LỜI CAM ĐOAN
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN HOÀNG ANH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành:QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số :
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ TÁM
Huế, 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn và đã có
trích dẫn nguồn gốc. Các số liệu và kết quả nghiên cứu đã nêu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng, công bố trong một luận văn nào khác.
Tác giả
Nguyễn Hoàng Anh
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và cộng tác
của nhiều tập thể và cá nhân.
Trước tiên tôi xin thành thật cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Quản Lý khoa học
đối ngoại trường đại Học Kinh Tế Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình hợc tập cũng như hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến TS.Bùi Thị Tám
đã tận tình hướng dẫn tạo mọi điều kiện giúp đỡ trực tiếp tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin dành lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể phòng tín dụng và phòng
thẩm định Ngân hàng phát triển Việt Nam – chi nhánh Thừa Thiên Huế đã tạo điều
8 Bảng 2.5: Tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng phát triển Huế qua các
năm 2006-2009
49
9 Bảng 2.6: Phân tích nguyên nhân rủi ro tín dụng tại ngân hàng phát triển
Huế qua các năm 2006-2009
50
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
TT Tên sơ đồ trang
iv
1 Sơ đố 1.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy của ngân hàng phát triển Huế 36
MỤC LỤC
trang
Lời cam đoan i
v
Lời cảm ơn ii
Danh mục các từ viết tắt iii
Danh mục các sơ đồ iv
Danh mục các bảng v
Mục lục vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Dự kiến kết quả nghiên cứu 3
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
4
1.1 Tín dụng 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.6 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng Thái Lan 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH TT HUẾ
35
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng phát triển Việt Nam – chi nhánh Thừa Thiên Huế 35
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
2.1.2 Mô hình tổ chức 36
2.1.3 Tình hình hoạt động tại Ngân hàng phát triển Huế 39
2.2 Chính sách và quy trình cho vay của ngân hàng phát triển Huế 41
2.2.1 Chính sách cho vay đầu tư của Nhà Nước 41
2.2.1.1 Đối tượng cho vay 41
2.2.1.2 Điều kiện vay vốn 41
2.2.1.3 Điều kiện tín dụng 42
2.2.2 Quy trình cho vay đầu tư 43
2.2.2.1 Tiếp nhận Hồ sơ vay vốn 43
2.2.2.2 Thẩm định và quyết định cho vay 44
2.2.2.3 Thu nợ (gốc, lãi, phí) 45
2.3 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển Huế 47
2.3.1 Phân loại nợ 47
2.3.2 Tình hình rủi ro tín dụng 50
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 51
2.4 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển Huế 53
2.4.1 Quy trình cấp tín dụng 54
2.4.2 Thẩm quyền phán quyết tín dụng 54
2.4.3 Bảo đảm tiền vay 54
2.4.4 Quản lý nợ có vấn đề 55
2.4.5 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro 55
2.4.6 Công tác kiểm tra, kiểm soát 56
2.4.7 Xử lý rủi ro 57
2.5 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển Huế 58
3.3.2.2 Đối với Ngân hàng Nhà Nước 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Trong thời đại ngày nay, với trình độ phát triển cao của nền kinh tế, của các hoạt động
kinh tế xã hội, thị trường ngày càng mở rộng và phát triển trong mối quan hệ kinh tế khu
vực và quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để các hoạt động sản xuất kinh doanh nói
chung và hoạt động ngân hàng nói riêng phát triển. Tuy nhiên mức độ rủi ro tiềm ẩn trong
nền kinh tế hiện đại cũng nhiều hơn gắn liền với những cơ hội thách thức nền kinh tế hội
nhập mang lại.
Đối với hoạt động ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng, có
mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với khách hàng và nền kinh tế thông qua quá trình hoạt
động kinh doanh, dịch vụ ngân hàng. Chính vì lẽ đó rủi ro hoạt động ngân hàng rất đa
dạng, tiềm ẩn và xuất hiện gắn liền với mỗi hoạt động dịch vụ và tác động, ảnh hưởng với
những mức độ khác nhau. Trong đó, rủi ro tín dụng nếu có xảy ra sẽ có tác động rất lớn
và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng, cao hơn nó
tác động ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng bởi chính đặc thù trong hoạt động tín
dụng, hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Ngân hàng phát triển Việt Nam – chi nhánh Thừa Thiên Huế là một tổ chức tài
chính, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Đối tượng cho vay vốn tín dụng đầu tư
chủ yếu là các dự án thuộc ngành, vùng kinh tế khó khăn, các chương trình kinh tế có tác
động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Với
mục đích khuyến khích đầu tư, nâng cao hiệu quả xã hội nên các dự án vay vốn tín dụng
đầu tư của Nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi như thời gian vay vốn dài, tài sản thế chấp
cầm cố về cơ bản chỉ là tài sản hình thành từ vốn vay Do đó, hoạt động cho vay đầu tư
chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. P. Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)
cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động
kinh doanh”. Điều đó cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
- Thực trạng về công tác tín dụng trong Ngân hàng phát triển VN – chi nhánh TT
Huế
2
- Phân tích và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách quản trị rủi ro tín dụng
đối với Ngân hàng phát triển VN – chi nhánh TT Huế
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát triển VN – chi
nhánh TT Huế
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng phát
triển VN – chi nhánh TT Huế
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.5 Tín dụng
1.5.1 Khái niệm
Khi đề cập đến khái niệm tín dụng các nhà nghiên cứu cho rằng tín dụng (credit) xuất
phát từ chữ La-tinh là creditium (chỉ sự tín nhiệm) là một quan hệ vay mượn tài sản (tiền
tệ hoặc hàng hóa) giữa các thành viên trong xã hội với nhau được dựa trên nguyên tắc
hoàn trả vốn lẫn lời sau một thời gian nhất định.
1.5.2 Phân loại tín dụng
1.5.2.1 Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn
Tín dụng sản xuất lưu thông hàng hóa: loại tín dụng này được cấp cho các chủ thể
kinh doanh nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa
Tín dụng tiêu dùng: đây là loại hình tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá
nhân
1.5.2.2 Căn cứ theo thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường đáp ứng nhu
cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng bức thiết
Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp để bổ sung vốn cố định hình thành
nên tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới.
Thời gian tín dụng là trung và dài hạn.
1.6 Rủi ro tín dụng
1.6.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì rủi ro tín dụng được hiểu
là những tốn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng
của những khoản vay. [1,122]
Hay A.Saunders và H. Lange định nghĩa: “rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi
ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự
tính mang lại từ các khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả
số lượng và thời hạn”. Timothy W.Koch cho rằng: “rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn
của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát tự việc vốn vay không được thanh toán
hay thanh toán trễ hạn” [1,174]
5
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Ban
hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, rủi ro tín dụng được định nghĩa: “Rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Vậy rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà ngân hàng thương mại phải gánh chịu
do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc
không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách
quan. Rủi ro tín dụng gây tổn thât về tài chính cho ngân hàng thương mại, đó là làm thu
nhập ròng và giảm giá thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến
thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản
1.6.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro tín dụng, sử dụng tiêu chí nào là phụ thuộc
vào mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi
Rủi ro
nghiệp vụ
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp
vụ.
+ Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho
vay.
+ Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong
hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức
cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các
khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia
thành hai loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc
điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành,
lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho
vay có rủi ro cao.
Ngoài tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro, người ta còn phân loại theo các tiêu
chí khác như phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân phát sinh rủi ro;
phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối
lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của
các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng
vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
b. Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật liên quan đến hoạt động tín dụng
ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân
8
hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn
bản về cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: trong trường hợp
khách hàng không trả được nợ, ngân hàng có quyền xử lý TSĐB nợ vay để thu hồi nợ.
Trên thực tế, các ngân hàng không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh
tế, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc
khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển TSĐB nợ vay để
toà án xử lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng
ngân hàng không giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng. Năng lực cán bộ
thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và
công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp, nội dung và phương pháp thanh
tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN hoạt
động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong
việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ
quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp
còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các
ngân hàng. Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm
soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng.
Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi
mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát
sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện
thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc
kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần
phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc
lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào
những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: một số vụ án kinh
tế lớn trong thời gian vừa qua đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với
10
khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với
thực tế để rút tiền ngân hàng.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn
chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán
bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được
bố trí trong công tác tín dụng.
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay: các ngân hàng thường có thói quen
tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm
tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần
phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một
trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng
nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề
ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh
doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, trong thời gian qua các ngân hàng
chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà
cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ
kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các
thông tin mà ngân hàng yêu cầu.
- Sự hợp tác giữa các ngân hàng quá lỏng lẻo, vai trò của trung tâm thông tin tín
dụng ngân hàng (CIC) chưa thật sự hiệu quả:
chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh
nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó thực chất quyền sở hữu những khoản cho
vay là quyền sở hữu của những người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy khi rủi ro tín
dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền
cũng bị ảnh hưởng.
Khi một ngân hàng gặp rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân
hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác làm cho
toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả lương dấn đến đời sống
công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn
12
đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm,
thất nghiệp tăng xã hội mất ổn định.
Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền
kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác mối
liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rât nhanh nên rủi ro tín dụng tại một
nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan.
Tóm lại rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là
ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lại cho vay, nặng nhất khi ngân hàng
không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỉ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu
tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy
đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích
hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
1.7 Quản trị rủi ro tín dụng
1.7.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính
sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và
phát triển bền vững. Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá
hạn, nợ xâu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao
• Sự phân tách chức năng
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động kinh doanh cũng như
trong hoạt động cho vay là phải có sự phân tác chức năng giữa bộ phận giao dịch với
khách hàng với bộ phận thẩm định là, quyết định, theo dõi cho vay. Sự phân tách chức
năng này đảm bảo được tính khách quan trong việc đưa ra quyết định cũng như đánh giá.
Bộ phận đánh giá rủi ro tín dụng cũng phải được phân tách với bộ phận kinh
doanh tín dụng. Các báo cáo về rủi ro tín dụng cũng do bộ phận này thực hiện.
• Nguyên tắc bỏ phiếu trong quyết định cho vay
Để tránh sự thiên vị hay ưu tiên trong việc ra quyết định cho vay, nguyên tắc bỏ
phiếu với sự tham giá của bộ phận giao dịch với khách hàng và bộ phận thẩm định, theo
dõi sau cho vay được thực hiện. Cấp quản lý ở các mức cấp độ khác nhau được quyền ra
quyết định cho vay trong phạm vi hạn mức được giao của mình.
14
• Đảm bảo nguyên tắc kiểm soát nội bộ
Quy trình tín dụng phải nêu rõ được tất cả các bước tác nghiệp cũng như kết
quả của tất cả các bước tác nghiệp. Tại tất cả các khâu trong các bước tác nghiệp có khả
năng gây ra rủi ro đều phải được đặt các chốt kiểm tra như thế nào đó để người có trách
nhiệm xử lý sau đó với một hình thức nào đó, nghĩa là phải đảm bảo được “nguyên tắc
bốn mắt”. Các chốt kiểm tra ngay trong quy trình tín dụng phải được bố trí một cách phù
hợp, nếu nhiều quá có thể tăng khả năng quản trị rủi ro nhưng gây tốn kém, nếu ít quá có
thể giảm được chi phí những có thẻ gây ra rủi ro cao hơn. Vấn đề là tổ chức tín dụng phải
tìm được điểm cân bằng trong vấn đề này. Điều quan trọng là quy trình hoạt động tín
dụng phải bảo đảm mọi việc được xử lý một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và đúng
thẩm quyền.
Mọi bước xử lý công việc cũng như mọi chỉ thị của lãnh đạo đều phải được thể
hiện bằng văn bản, việc chỉ đạo chỉ bằng lời nói hay thể hiện bằng dấu hiệu khong rõ ràng
của một lãnh đạo nào mà khong được nêu trong quy trình là không thể chấp nhận được.
• Quy trình hoạt động tín dụng với nhiều công đoạn xử lý
Quy trình hoạt động tín dụng cũng có thể viết dưới dạng sổ tay chi tiết. quy
trình phải thể hiện được đầy đủ các công đoạn xử lý, cùng đầy đủ các chi tiết của từng
các khách hàng do các công ty xếp hạng có uy tín thực hiện.
Tổ chức tín dụng phải giám sát được tất cả các loại rủi ro quan trọng trong hoạt
động tín dụng, kể cả rủi ro ở cấp tập đoàn, bằng nhiều biện pháp phải giám sát được tình
hình tài chính của từng khách hàng cũng như giám sát được rủi ro của toàn bộ danh mục
đầu tư một cách liên tục.
Điều quan trọng là phải sớm phát hiện được rủi ro. Để làm được điều này, tổ chức
tín dụng phải phát triển được mô hình cảnh báo rủi ro với các chỉ số cảnh báo sớm, bao
gồm các chỉ số định lượng và định tính. Các mô hình rủi ro phải được kiểm chứng lại
trong thực tế cũng như được xem xét trong tình huống xấu nhất để kiểm tra khả năng chịu
đựng rủi ro tín dụng của tổ chức mình. Trên cơ sở đó, các mô hình rủi ro đó phải được
điều chỉnh, cập nhật một cách phù hợp.
e. Kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài
16