Nghiên cứu so sánh pháp luật về thành lập
doanh nghiệp Nguyê
̃
n Thi
̣
Phương Tha
̉
o Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luâ
̣
t kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyê
̃
n Như Pha
́
t
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu so sánh pháp luật
về thành lập doanh nghiệp. So sánh pháp luật thành lập doanh nghiệp của Việt Nam
với một số nước. Đề xuất những khuyến nghị ban đầu tư
̀
nghiên c ứu so sánh nhằm
hoàn thiện pháp luật về thành lập doanh nghiệp của Việt Nam.
khác nhau, như: Dự án VIE/97/016 so sánh về luật doanh nghiệp của 4 nước: Singapore,
Malaysia, Philipine và Thái Lan của Nguyễn Toàn Phan và John Bentley; "Hình thức pháp lý
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ luật so sánh" của TS Nguyễn Am Hiểu; “Sự
thay đổi trong luật công ty Đức và so sánh với pháp luật công ty Việt Nam” và "Uớc mơ nửa
triệu doanh nghiệp và một đạo luật chung: Luật doanh nghiệp 2005 từ một góc nhìn so sánh"
của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa; “Tiếp nhận pháp luật nước ngoài: nhìn từ ví dụ luật công ty của
Nhật và Luật doanh nghiệp của Việt Nam” của Th.s Nguyễn Đức Lam… Nhưng có thể thấy,
hầu hết những công trình khoa học hoặc bài viết đó hoặc là nghiên cứu so sánh chung về luật
doanh nghiệp, hoặc là nghiên cứu so sánh một lĩnh vực cụ thể nào đó của luật doanh nghiệp
chứ chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh riêng về pháp luật thành lập doanh nghiệp giữa
Việt Nam và các nước khác.
Đề tài "Nghiên cứu so sánh pháp luật về thành lập doanh nghiệp" là một đề tài hoàn toàn
mới và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn trong khoa học pháp lý của Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: so sánh pháp luật về thành lâp doanh nghiệp của Việt Nam với một
số nước nhằm làm rõ sự tương đồng, khác biệt và rút ra những giá trị có thể tham khảo, học hỏi
góp phần xây dựng, hoàn thiện pháp luật thành lập doanh nghiệp của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu: làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu so sánh pháp
luật về thành lập doanh nghiệp; so sánh pháp luật thành lập doanh nghiệp của Việt Nam với một
số nước; đề xuất những khuyến nghị ban đầu qua việc nghiên cứu so sánh nhằm hoàn thiện pháp
luật về thành lập doanh nghiệp của Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: pháp luật về thành lập doanh nghiệp của Việt Nam và của một
số nước được chọn lựa so sánh.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu pháp luật về việc thành lập mới một số loại hình doanh
nghiệp là: doanh nghiệp tư nhân, hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
(tương ứng với các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 của
Việt Nam); không nghiên cứu việc thành lập các loại hình doanh nghiệp khác (như doanh
nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ) cũng như việc chuyển đổi loại
hình doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh hoặc việc thành lập chi nhánh, văn
ngôn ngữ pháp luật về thành lập doanh nghiệp của mỗi nước lại có những điểm khác biệt nhất
định, như: pháp luật về thành lập doanh nghiệp, có nước xuất hiện rất sớm có nước ra đời
muộn; có nước khá ổn định - có nước thường xuyên thay đổ; có nước quy định chung ở một
luật - có nước lại quy định riêng ở nhiều luật tương ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp; có
nước quy định về thành lập doanh nghiệp ở luật, có nước lại quy định cả ở những văn bản dưới
luật; đặc biệt ở một số nước liên bang, pháp luật về thành lập doanh nghiệp được quy định tại
luật liên bang, sau đó tại các tiểu bang lại có những quy định riêng.
1.1.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu so sánh
Chỉ lựa chọn so sánh pháp luật thành lập doanh nghiệp của một số nước dựa trên một số
tiêu chí nhất định, như: những nước có quan hệ hợp tác kinh tế truyền thống, lâu dài: Mỹ, Anh,
Nhật Bản, Pháp…; những nước có điểm tương đồng về đường lối chính sách kinh tế với Việt
Nam như Trung Quốc; những nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore,
Malaysia, Philippines….
Chỉ nghiên cứu so sánh pháp luật thành lập doanh nghiệp của 4 loại hình cơ bản là:
doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần (trong phạm vi
đối tượng điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2005) không nghiên cứu việc thành lập các loại
hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ; chỉ so sánh thành lập mới doanh nghiệp (không so sánh về thay đổi nội dung đăng ký
kinh doanh hoặc việc thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện).
1.2. Nhu cầu và thực trạng nghiên cứu so sánh pháp luật về thành lập doanh
nghiệp của nước ta hiện nay
1.2.1. Nhu cầu nghiên cứu so sánh pháp luật về thành lập doanh nghiệp của nước ta
hiện nay
Hoạt động so sánh pháp luật giúp hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống xã hội, văn hóa của các
dân tộc trên thế giới nói chung và hệ thống pháp luật cũng như nền khoa học pháp lý của mỗi quốc
gia nói riêng.
Việc so sánh, đối chiếu pháp luật thành lập doanh nghiệp sẽ giúp cho các chuyên gia
pháp lý nhìn nhận một cách khách quan hơn về đặc điểm, thực trạng của hệ thống pháp luật
thành lập doanh nghiệp của quốc gia, rút ra những kinh nghiệm bổ ích để học hỏi và qua đó
đưa ra các chuẩn mực pháp luật quốc gia, tìm kiếm, xây dựng mô hình pháp luật lý tưởng,
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
2.1. So sánh về các loại hình doanh nghiệp được phép thành lập
2.1.1. So sánh về loại hình doanh nghiệp tư nhân
Đây là hình thức kinh doanh lâu đời và thường được sử dụng cho những cá nhân muốn
tiến hành các hoạt động kinh doanh riêng lẻ, cá thể dưới hình thức chủ sở hữu duy nhất. Pháp
luật Mỹ gọi hình thức này là cá thể kinh doanh (sole proprietorship hoặc individual
proprietorship), các cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể tiến hành các hoạt động
kinh doanh nhân danh tên của họ hoặc tên gọi thương mại mà không cần phải làm thủ tục xin
phép.
Theo luật Malaysia và Singapore, doanh nghiệp tư nhân là hình thức kinh doanh do một
người có thể là thể nhân hoặc pháp nhân thành lập, có toàn quyền quản lý, điều hành hoạt
động kinh doanh, chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của doanh nghiệp. Theo luật
Malaysia và luật Singapore, một công ty có thể trở thành chủ sở hữu một doanh nghiệp tư
nhân. Điều này không được thừa nhận trong luật của Thái Lan và Philippines. Ở Thái Lan và
Philippines, hình thức này chỉ có thể do thể nhân thành lập.
Có thể thấy một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và một số nước trong
quan niệm về loại hình doanh nghiệp này. Nếu như Mỹ coi đây là hình thức kinh doanh của cá
nhân và có thể hoặc không cần phải đăng ký kinh doanh thì các nước như Việt Nam và
Singapore, Malaysia, Thái Lan và Philippines lại coi đây là một loại hình doanh nghiệp và phải
tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, chủ thể của
loại hình kinh doanh này cũng được chia thành hai trường phái: đối với pháp luật của các nước
Mỹ, Việt Nam, Thái Lan và Philippines thì chỉ quy định cho cá nhân, còn đối với pháp luật của
Singapore và Malaysia có thể do thể nhân thành lập. Tuy vậy, về bản chất, loại hình doanh
nghiệp này có những đặc điểm chung mà pháp luật các nước đều thừa nhận là chủ doanh nghiệp
có thể toàn quyền định đoạt công việc kinh doanh của mình, được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu
được và phải mang toàn bộ tài sản để chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh.
2.1.2. So sánh về loại hình công ty hợp danh
Anh là một nước có truyền thống pháp luật lâu đời về hợp danh. Hợp danh của Anh được
chia làm hai loại là Hợp danh thông thường (hay đầy đủ) (The full partnership) và Hợp danh
TNHH (The limited partnership).
Quốc 2005. Pháp luật Mỹ quy định hai loại hình công ty cổ phần: công ty cổ phần công cộng
hay công ty chứng khoán (Public stock companies) và công ty cổ phần tư nhân (Private stock
companies). Tương tự như luật Mỹ, Luật Singapore, Thái Lan, Philippines, Malaysia cũng
chia công ty cổ phần thành hai loại. Luật Philippines gọi là Ordinary Corporation và Close
Corporation còn luật Singapore, Thái Lan, Malaysia gọi là Public Limited Company và
Private Limited Company. Công ty cổ phần của Việt Nam được quy định tại Điều 77 Luật
Doanh nghiệp 2005.
Về bản chất của công ty cổ phần, pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước không
có sự khác biệt khi quan niệm đây là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm
quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của cá nhân, các thành viên chỉ
chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn mà họ góp vào công
ty; vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, công ty cổ
phần được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để công khai huy động vốn trong
công chúng.
Sự khác nhau là trong quy định về số lượng thành viên, cách thức góp vốn, cơ chế quản
lý điều hành công ty cổ phần. Nhật Bản quy định tối thiểu phải có 7 thành viên, Trung Quốc tối
thiểu là 2 tối đa là 200, Singapore và Malaysia không quá 50 cổ đông còn Philippines không
quá 20, Thái Lan không quá 99 cổ đông (đối với công ty cổ phần hạn chế), còn theo pháp luật
Việt Nam số thành viên công ty cổ phần tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.
Nhiều nước phân chia công ty cổ phần thành nhiều loại, tương ứng với nó là những quy
chế pháp lý được quy định rất cụ thể cho từng loại (Pháp, Mỹ, Singapore Thái Lan,
Philippines, Malaysia). Nước ta do hình thức công ty cổ phần mới xuất hiện vài chục năm
gần đây, đặc biệt là thị trường chứng khoán cũng mới ra đời nên so với các nước có bề dày
lịch sử hàng trăm năm, pháp luật về công ty cổ phần ở nước ta vẫn còn khá sơ sài cũng là
điều không khó để lý giải.
2.1.4. So sánh về loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn
Pháp luật của các nước đều có quy định về loại hình công ty TNHH với những điểm
chung về tính chịu trách nhiệm hữu hạn của nó. Chính vì vậy, trên bảng hiệu, hoá đơn và các
tài liệu giao dịch của loại hình công ty này phải ghi rõ tên công ty gắn với loại hình công ty
“TNHH” để công khai trước các đối tác về tính chịu trách nhiệm (hữu hạn) của công ty đối với
2.2.2. So sánh điều kiện về vốn góp
Luật Liên bang Nga quy định: đối với công ty TNHH thì mức vốn điều lệ tối thiểu là
bằng 100 lần mức lương tối thiểu; đối với công ty cổ phần thì mức vốn điều lệ tối thiểu là
bằng 1000 lần mức lương tối thiểu tại thời điểm thành lập doanh nghiệp. Luật Cộng hòa liên
bang Đức quy định: mức vốn điều lệ tối thiểu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn là 25.000
Euro, mức tối thiểu của mỗi phần vốn góp là 100 Euro. Vốn tối thiểu đối với công ty cổ phần
là 50,000 Euro. Theo Luật Doanh nghiệp Trung Quốc 2005, vốn điều lệ tối thiê
̉
u cu
̉
a mô
̣
t
công ty TNHH la
̀
30.000 Nhân dân tê
̣
, công ty cô
̉
phần la
̀
5 triê
̣
u Nhân dân tê
̣
và đối vơ
́
i công
ty TNHH mô
̣
nghiệp bên cạnh những yêu cầu chung và quy định rất cụ thể về việc đăng ký và bảo lưu tên
gọi trong một khoảng thời gian nhất định trong khi làm các thủ tục khác. Việc xử lý vấn đề
trùng tên gọi hay tên gây nhầm lẫn cũng được pháp luật nhiều nước quy định cụ thể trong
luật.
Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể và chi tiết về tên của doanh nghiệp tuy nhiên vấn
đề bảo lưu tên gọi lại không thấy xuất hiện trong Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam và
việc giải quyết tranh chấp về tên gọi, việc chứng nhận tên đã đăng ký coi đó như là một thứ
tài sản vô hình của doanh nghiệp cũng chưa được chú trọng đúng mức như pháp luật của
nhiều nước.
2.3. So sánh về thủ tục thành lập doanh nghiệp
Quy định về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp trong pháp luật của các nước
không có sự đồng nhất. Có nước quy định chung cho tất cả mọi loại hình doanh nghiệp và chỉ
bổ sung thêm những nội dung cần thiết riêng cho từng loại hình. Có nước lại quy định trình
tự, thủ tục riêng cho từng loại hình ở trong từng đạo luật cụ thể (Anh, Mỹ). Đây là những
nước mỗi một loại hình doanh nghiệp có một đạo luật riêng điều chỉnh và trong đó quy định
luôn trình tự, thủ tục thành lập cho loại hình doanh nghiệp đó.
2.3.1. Các thủ tục chuẩn bị thành lập doanh nghiệp
Vai trò chính trong giai đoạn này là những người sáng lập. Quy định về sáng lập viên ở
pháp luật các nước khác nhau. Mỹ và Trung Quốc quy định rất cụ thể về sáng lập viên tuy
nhiên ở Việt Nam chưa quy định cụ thể về đối tượng này trong Luật Doanh nghiệp, đặc biệt
là trong trường hợp đó là những người chỉ đứng ra thành lập công ty rồi bán lại hoặc những
người chuyên tiến hành dịch vụ thành lập doanh nghiệp.
Pháp luật mỗi nước quy định về hồ sơ và các loại giấy tờ cần thiết phải nộp không
giống nhau nhưng đều nhấn mạnh tầm quan trọng và quy định khá chi tiết về điều lệ và đăng
ký điều lệ. Pháp luật nhiều nước đã mẫu hóa, thống nhất các loại văn bản, giấy tờ để đơn
giản, thuận tiện cho cơ quan nhà nước khi xét duyệt cũng như người dân khi làm các thủ tục.
2.3.2. Các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Việc nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền có
thể trực tiếp do các thành viên sáng lập tiến hành hoặc có thể thông qua các văn phòng tư vấn
pháp luật về thành lập doanh nghiệp. Nhiều nước quy định người thành lập doanh nghiệp
định về những công việc mà doanh nghiệp phải tiến hành sau khi đã đăng ký thành lập tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền như đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng,
thông báo cho các cơ quan chức năng có liên quan, cung cấp thông tin cho các đối tác kinh
doanh và những đối tượng cần quan tâm.
2.4. So sánh về xử lý vi phạm pháp luật thành lập doanh nghiệp
Theo pháp luật Anh, nếu thành viên không thực hiện các nghĩa vụ thông báo về việc
thay đổi tư cách thành viên, thông thường sẽ bị phạt theo Luật Hành pháp chung, người nào
cố tình gian dối tạo hồ sơ, ký hoặc gửi hồ để đăng ký sẽ bị phạt tù cải tạo với thời hạn không
quá 2 năm. Ở Pháp, những công ty không tồn tại trên thực tế hay mang tính gian lận sẽ bị vô
hiệu, những người sáng lập và người điều hành có thể bị buộc tội đối với việc lưu hành cổ
phần bất hợp lệ. Theo pháp luật Trung Quốc, nếu như khai khống vốn khi thành lập, thành
viên công ty và người định giá phải bồi hoàn cho công ty và chủ nợ. Thái Lan còn quy định
về việc xoá sổ đăng ký những công ty không có hoạt động gì trên thực tế.
So với các nước, pháp luật Việt Nam quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật thành
lập doanh nghiệp khá cụ thể và chi tiết. pháp luật Việt Nam quy định 3 hình thức xử lý khi có
vi phạm pháp luật thành lập doanh nghiệp là xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm.
Từ việc xác định vai trò quan trọng của việc phòng ngừa, răn đe và trừng trị thích đáng
những hiện tượng vi phạm pháp luật thành lập doanh nghiệp, pháp luật các nước đều có
những quy định xác định rõ hành vi nào là vi phạm, mức độ vi phạm và biện pháp xử lý với
từng loại vi phạm cụ thể. Tuy nhiên, cũng có thể thấy quan niệm về vi phạm, mức độ xử lý,
các hình thức xử lý vi phạm ở mỗi nước cũng còn có nhiều khác biệt.
Kết luận chương 2
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật của một số nước có quan hệ hợp tác kinh tế
với Việt Nam như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái
Lan, Singapore, Philippines, Malaysia và nước láng giềng với Việt Nam là Trung Quốc,
những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về thành lập doanh nghiệp được đối
chiếu, so sánh theo từng nội dung cụ thể. Bốn loại hình doanh nghiệp thành lập phổ biến
được so sánh là công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và công ty cổ phần.
Những điều kiện chính để thành lập doanh nghiệp được so sánh là điều kiện về chủ thể, điều
Muốn thành lập được một công ty hợp danh ở Việt Nam phải tốn khá nhiều thời gian
cho các loại giấy tờ theo quy định quản lý của nhà nước, trong khi đó muốn thành lập hợp
danh ở những nước không quan niệm hợp danh là công ty thì chỉ cần có sự thỏa thuận của các
thành viên. Vấn đề này cần được nghiên cứu, xem xét trong việc quy định về hợp danh ở Việt
Nam.
Khác hẳn với luật Việt Nam, pháp luật của nhiều nước không coi hợp danh là pháp
nhân nên hợp danh không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Chính quy định về thuế là
một cản trở rất lớn đối với sự phát triển của loại hình công ty hợp danh ở Việt Nam. Bởi trách
nhiệm của các thành viên hợp danh là vô hạn, cộng thêm là lại phải chịu thuế hai lần, nên
thực tế chỉ có rất ít công ty hợp danh ở Việt Nam được thành lập.
Hợp danh có nên coi là công ty không? Cơ cấu tổ chức của hợp danh do các chủ thể tự
xác định hay phải quy định cụ thể trong luật, hợp danh có tư cách pháp nhân không? Có chịu
thuế thu nhập doanh nghiệp không? Đây là những vấn đề cần được các nhà xây dựng luật của
Việt Nam quan tâm, cân nhắc và có những điều chỉnh cho phù hợp để tạo điều kiện cho loại
hình kinh doanh này phát triển và đủ sức cạnh tranh với các loại hình doanh nghiệp khác
đang ngày càng chiếm những ưu thế trên thị trường.
3.3. Quy định về đăng ký và bảo lưu tên gọi trong thủ tục thành lập doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam quy định khá cụ thể và chi tiết về tên gọi của doanh nghiệp trong
Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, cả Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn
đều không quy định vấn đề đăng ký trước và bảo lưu tên gọi giống như pháp luật của nhiều
nước như Mỹ, Singapore, Malaysia…Pháp luật của những nước này quy định rất cụ thể về việc
đăng ký và bảo lưu tên gọi trong một khoảng thời gian nhất định trong khi làm các thủ tục
khác.
Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời trong bối cảnh cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh
nghiệp chưa hoàn thiện, việc đăng ký qua mạng chưa được áp dụng nên việc đăng ký và bảo
lưu tên gọi khó có thể áp dụng. Nhưng cùng với việc ra đời Nghị định 43/2010/NĐ-CP và
việc chính thức đưa Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ứng dụng trên toàn
quốc, vấn đề trùng tên, tên gây nhầm lẫn trong phạm vi toàn quốc sẽ dần được xử lý, việc
đăng ký qua mạng sẽ phát triển và đây cũng chính là cơ sở cho các quy định về đăng ký và
bảo lưu tên gọi trong luật của Việt Nam.
danh. Vấn đề đăng ký và bảo lưu tên gọi cần được xem xét để áp dụng tại Việt Nam. Bên
cạnh đó, điều kiện thành lập doanh nghiệp cũng cần quy định chặt chẽ hơn cùng với cơ chế
quản lý, thẩm định, giám sát hiệu quả để tránh việc gian lận và vi phạm pháp luật trong thành
lập doanh nghiệp. KẾT LUẬN
So sánh pháp luật là hiện tượng khoa học pháp lý mới xuất hiện trong những năm gần đây
khi xu thế hội nhập quốc tế giữa các quốc gia đang được mở rộng và phát triển. So sánh, đối
chiếu pháp luật giúp chúng ta nhìn nhận, tư duy lại hệ thống pháp luật quốc gia một cách khách
quan, toàn diện, học hỏi kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài, qua đó, có những giải pháp để
hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, so sánh pháp luật về thành lập doanh nghiệp là nhu cầu cấp
thiết cả về lý luận và thực tiễn, tuy nhiên, đây vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ. Thực trạng cho
thấy, có rất ít công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này một cách tập trung và hệ thống,
hoạt động nghiên cứu so sánh về pháp luật thành lập doanh nghiệp chưa thường xuyên, mới chỉ
chú trọng trong những thời điểm cụ thể, trước những yêu cầu cụ thể.
Do pháp luật về thành lập doanh nghiệp có thể so sánh nhiều nội dung, theo từng góc độ
tiếp cận khác nhau, vì vậy, trong luận văn, tác giả chỉ giới hạn phạm vi so sánh nhất định. Nội
dung so sánh là những vấn đề cơ bản nhất trong pháp luật thành lập doanh nghiệp: loại hình
doanh nghiệp được phép thành lập, điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp, việc xử lý vi
phạm pháp luật thành lập doanh nghiệp. Việc lựa chọn pháp luật của những nước Mỹ, Anh,
Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philippines để so sánh là
dựa trên tiêu chí các nước láng giềng, trong khu vực hoặc có quan hệ hợp tác kinh tế với Việt
Nam.
Bằng các phương pháp của luật so sánh, luận văn đã chỉ ra sự tương đồng, khác biệt giữa
pháp luật thành lập doanh nghiệp của Việt Nam và một số nước trong một số nội dung cơ bản,
như: loại hình doanh nghiệp được phép thành lập, một số điều kiện thành lập doanh nghiệp, thủ
tục thành lập doanh nghiệp và xử lý vi phạm pháp luật thành lập doanh nghiệp. Thông qua
những kết quả nghiên cứu so sánh đó, luận văn đã đưa ra một số khuyến nghị ban đầu góp phần
tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, Hà Nội.
10. Chính phủ (2007), Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 về Ban
hành Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, Hà Nội.
11. Chính phủ (2007), Nghị định 53/2007/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, Hà Nội.
12. Chính phủ (2009), Nghị định số 72/2009/NĐ-CP về ngành nghề kinh doanh có điều
kiện, Hà Nội.
13. Chính phủ (2010), Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính
phủ về đăng ký doanh nghiệp, Hà Nội.
14. Chính phủ (2010), Nghị định số 62/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Chính
phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2007/NĐ-CP ngày 04 tháng 4
năm 2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch
và đầu tư, Hà Nội.
15. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế
hiện hành ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Ngô Huy Cương (2009), Luật so sánh và việc dạy luật so sánh ở Việt Nam: từ một quan
điểm tới một quan điểm về một số vấn đề cơ bản, Trường Đại học Quốc gia, Hà Nội.
17. Bích Hạnh (2009), Thành lập doanh nghiệp và kinh doanh tại Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia. Hà Nội.
18. Trần Hữu Huỳnh (2003),“Xây dựng hệ thống giám sát hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp”, Nghiên cứu lập pháp, 98(1), tr. 10-16.
19. Dương Đăng Huệ (2004), “Luật Doanh nghiệp chung: cần hay không cần ban hành?”,
Nghiên cứu Lập pháp, (5), tr. 29-35.
20. Nguyễn Am Hiểu (2003), “Hình thức pháp lý doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
nhìn từ góc độ luật so sánh”, Nhà nước và pháp luật, (1), tr. 20-23.
21. Bùi Xuân Hải (2006), “So sánh cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với
các mô hình điển hình trên thế giới”, Khoa học pháp lý, (6), tr. 37-42.
22. Dương Đăng Huệ (1999), Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật kinh tế và vai trò của
các biện pháp hình sự trong việc bảo đảm trật tự quản lý kinh tế, Báo cáo khoa học tại
Bộ Tư pháp, Hà Nội.
Tiếng Anh
38. Japanese Company Act 2005,
39. Malaysia Companies Act 1965 (Amendment 2007) ,
40. Singapore Company Act 1994 (Amendment 2001, 2002, 2003, 2004, 2005),
41. Singapore Limited Liability Partnership Act 2005,
42. Thailand Civil and Commercial Code BE.2466 (1925) (Amendment No.14 BE.2548
(2005) and No.18 BE.2551 (2008),
43. Thailand Public Limited Company Act No.2 BE.2544 (2001) (Amendment 2008),
44. The company law of People's Republic of China 2005,
45. The Corporation Code of the Philippiness 1978,
46. The Limited Liability Partnerships Act 2000 (UK),
47. The Model Business Corporation Act 2002,
48. Uniform Commercial Code (UCC- 1990),
49. Uniform Limited Liability Company Act (ULLCA 1995),
50. Uniform Partnership Act 1997 (UPA 1997),