiệt và gió hướng Nam
3.4. Ảnh hưởng của các cửa sông Lạch Tray, Nam Triệu đến chế độ thủy động lực và vận
chuyển trầm tích trong khu vực
Các kết quả tính toán thể hiện rõ quá trình tương tác sông-biển trong khu vực. So với
trường hợp chỉ mô phỏng thủy triều, vận tốc dòng chảy tại các vị trí gần các cửa sông có sự biến
đổi rõ rệt. Nhìn chung, dòng chảy sông làm tăng cường dòng triều rút và làm suy yếu dòng triều
dâng. Mức độ tác động này còn tùy thuộc vào độ lớn của thủy triều, độ lớn của lưu lượng dòng
chảy sông và khoảng cách đến cửa sông. Khi tăng dần giá trị chênh lệch mực nước


(tương
ứng với việc tăng lưu lượng) tại các biên cửa sông, mức độ biến đổi của vận tốc dòng chảy tại
các vị trí trên tăng lên cho thấy được quá trình tương tác sông-biển tăng lên.
Khi xem xét dòng chảy dọc bờ Cát Hải có thể nhận thấy rõ những tác động của dòng
chảy sông cửa Nam Triệu khi dòng chảy dọc bờ có hướng từ cửa Nam Triệu sang cửa Lạch
Huyện trong phương án lưu lượng sông cực đại. Tốc độ dòng chảy có thể tăng lên trên 10 cm/s
so với phương án mô phỏng triều.
Đối với quá trình vận chuyển trầm tích, dòng chảy từ các sông có vai trò vô cùng quan
trọng, nó đẩy nhanh quá trình vận chuyển trầm tích ra biển. Kết hợp với phân tích trường dòng
chảy cho thấy, trong trường hợp này dòng chảy sông có ảnh hưởng tới vùng nằm ngoài đường
đẳng sâu 4 m theo các lạch sâu nối với cửa sông trong pha triều rút. Vùng nằm ngoài đường đẳng
sâu 4m có độ sâu giảm nhanh so với khu vực gần bờ tạo điều kiện thuận lợi cho dòng triều rút
mang trầm tích ra xa hơn.
Kết quả tính toán cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của của trường gió bề mặt đến quá trình
tương tác sông-biển làm thay đổi ranh giới vùng tác động của sông và biển. Phân tích kết quả
tính toán trong các phương án HP12 đến HP15 cho thấy các trường gió hướng Đông, Đông Nam
và Nam đều có tác động làm thu hẹp ảnh hưởng của sông đến quá trình động lực và vận chuyển
trầm tích trong khu vực.
KẾT LUẬN

ven biển”, Phần 1: Mô hình toán, Tạp chí phát triển Khoa học và Công, Tập 9, Số 2-2006.
3. Nguyễn Thị Bảy, Mạnh Quỳnh Trang (2005), “Mô hình chuyển tải bùn cát kết dích vùng
ven biển”, Phần 2: Áp dụng tính toán và mô phỏng dòng bùn cát vùng biển Cần Giờ, Tạp
chí phát triển Khoa học và Công, Tập 9, Số 4-2006.
4. Vũ Thanh Ca (2010), “Mô hình dòng chảy tổng hợp và vận chuyển bùn cát kết dính vùng
ven bờ”, Tuyển tập báo cao Hội thảo khoa học lần thứ 10 Viện KHKTTV&MT.
5. Vũ Thanh Ca, Nguyễn Quốc Trinh (2010), “Nghiên cứu về nguyên nhân xói lở bờ biển Nam
Định”, Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10 Viện KHKTTV&MT.
6. Nguyễn Đức Cự (2011), “Nghiên cứu, đánh giá tác động của các công trình hồ chứa thượng
nguồn đến diễn biến hình thái và tài nguyên - môi trường vùng cửa sông ven biển đồng bằng
Bắc Bộ”, Báo cáo tổng hợp Đề tài độc lập cấp Nhà nước (Mã số: ĐTĐL. 2009T/05).
7. Phạm Sỹ Hoàn và Lê Đình Mầu (2011), “Tính toán vận chuyển vật chất lơ lửng tại dải ven
biển cửa sông Mê Kông bằng mô hình toán”, Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn
quốc lần thứ V.
8. Trần Đình Lân, Nguyễn Văn Thảo, Nguyễn T. T. Hà (2010), “Đánh giá hiện trạng môi
trường và xác định các vấn đề ưu tiên phục vụ quản lý tổng hợp vùng bờ biển Hải Phòng”,
Báo cáo Tổng hợp Đề tài cấp thành phố Hải Phòng, Mã số: ĐT.MT.2008.498.
9. Nguyễn Kỳ Phùng, Đào Khôi Nguyên (2009), “Đánh giá biến đổi đáy ven bờ biển Rạch
Giá”, Tạp chí phát triển Khoa học và Công, Tập 12, Số 6-2009.
10. Nguyễn Thọ Sáo, Nguyễn Minh Huấn, Ngô Chí Tuấn, Đặng Đình Khá (2010), “Biến động
trầm tích và diễn biến hình thái khu vực cửa sông ven bờ Cửa Tùng, Quảng Trị”, Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 26, Số 3S (2010) 427-434.
11. Trần Hồng Thái, Lê Vũ Việt Phong, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Văn Hải (2010), “Mô
phỏng, dự báo quá trình vận chuyển bùn cát lơ lửng khu vực Cửa Ông”, Tuyển tập báo cao
Hội thảo khoa học lần thứ 10 Viện KHKTTV&MT.
12. Đinh Văn Ưu (2003), “Các kết quả phát triển và ứng dụng mô hình ba chiều (3D) thuỷ nhiệt
động lực biển ven và nước nông ven bờ Quảng Ninh”, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội,
XIX, 1, trang 108-117.
13. Đinh Văn Ưu (2005), “Phát triển mô hình tính toán vận chuyển chất lơ lửng đối với vùng
biển vịnh Hạ Long và khả năng ứng dụng trong việc xây dựng hệ thống mô hình monitoring

24. Guy Simpsona Sébastien Castelltort (2006), “Coupled model of surface water flow,
sediment transport and morphological evolution”, Computers & Geosciences 32 (2006)
1600–1614.
25. Idris Mandang and Testsuo Yanagi (2008), “Cohesive sediment transport in the 3D-
hydrodynamic-baroclinic circulation model in the Mahakam Estuary, East Kalimantan,
Indonesia”, Coastal Marine Science 32(3): 000-000, 2009.
26. I. M. Radjawane and Riandini (2009), “Numerical simulation of cohesive sediment transport
in Jakarta bay”, International Journal Sensing and Earth Sciences Vol. 6: 65-76.J. M.
Beckers, M. Gregoire, P. Nomerange University of Liege (1999), User Manual of the
GHER, 3D Primitive equation model Version 3.0.
27. J. M. Beckers, (1991), “Application of the GHER 3D general circulation model to the
Western Mediterranean”, J. Mar. Syst., 1: 315-332.
28. John C. Warner, Christopher R. Sherwooda, Richard P. Signell, Courtney K. Harris, Hernan
G. Arangoc (2008), “Development of a three-dimensional, regional, coupled wave current,
and sediment-transport model”, Computers & Geosciences 34 (2008) 1284–1306.
29. Leo Van Rijn (1993), “Principles of sediment transport in rivers, estuaries and coastal seas”,
Printed by Bariet, Ruinen, The Netherlands.

30. Leonor Cancino, Ramiro Neves (1999), “Hydrodynamic and sediment suspension modelling
in estuarine systems”, Part I: Description of the numerical models, Journal of Marine
Systems, Vol 22, pages 105-116.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status