ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
PHẠM VĂN TIẾN
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH (VNU/MDEC) TÍNH TOÁN CHẾ ĐỘ THỦY
ĐỘNG LỰC VÀ VẬN CHUYỂN TRẦM TÍCH VÙNG CỬA SÔNG VEN
BIỂN HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phạm Văn Tiến
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH (VNU/MDEC) TÍNH TOÁN CHẾ ĐỘ THỦY
ĐỘNG LỰC VÀ VẬN CHUYỂN TRẦM TÍCH VÙNG CỬA SÔNG VEN
BIỂN HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Hải dương học
Mã số: 60 44 97
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Đinh Văn Ưu
HÀ NỘI – 2012
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước............................................................17
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu..........................................................19
2.2.1. Phạm vi nghiên cứu........................................................................19
2.2.2. Đặc điểm khí tượng, thủy - hải văn................................................19
2.2.3. Đặc điểm trầm tích.........................................................................26
Chương 2. MÔ HÌNH VNU/MDEC...................................................................28
2.1. Mô hình thủy động lực............................................................................28
2.1.1. Hệ các phương trình động lực biển nguyên thủy............................28
2.1.2. Phương pháp biến đổi tọa độ cong σ..............................................32
2.1.3. Điều kiện biên trong mô hình..........................................................34
2.1.4. Điều kiện biên hở cửa sông có triều áp đảo...................................36
2.2. Mô hình lan truyền trầm tích lơ lửng......................................................37
2.2.1. Hệ phương trình lan truyền và khuếch tán vật chất.......................37
2.2.2. Mô hình biến đổi độ dày lớp trầm tích đáy lỏng............................40
2
2.3. Các phương pháp tham số hóa của mô hình..........................................42
2.3.1. Phương pháp thể tích hữu hạn........................................................42
2.3.2. Sơ đồ lưới tính Arakawa C rời rạc hóa theo không gian................43
2.2.3. Phương pháp tách mod ( mode- splitting)......................................46
2.3. Số liệu đầu vào........................................................................................48
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................................49
3.1. Triển khai mô hình..................................................................................49
3.1.1. Các phương án tính toán................................................................49
3.1.2. Điều kiện tính toán..........................................................................52
3.2. Kết quả tính toán chế độ thủy động lực..................................................53
3.2.1. Trường dòng chảy và mực nước triều.............................................53
3.2.2. Trường dòng chảy và mực nước tổng hợp 1 (khi tính đến thủy
chỉ tính đến thủy triều..................................................................................... 54
Hình 3.4. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 115h khi
chỉ tính đến thủy triều..................................................................................... 55
Hình 3.5. Biến trình mực nước vận tốc dòng chảy tại cửa Nam Triệu và
Lạch Huyện khi chỉ tính đến thủy triều...........................................................56
Hình 3.6. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 44h khi
chỉ tính đến thủy triều..................................................................................... 57
Hình 3.7. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 50h khi
tính đến thủy triều và lưu lượng sông cực tiểu............................................... 58
Hình 3.8. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 66h khi
tính đến thủy triều và lưu lượng sông cực đại.................................................59
Hình 3.9. Biến thiên vận tốc dòng chảy tầng mặt tại điểm P2 gần cửa
Lạch Tray khi chỉ tính đến triều (HP01), khi tính đến thủy triều và lưu lượng
sông cực tiểu (HP02) và khi tính đến thủy triều và lưu lượng sông cực đại
(HP03).............................................................................................................60
5
Hình 3.10. Biến thiên vận tốc dòng chảy tầng mặt tại điểm P5 gần cửa
Nam Triệu khi chỉ tính đến triều (HP01), khi tính đến thủy triều và lưu lượng
sông cực tiểu (HP02) và khi tính đến thủy triều và lưu lượng sông cực đại
(HP03).............................................................................................................60
Hình 3.11. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 102h
khi tính đến thủy triều, lưu lượng sông cực tiểu và gió hướng Đông.............61
Hình 3.12. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 122h
khi tính đến thủy triều, lưu lượng sông mùa kiệt và gió hướng Bắc...............62
Hình 3.13. Trường mực nước và hoàn lưu tầng mặt tại thời điểm 141h
khi tính đến thủy triều, lưu lượng sông mùa lũ và gió hướng Đông Nam......62
Hình 3.14. Trường mực nước và dòng chảy tầng mặt tại thời điểm 341h
lưu lượng sông lớn nhất và nồng độ trầm tích trên biên lớn nhất trong mùa lũ
70
Hình 3.23. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán dọc các mặt cắt khi tính
đến thủy triều, lưu lượng sông lớn nhất
và nồng độ trầm tích trên biên lớn
nhất trong mùa lũ............................................................................................ 71
Hình 3.21. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán khi tính đến thủy triều,
lưu lượng sông nhỏ nhất, nồng độ trầm tích trên biên nhỏ nhất trong mùa kiệt
và gió hướng Đông..........................................................................................72
Hình 3.22. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán khi tính đến thủy triều,
lưu lượng sông nhỏ nhất, nồng độ trầm tích trên biên nhỏ nhất trong mùa kiệt
và gió hướng Bắc............................................................................................ 73
Hình 3.23. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán khi tính đến thủy triều,
lưu lượng sông lớn nhất, nồng độ trầm tích trên biên lớn nhất trong mùa lũ và
gió hướng Đông Nam......................................................................................74
7
Hình 3.24. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán khi tính đến thủy triều,
lưu lượng sông lớn nhất, nồng độ trầm tích trên biên lớn nhất trong mùa kiệt
và gió hướng Nam...........................................................................................75
Hình 3.25. Nồng độ trầm tích lơ lửng tính toán dọc các mặt cắt khi tính
đến thủy triều, lưu lượng sông lớn nhất, nồng độ trầm tích trên biên lớn nhất
trong mùa kiệt và gió hướng Nam.................................................................. 75
8
ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của Việt Nam đều gắn với biển như dầu khí,
nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản, hàng hải và du lịch biển… Việt Nam có
2
vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1.000.000 km , gấp 3 lần diện tích đất liền,
có hơn 3000 đảo lớn, nhỏ. Việt Nam có vị trí địa - kinh tế và địa - chiến lược đặc
biệt, nằm trên các tuyến giao thông hàng hải quốc tế chủ yếu của thế giới. Nước ta
có trên 3.260 km bờ biển, với nhiều hệ thống cảng biển như: Của ông, Cái Lân, Hải
Phòng, Đình Vũ, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Vân Phong,
Thị Vải... đủ điếu kiện vận chuyển hàng trăm triệu tấn hàng hóa thông quan mỗi
năm, đồng thời đảm bảo cho ngành sửa chữa, đóng mới phương tiện thủy và
10
các ngành dịch vụ biển phát triển cả trong hiện tại và tương lai. Dọc bờ biển Việt
Nam, trung bình cứ 20 km đường bờ biển sẽ có 1 cửa sông, với nhiều vũng, vịnh
ven biển. Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hàng hải và kinh tế
biển nói chung.
Hải Phòng là thành phố ven biển trực thuộc trung ương, là trung tâm kinh tế
của khu vực Đông Bắc Bộ. Cho đến nay, kinh tế cảng vẫn là ngành kinh tế đóng vai
trò chính trong nền kinh tế. Hải Phòng có 2 cảng biển lớn là cảng Hải Phòng và
cảng Đình Vũ. Vùng biển Hải Phòng có 5 cửa sông đổ ra là cửa Bạch Đằng, Cấm,
Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình. Chế độ thủy thạch động lực học ở đây rất phức tạp
do chịu tác động đồng thời của cả sông và biển. Việc nghiên cứu, tính toán chế độ
thủy động lực và vận chuyển trậm tích trong khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng
là rất cần thiết. Nghiên cứu sẽ cung cấp bức tranh chung về trường dòng chảy,
những đặc điểm cơ bản của quá trình vận chuyển trầm tích trong khu vực giúp công
tác quản lý, quy hoạch tuyến luồng tàu, tính toán sa bồi luồng nhằm đóng góp một
phẩn nhỏ cho các yêu cầu thực tế đặt ra. Mô hình số trị hoàn toàn có thể đáp ứng
Schoklitsch (1888-1969) người Đức. Đến năm 1914, phát triển phương trình tích
ứng suất trượt đáy tới hạn (bắt đầu chuyển động của một hạt) theo chiều dọc của
đáy dốc. Phương trình tương tự cho một hạt dừng chuyển động theo chiều ngang
một đáy dốc được Leiner đề xuất năm 1912. Năm 1936, Shields có một đóng góp
quan trọng liên quan đến ứng suất trượt đáy tới hạn cho sự khởi đầu chuyển động
của các hạt trầm tích. Các đường cong được đề xuất gọi là đường cong “Shislds”.
Các nghiên cứu đầu tiên liên quan đến động lực học chất lỏng và vận chuyển
bùn cát được thực hiện bởi Bagnold năm 1936, 1937. Đến năm 1950, Einstein và
12
các cộng sự nhờ vào sự phát triển của năng lực tính toán, biến các mô hình toán vận
chuyển bùn cát thành một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực khoa học ven biển. Năm
1967, Robert P. Apmann và Ralph R. Rumer nghiên cứu quá trình phát tán các hạt
trầm tính do khuếch tán rối trong dòng chảy bất đồng nhất dựa trên mô hình toán.
Thí nghiệm được tiến hành trong một máng dài với 3 lớp trầm tích. Hệ số khuếch
tán được xác định là một hàm của đặc trưng trầm tích và vận tốc dòng chảy.
Một trong những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến điều kiện bùn lỏng được
thực hiện bởi Einstein và Chien năm 1955, hai quá trình kết bông và cố kết đáy đã
được nghiên cứu. Tác giả đã nhận định rằng độ mặn tối thiểu 1‰ là giới hạn khởi
đầu cho quá trình kết bông. Odd và Owen, 1972 sử dụng mô hình 1D xem xét tốc
độ xói mòn và lắng đọng dựa trên công thức đề xuất của Krone 1962 và
Partheniades 1965. Smith và Kirby, 1989 đã ứng dụng các mô hình 1D để mô phỏng
vận chuyển bùn cát và thay đổi hình thái quy mô lớn ở các sông De Vries, trong
kênh thủy triều Dyer và Evans, mô phỏng quá trình hình thành “lutocline” ở các cửa
sông Ross và Mehta.
Năm 1971, O'Connor trình bày mô hình 2D tích phân theo chiều thẳng.
Ariathurai và Krone, 1976 đã trình bày một mô hình phần tử hữu hạn áp dụng các
yếu tố hình tam giác với một xấp xỉ bậc hai cho nồng độ và phương pháp trọng số
Ribberink 1992 đã phát triển một mô hình tựa 3D cho vận chuyển bùn cát lơ lửng
trên cơ sở của phương trình bình lưu khuếch tán cho dòng chảy và sóng, phân tích
độ nhạy của các tham số sóng và dòng chảy. Các mô hình (nghiêng áp) thuỷ động
lực và vận chuyển trầm tích đã được phát triển và áp dụng cho các vùng ven biển
(De Kok và cộng sự, 1995).
Năm 1994, Leonor Cancino và Ramiro Neves mô tả và ứng dụng hệ thống
mô hình thuỷ động lực và vận chuyển trầm tích 3D (dạng nghiêng áp, sử dụng
phương pháp sai phân hữu hạn). Mô hình thủy động lực dựa trên xấp xỉ thuỷ tĩnh và
xấp xỉ Boussinesq, sử dụng tọa độ sigma kép cho chiều thẳng đứng với lưới so le và
sơ đồ bán ẩn bậc hai. Ngoài phương trình động lượng và phương trình liên tục, mô
hình giải hai phương trình vận chuyển nhiệt độ, độ muối và một phương trình trạng
14
thái có tính đến hiệu ứng nghiêng áp. Mô phỏng quá trình vận chuyển trầm tích gắn
kết được thực hiện bằng cách giải các phương trình bảo toàn, bình lưu - khuếch tán
3D, trong cùng một lưới sử dụng trong mô hình thủy động lực. Qúa trình cố kết, xói
mòn và lắng đọng của trầm tích được biểu diễn bằng các công thức thực nghiệm.
Các mô hình đã được thử nghiệm và hiệu chỉnh bằng cách mô phỏng dòng triều và
vận chuyển bùn cát lơ lửng ở các cửa sông. Hai ứng dụng ở cửa sông Western
Scheldt (Hà Lan) và Gironde (Pháp) cho thấy sự phù hợp tốt giữa kết quả tính toán
và đo đạc thực địa.
Năm 2003, Changsheng Chen và Hedong Liu phát triển mô hình 3D tính
hoàn lưu khu vực ven biển và cửa sông. Mô hình dựa trên hệ phương trình nguyên
thủy 3 chiều gồm các phương trình động lượng, liên tục, nhiệt, muối, mật độ và sử
dụng mô hình khép kín rối bậc 2,5 của Mellor và Yamada. Mô hình sử dụng hệ tọa
độ chuyển đổi sigma cho phương thẳng đứng, phương ngang sử dụng lưới cấu trúc
hình tam giác. Mô hình toán sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn, thể tích hữu
hạn và phần tử hữu hạn. Mô hình đã được áp dụng cho biển Bột Hải, cửa sông
thuộc vào tiêu chuển CFL. Ngoài ra, còn có mô hình lớp biên đáy tính toán tương
tác sóng - dòng chảy, làm tăng ứng suất đáy, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển
trầm tích và làm tăng ma sát đáy, tạo ra tác động ngược trở lại dòng chảy.
Năm 2008, Idris Mandang và Tetsuo Yanagi áp dụng mô hình 3D
ECOMSED được phát triển bởi HydroQual (2002) vào tính toán vận chuyển trầm
tích khu vực cửa sông Mahakam, phía Đông Kalimantan, Indonesia. Mô hình có sử
dụng phép xấp xỉ Bousinesq và xấp xỉ thủy tĩnh. Mô phỏng qúa trình vận chuyển
trầm tích dựa trên cơ sở giải đồng thời các phương trình bình lưu – khuếch tán – bảo
toàn 3 chiều.
Năm 2009, M. Radjawane và F. Riandini sử dụng mô hình 3D vào mô phỏng
hoàn lưu và vận chuyển bùn cát gắn kết từ 3 cửa sông Angke, Karang và Ancol vào
16
trong vịnh Jakarta, Indonesia. Đánh giá ảnh hưởng của thủy triều, gió và dòng chảy
sông đến quá trình lan truyền trầm tích trong vinh.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề thủy động lực và vận
chuyển bùn cát bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cho
đến nay các vấn đề liên quan đến thủy động lực và vận chuyển trầm tích tại các
vùng ven biển Việt Nam đang là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học và các cơ
quan nghiên cứu. Một số cơ quan nghiên cứu tiêu biểu trong lĩnh vực này như Khoa
Khí tượng Thủy văn Hải dương học, ĐHKHTN-ĐHQGHN, Viện Khoa học Thủy
lợi, Viện Cơ học, Viện Hải dương Học Nha Trang, Viện Tài nguyên và Môi trường
biển Hải Phòng, ... Các khu vực xói lở và bồi tụ tiêu biểu có thể kể đến như Cát Hải
(Hải Phòng) Văn Lý, Hải Triều, Hải Hậu (Nam Định), Ngư Lộc, Hậu Lộc (Thanh
Hóa ), Cảnh Dương (Quảng Bình), Phan Rí, La Gi, Phan Thiết (Bình Thuận), Cần
Thạnh (Thành phố Hồ Chí Minh), Gò Công Đông (Tiền Giang), Hồ Tàu, Đông Hải
(Trà Vinh), Cửa Tranh Đề (Sóc Trăng), Ngọc Hiển (Bạc Liêu), ... Quá trình vận
tính toán chuyển tải bùn cát dính vùng ven biển dựa vào lời giải hệ phương trình
Reynolds, kết hợp với hệ phương trình chuyển tải bùn cát, lấy trung bình theo chiều
sâu, có tính đến hàm số nguồn, mô tả tốc độ bốc lên hay lắng xuống của hạt. Mô
hình tính được kiểm tra với nghiệm giải tích, và so sánh với số liệu thực đo đối với
vùng biển Cần Giờ.
Năm 2009, Nguyễn Kỳ Phùng, Đào Khôi Nguyên, đánh giá biến đổi đáy ven
bờ biển Rạch Giá do dòng chảy khi xây dựng đảo nhân tạo Hải Âu. Nghiên cứu dựa
trên mô hình 2 chiều, có tính đến ứng suất gió bề mặt và ứng suất dáy do dòng chảy.
Năm 2010, Nguyễn Thọ Sáo, Nguyễn Minh Huấn, Ngô Chí Tuấn và Đặng
Đình Khá phân tích đánh giá biến động trầm tích lơ lửng, trầm tích đáy và diễn biến
hình thái khu vực cửa sông Bến Hải và vùng ven bờ Cửa Tùng trên cơ sở số liệu 2
đợt khảo sát do khoa KT-TV-HDH thực hiện 8/2009 và 4/2010 và thu thập của Công
ty Tư vấn GTVT (TEDI) năm 2000. Trần Hồng Thái, Lê Vũ Việt Phong, Nguyễn
Thanh Tùng, Phạm Văn Hải ứng dụng mô hình toán 2 chiều RMA2 và SED2D để
mô phỏng quá trình vận chuyển bùn cát trong sông - biển từ những
18
nguồn ô nhiễm khác nhau do Dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Mông Dương gây
nên. Vũ Thanh Ca, áp dụng mô hình 2 chiều tính toán dòng chảy tổng hợp và vận
chuyển bùn cát kết dính vùng ven bờ. Vũ Thanh Ca, Nguyễn Quốc Trinh, áp dụng
phương pháp tính sóng có năng lượng tương đương vào tính toán vận chuyển bùn
cát dọc bờ khi nghiên cứu về nguyên nhân xói lở bờ biển Nam Định.
Năm 2011, Nguyễn Mạnh Hùng, Dương Công Điển, Nguyễn Vũ Thắng tính
biến động bờ biển khu vực huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định dưới tác động đồng thời
của sóng và dòng chảy bằng cách chạy đồng thời các mô hình tính dòng chảy và
sóng. Các mô hình được sử dụng gồm ADCIRC, CMS-M2D, SWAN và
STWWAVE. Phạm Sỹ Hoàn và Lê Đình Mầu áp dụng mô hình ECOMSED tính
toán vận chuyển vật chất lơ lửng tại dải ven biển cửa sông Mê Công. Mô hình sử
b.
Hình 1.1. Hoa gió trạm Hòn Dáu tháng 1 (a) và tháng 7 (b)
Theo số liệu quan trắc tại trạm Hòn Dáu từ 1960-2002 cho thấy, trong các
tháng mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), thời kỳ hoạt động mạnh của gió
mùa cực đới khô - lạnh, các hướng gió thịnh hành bao gồm Bắc, Đông Bắc và
Đông, với tần suất mỗi hướng tương ứng khoảng 18%, 12% và 36%; gió các hướng
còn lại có tần suất nhỏ dưới 6%. Tốc độ gió trung bình các tháng mùa đông đạt 4,5
m/s, cực đại đạt 24 m/s. Trong các tháng mùa hè (từ tháng 5-10), gió chủ yếu có
hướng Nam, Đông Nam và Đông, tần suất tương ứng các hướng đạt 15%, 16% và
15%; các hướng gió còn lại có tần suất nhỏ. Tốc độ gió trung bình các tháng mùa hè
đạt 5,1 m/s, cực đại đạt 45 m/s trong điều kiện có bão. Hình 1.1 trình bày hoa gió
trạm Hòn Dáu tháng 1 và tháng 7.
20
Chế độ nhiệt của Hải Phòng được phân ra hai mùa nóng, mùa lạnh rõ rệt và
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa, nhiệt độ biến thiên rất mạnh trong
năm. Do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau
nên thời tiết và khí hậu khu vực Hải Phòng thường xuyên biến động, sự biến động
này được thể hiện qua biến động của nhiệt độ không khí. Trong mùa đông, nhiệt độ
o
o
o
trung bình các tháng là 21,5 C, nhiệt độ thấp là nhất 6,7 C, cao nhất là 32,3 C.
o
21
vào Hải Phòng ngày 21/07/1977 và cơn bão số 7 đổ bộ vào các tỉnh Ninh Bình Thanh hóa ngày 27-30/9/2005.
2.2.2.2. Đặc điểm thủy văn
TP. Hải Phòng có nhiều sông lớn chảy qua, các sông đều là phần hạ lưu cuối
cùng trước khi đổ ra biển của hệ thống sông Thái Bình. Hướng chảy của các dòng
sông chủ yếu là Tây Bắc - Đông Nam, độ uốn khúc lớn, bãi sông rộng, hàm lượng
phù sa cao. Các sông lớn có cửa trực tiếp đổ ra biển vừa chịu ảnh hưởng của chế độ
dòng chảy thượng nguồn, vừa chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều vịnh Bắc Bộ.
Càng gần cửa sông, lòng sông càng mở rộng.
Dòng chảy sông có sự biến đổi rất lớn theo mùa, tương ứng với mùa mưa và
mùa khô có mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ thường bắt đầu chậm hơn mùa mưa một
tháng (vào tháng 6 - 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trong mùa lũ,
lưu lượng nước chiếm 75 - 85% cả năm, đặc biệt trong 3 tháng 7, 8, 9 lưu lượng
nước chiếm 50 - 70%. Lũ lớn nhất thường vào tháng 7 hoặc tháng 8, chiếm 20 27%, có khi tới 35% lưu lượng nước cả năm. Trong mùa lũ, các sông ở phía bắc
(Bạch Đằng, Văn Úc, Lạch Tray) chịu ảnh hưởng của chế độ lũ sông Thái Bình
mạnh hơn, trong khi đó các sông phía nam (Luộc, Hoá, Thái Bình, Mới) chịu ảnh
hưởng chế độ lũ của sông Hồng mạnh hơn. Mùa cạn, lượng nước từ thượng lưu về
ít, nguồn nước trong sông chủ yếu do nước ngầm và thủy triều, lưu lượng nước chỉ
chiếm 15 - 20% cả năm.
Hàng năm, lưu lượng nước nhỏ nhất thường xuất hiện vào tháng 3. Sông
3
Kinh Thầy (trạm Cửa Cấm) lưu lượng trung bình mùa cạn 115m /s, lưu lượng kiệt
3
3
nhất trung bình 47,2m /s, trong đó lưu lượng kiệt nhất là 0,1m /s; sông Văn Úc
3
Về mùa mưa, độ đục trung bình ở các trạm thay đổi trong khoảng 53 - 215g/m , trên
3
sông Bạch Đằng và phía ngoài cửa Nam Triệu có giá trị khá nhỏ 80 - 100g/m , độ
3
đục cực đại đạt tới 700 - 964 g/m trên luồng Cửa Cấm. Mùa khô, độ đục trung bình
3
3
biến đổi trong khoảng 42 - 94g/m , cực đại đạt 252 - 860g/m tập trung ở vùng cửa
sông phía ngoài do tác động khuấy đục đáy của sóng và dòng triều.
Lượng bùn cát trong các sông ở Hải Phòng chủ yếu từ thượng lưu hệ thống
sông Thái Bình chuyển về và một phần từ Sông Hồng chuyển sang qua Sông Đuống
ở phía trên và Sông Luộc ở phía dưới. Trong năm, lượng bùn cát tập trung chủ yếu
vào những tháng mùa lũ, chiếm tới 90% lượng bùn cát cả năm. Tháng 8 thường có
tổng lượng bùn cát lớn nhất, chiếm từ 35 - 40% tổng lượng bùn cát trong năm,
lượng bùn cát nhỏ nhất thường là vào tháng 3 chỉ từ 0,5 - 1% tổng lượng bùn cát cả
năm.
Các sông chính ở Hải Phòng đều chịu sự tác động mạnh mẽ của chế độ triều
trong khu vực. Điều này thể hiện rõ qua dao động mực nước hàng ngày trong các
thời kỳ triều. Những dao động triều ở ngoài biển được truyền vào sông về cơ bản
vẫn phù hợp với quy luật triều ngoài biển. Tuy nhiên, càng vào sâu trong sông thủy
triều càng bị biến dạng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như lượng nước thượng lưu
dồn về, ma sát đáy sông, hình dạng, kích thước lòng sông và độ uốn khúc lớn nhỏ.
Càng vào sâu, sự biến động của sóng triều càng lớn, đến một ranh giới nhất định thì
thủy triều không còn ảnh hưởng trong sông.