NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VN CHI NHÁNH 7 TP HCM (2) - Pdf 24

- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 2009, ngành tài chính là một trong những ngành chịu tác động lớn của suy
thoái kinh tế toàn cầu, trong đó có các ngân hàng. Vì vậy, việc đối phó với các rủi ro
trong hoạt động kinh doanh đang được nhiều ngân hàng ưu tiên hàng đầu.[8]
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực
khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan
như kinh tế, chính trị, xã hội. Việc các ngân hàng liên tục mở rộng mạng lưới, giới thiệu
các dịch vụ, sản phẩm mới cũng như việc áp dụng công nghệ hiện đại đòi hỏi một chiến
lược quản trị rủi ro hoạt động đồng bộ nhằm quản lý và giảm thiểu thiệt hại trong quá
trình hoạt động. Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không những chỉ huy động vốn và cho
vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối,
chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ đại lý…Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân
hàng rất đa dạng: rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng…
Trong số tất cả các loại rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn
nhất và phức tạp nhất, đang diễn ra ở mức đáng quan tâm.
Xuất phát từ thực tiễn đó đã làm cơ sở cho em chọn đề tài: “NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VN CHI NHÁNH 7 TP HCM” với hi vọng sẽ đóng góp được một
phần hữu ích cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và của đơn
vị thực tập nói riêng.
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những đề tài được nghiên cứu khá nhiều
trong các kỳ nghiên cứu khoa học trước đây. Ở cấp nghiên cứu khoa học của sinh viên,
riêng tại trường Đại Học Ngân Hàng có các đề tài nghiên cứu tiêu biểu như sau:
 Đào Hồng Hạnh, báo cáo nghiên cứu khoa học: “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
hàng NN&PT NT Hà Nội” (2005)
 Lê Văn Chi, báo cáo nghiên cứu khoa học: “Những giải pháp nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng tại ngân hàng CT, Thanh Hóa” (2006), lớp TC 44B.
- 2 -

Năm 2008 và 2009 là những năm đầy biến động về tình hình kinh tế xã hội Việt
Nam mà cụ thể là tình hình lạm phát những tháng đầu năm 2008 và suy thoái kinh tế
toàn cầu năm 2009. Những biến động về tình hình kinh tế đã tác động mạnh mẽ và trực
tiếp đến hoạt động tín dụng tại ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng doanh nghiệp.
Người viết khi thực hiện đề tài sẽ chú trọng xem xét, đánh giá ảnh hưởng của sự biến
động này đến hoạt động cho vay doanh nghiệp tại NHTMCP Công Thương VN chi
nhánh 7, TP HCM, tìm ra những nguyên nhân tác động đến khả năng trả nợ ngân hàng
của doanh nghiệp, đồng thời đề ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế những rủi
ro xảy ra tại chi nhánh.
Mục tiêu của người viết khi xây dựng giải pháp là không tập trung vào việc xây
dựng những giải pháp mang tính vĩ mô, những kiến nghị mang tính chất bao quát vì sẽ
rất khó cho Ngân hàng nếu muốn ứng dụng vào thực tế. Tác giả chú trọng đến những
giải pháp cụ thể, mang tính khả thi cao và phù hợp với chi phí và khả năng của chi
nhánh. Có một điều tác giả nhận thấy khi đọc một số báo cáo và luận văn nghiên cứu
với đề tài tương tự là: hầu hết các đề tài khi đưa ra phương pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng chỉ đơn thuần dựa trên những phân tích về thực trạng hoạt động của ngân hàng.
Trong bài nghiên cứu của mình người viết sẽ tiến hành khảo sát thu thập thông tin thực
tế tại chi nhánh từ đó tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng về phía doanh
nghiệp và ngân hàng.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại chi nhánh.
 Đánh giá thực trạng tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh.
 Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: ngân hàng và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gồm có
công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân…
Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: năm 2007- 2008- 2009.
+ Không gian: Ngân hàng TMCP Công Thương VN chi nhánh 7 TP HCM
- 4 -

 Từ phía doanh nghiệp
 Từ nền kinh tế.
Dựa trên thực tế ngân hàng và tình hình kinh tế trong thời gian vừa qua đề ra
những giải pháp cụ thể có khả năng dự báo, ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh.
7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM.
Chương 2: Thực trạng tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP
Công Thương VN Chi nhánh 7, TP HCM.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại
ngân hàng TMCP Công Thương VN Chi nhánh 7, TP HCM.
- 6 -
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỂ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1, Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) đã hình thành và tồn tại hàng trăm
năm gắn liền với sự phát triển kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống Ngân hàng
thương mại đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế
hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó- nền kinh tế thị trường- thì
Ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài
chính không thể thiếu được.
Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các công ty, xí
nghiệp, tổ chức kinh tế, các tổ chức đoàn thể và các cá nhân…bằng việc nhận tiền gửi,
cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Như vậy, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, với chức năng chủ yếu làm trung gian tín dụng,
trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế. [1]

Vốn điều lệ là vốn mà Ngân hàng thương mại phải có để đi vào hoạt động được
ghi trong văn bản pháp qui. Tùy theo hình thức sở hữu mà nguồn vốn này được hình
thành từ những nguồn khác nhau: Nếu là Ngân hàng thương mại Nhà nước thì vốn điều
lệ do Ngân sách cấp 100%. Nếu là Ngân hàng thương mại cổ phần thì nguồn vốn này
được hình thành từ phát hành cổ phiếu.
Các quỹ dự trữ được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm bổ sung vào vốn tự có
như: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro.
Vốn tự có của ngân hàng thường chiến tỷ trọng nhỏ (thường không quá 10% )
trong tổng nguồn vốn hoạt động nhưng rất quan trọng quyết định qui mô hoạt động của
ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, huy động vốn cho vay. Kinh
nghiệm gần đây đối với các vụ phá sản ngân hàng cho thấy Ngân hàng nào có vốn tự có
càng nhiều càng an toàn vững mạnh hơn. Hơn nữa tỷ lệ vốn tự có là thước đo khách
quan về thế mạnh của Ngân hàng và là cơ sở để Ngân hàng thu hút những nguồn vốn
khác.
b) Nguồn vốn huy động
- 8 -
Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh
doanh Ngân hàng. Vốn tự có của Ngân hàng thường chỉ đủ mua sắm, trang bị trụ sở
Ngân hàng, dụng cụ văn phòng… để thực hiện nghiệp vụ cho vay thì nguồn vốn chủ
yếu là tiền gửi của khách hàng, do đó nghiệp vụ này là nghiệp vụ trung tâm của nghiệp
vụ huy động vốn. Tiền gửi của khách hàng gồm những loại sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi có kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm.
- Hình thức huy động khác của Ngân hàng.
c) Nguồn vốn đi vay và các nguồn vốn khác
Trong quá trình hoạt động, khi gặp thiếu hụt về khả năng thanh toán, Ngân hàng
có thể tận dụng nguốn tín dụng hỗ trợ từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên
Ngân hàng hoặc hỗ trợ từ Ngân hàng trung ương bằng cách tái chiết khấu. Nếu Ngân
hàng có những mối quan hệ quốc tế rộng lớn có thể tranh thủ những khoản vốn tiếp

tạo nguồn ngoại tệ phục vụ cho dịch vụ thanh toán quốc tế.[3]
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM
1.2.1, Khái niệm tín dụng
Tín dụng xuất phát từ gốc chữ La Tinh: Credittum– tức là tin tưởng, tín nhiệm.
Tín dụng được diễn giải trong tiếng Anh là Credit và theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam
là sự vay mượn.
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định dựa trên nguyên
tắc có sự hoàn trả cả vốn và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận.[2]
(Sơ đồ 1.1): Tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Cho vay vốn
Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay
(Lender) (Borrower)
Hoàn trả vốn và lãi
1
2
- 10 -
1.2.2, Rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của
Ngân hàng. Rủi ro trong Ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín
dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi một Ngân hàng rơi vào trạng
thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín
dụng của Ngân hàng.[4]
1.2.2.1, Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện
trên thực tế qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH.
Như vậy, có thể nói rằng RRTD có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong
đó NH là chủ nợ, mà khách nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện
nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ
chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của Ngân

mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các
khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý
danh mục cho vay của Ngân hàng, được phân thành hai loại: rủi ro nội tại (Intrinsic risk)
và rủi ro tập trung (Concentration risk).
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh doanh, từ đặc điểm hoạt
động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối
với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một
ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại
hình cho vay có rủi ro cao. [4]
1.2.3, Những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
1.2.3.1, Nhân tố khách quan
Nguyên nhân khách quan có thể ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân
hàng, gây ra các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng là những rủi ro bất khả kháng xảy ra
ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người. Nguyên nhân khách quan có rất nhiều và
đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực và có tính chất rất khác nhau, khó có thể dự đoán trước.
* Thiên tai, dịch bệnh phá hoại sản xuất kinh doanh
Đây là những rủi ro bất khả kháng của ngân hàng và khách hàng khi thực hiện
một hợp đồng vay, là những biến cố khách quan không thể lường trước được, nó có tác
động trực tiếp và ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp… Thiên tai và dịch bệnh không loại trừ ai, nó ảnh hưởng tới khả năng thực hiện
- 12 -
phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ vay của người đi vay. Nếu rủi ro xảy
ra lớn đòi hỏi phải có thời gian ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh mới có khả năng
trả nợ thậm chí khắc phục được.[2]
* Hoàn cảnh kinh tế xã hội trong nước và thế giới

* Sự thay đổi chính sách của Nhà nước
Trong trường hợp có sự thay đổi về chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật
pháp của Nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sát nhập hay
tách ra của các Bộ, ngành trong nền kinh tế. Những thay đổi và điều chỉnh đó là rất cần
thiết trong quá trình phát triển của đất nước, nhưng tuỳ nơi, tuỳ lúc sẽ tác động mạnh
đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn
trả tín dụng của khách hàng đối với ngân hàng. Do tính chất hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng có liên quan đến rất nhiều bộ, ngành và lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, mỗi thay
đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước cũng đều có thể tác động tới kết quả hoạt động
của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng - một hoạt động kinh doanh chủ yếu của
Ngân hàng.
* Môi trường pháp lý
Đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng phát sinh nợ quá hạn.
Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ và
đồng bộ, không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hợp đồng kinh tế, là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng. [4]
1.2.3.2, Nhân tố chủ quan
1.2.3.2.1, Từ phía khách hàng
Đây chính là một trong những nguyên nhân chính và cổ điển nhất gây ra rủi ro
tín dụng. Người vay có thể do vô ý hay cố ý không thực hiện trả nợ vay cho Ngân hàng
đúng hạn. Nhìn chung nguyên nhân này có thể nắm bắt và đối phó được nếu NH thực
hiện tốt việc giám sát, kiểm tra và quản lý khách hàng trước, trong và sau khi phát tiền
vay cho KH. Nguyên nhân này có thể được xem xét trên các khía cạnh sau:
* Thực trạng hoạt động kinh doanh của người đi vay
Hoạt động kinh doanh của người đi vay bao gồm cả các hoạt động có sử dụng và
không sử dụng vốn vay Ngân hàng. Do vậy rủi ro trong hoạt động kinh doanh của người
đi vay mà có sử dụng vốn vay Ngân hàng là nguyên nhân trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng
- 14 -
cho Ngân hàng. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toán

- 15 -
cho những mục đích trái pháp luật. Những trường hợp như vậy phần lớn Ngân hàng cần
phải có sự can thiệp giúp đỡ của pháp luật.
1.2.3.2.2, Từ phía Ngân hàng
Ngoài nguyên nhân gây ra nợ quá hạn từ phía người đi vay, nguyên nhân chủ
quan bao gồm những thiếu sót, khuyết điểm từ phía Ngân hàng, bao gồm:
- Năng lực thẩm định dự án cho vay của Ngân hàng còn yếu nên đã cho vay những
dự án không khả thi, nhiều rủi ro, không có khả năng thu hồi vốn, trong khi Ngân hàng
không lường trước được những nguồn dự trữ tương ứng để bù đắp rủi ro. Cán bộ tín
dụng chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành nghề mà mình tài trợ, trong
khi Ngân hàng không có đủ thông tin, các số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích và
đánh giá khách hàng, phân tích khả năng thị trường tiêu thụ hiện tại và tương lai, tính
toán chu kỳ, vòng đời sản phẩm… dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án xin vay.
- Bên cạnh vấn đề thiếu và yếu năng lực quản lý, đôi khi có một bộ phận cán bộ
Ngân hàng kém phẩm chất đạo đức lợi dụng vị trí công tác để trục lợi, tham ô, nhận hối
lộ, cố tình cho vay sai nguyên tắc, đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng nợ quá hạn
trong thời gian qua.
- Ngân hàng quá chủ quan, tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi
đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay mà coi nhẹ việc kiểm
tra đôn đốc, giám sát việc thực thi dự án, phòng ngừa rủi ro, đồng thời không nắm rõ
tình hình sử dụng tiền vay của khách hàng, do đó không có các biện pháp ngăn chặn xử
lý kịp thời khi các khoản vay có dấu hiệu xấu trong quá trình sử dụng dẫn tới khả năng
trả nợ của khách hàng không được đảm bảo, xảy ra nợ quá hạn.
- Ngân hàng thiếu một cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn
mức tín dụng tối đa cho tứng khách hàng thuộc các ngành nghề, sản phẩm địa phương
khác nhau để phân tán rủi ro.
- Hệ thống kiểm soát của Ngân hàng quá yếu kém và lỏng lẻo khiến cho nhiều
khoản tín dụng được tập trung quá lớn vào một vài đối tượng vay làm cho nguy cơ tổn
thất tín dụng của Ngân hàng tăng cao phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
chính những khách hàng này. [4]

mất lòng tin của người gửi tiền đối với ngân hàng. Những người gửi tiền đồng loạt đòi
rút tiền đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản. Các khoản nợ quá hạn luôn chứa đựng khả
năng không thu hồi được vốn (một phần hoặc toàn bộ) và đặt NHTM trước tình trạng
mất vốn. [2]
- 17 -
1.2.3.2, Đối với nền kinh tế
Lịch sử hoạt động của các ngân hàng trên thế giới đã chứng kiến không ít các
trường hợp mà các NHTM lớn bị phá sản đã làm chao đảo nền kinh tế tài chính của đất
nước, thậm chí hậu quả của nó còn lan tràn sang cả các quốc gia trong khu vực hay toàn
châu lục. Do vậy tình trạng gia tăng các khoản nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng
ngân hàng tuỳ theo tính chất và mức độ mà gây tác hại ở các cấp độ khác nhau tới ngân
hàng đồng thời tác động xấu đến hoạt động của các doanh nghiệp và tổ chức khác có
liên quan với ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Trên giác độ vĩ mô, nợ quá hạn thực sự làm giảm tính tích cực của tín dụng ngân
hàng đối với nền kinh tế. Ngân hàng thương mại thông qua việc cấp tín dụng cho khách
hàng của mình đã thực hiện đầu tư cho sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo thêm những
sản phẩm mới cho xã hội, tạo công ăn việc làm, đồng thời tăng thu nhập và tích luỹ cho
nền kinh tế quốc dân. Hiện tượng nợ quá hạn xảy ra chứng tỏ người vay vốn đã không
thực hiện hiệu quả đầu tư như đã dự kiến khi nhận vốn tín dụng từ ngân hàng thương
mại.
Ở mức độ trầm trọng, nợ quá hạn không chỉ làm cho một NHTM bị mất vốn, mất
khả năng thanh toán, đi đến phá sản ngân hàng mà còn kéo theo sự chao đảo của một
loạt các ngân hàng thương mại khác trong hệ thống các ngân hàng. Sự việc đó sẽ gây rối
loạn quá trình lưu thông tiền tệ trong nước, giảm giá đồng nội tệ, dẫn đến đình trệ sản
xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Tác hại của nợ quá hạn không chỉ
đổ lên một quốc gia mà còn kéo theo sự lung lay của một loạt nền kinh tế của các nước
có liên quan, ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền tài chính thế giới. [2]
1.3. Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.3.1, Khái niệm quản trị rủi ro trong NHTM
Quản trị rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản trị, hạn chế các

tra.
- Bên cạnh đó, với tính chất đặc thù của RRTD, đứng ở nhiều góc độ khác nhau,
phương pháp QTRRTD cũng được nhìn nhận và được thực hiện phối hợp theo nhiều
hướng:
- 19 -
1.3.5.1, Quản trị rủi ro tín dụng theo yếu tố tác động
Là phương pháp nhằm nhận dạng và quản trị những yếu tố có tác động, gây ảnh
hưởng đến RRTD. Bao gồm các nhóm yếu tố sau:
- Yếu tố thuộc về ngân hàng: Chính sách tín dụng, mô hình QTRR, chất lượng
nguồn nhân lực, công tác thẩm định tín dụng, công tác giám sát-kiểm tra sau, tốc độ
tăng trưởng tín dụng, đối tượng KH, thời hạn cho vay, đối tượng cho vay, định giá
khoản vay, tài sản thế chấp, đa dạng hóa danh mục, rủi ro đạo đức, chính sách quản trị
nguồn nhân lực,…
- Yếu tố thị trường: Chu kỳ kinh tế, lạm phát, lãi suất, hối đoái, giá cả và thị
trường, rủi ro chính sách,…
- Yếu tố thuộc về khách hàng: Tính khả thi, hiệu quả của phương án vay, tài sản
đảm bảo, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời, hệ số đòn bẩy, hiệu quả quản lý vốn,
dòng tiền, đạo đức chủ doanh nghiệp, năng lực trình độ quản lý, triển vọng ngành, khả
năng cạnh tranh, đa dạng hóa kinh doanh,…
- Yếu tố khác: Tính chính xác và sẵn có của thông tin, hành lang pháp lý, vai trò
giám sát của NHNN,…
Đối với từng loại yếu tố, NH cần lựa chọn biện pháp quản trị thích hợp. Chẳng
hạn, đối với các yếu tố thuộc về NH thì chủ động điều chỉnh, các yếu tố thị trường thì
phòng ngừa hoặc né tránh, các yếu tố thuộc về KH thì ngăn chặn, các yếu tố thuộc về
chính sách thì kiến nghị,… [6]
1.3.5.2, Quản trị theo phân đoạn cấp tín dụng
Công tác quản trị tín dụng được thực hiện khác nhau ở từng phân đoạn cấp tín
dụng. Bao gồm:
- Trước khi giải ngân: Bao gồm từ công tác hoạch định chính sách đến triển khai
thực hiện thẩm định và ra quyết định cấp tín dụng. Đây là giai đoạn mang tính quyết

Đối với mỗi khoản vay câu hỏi đầu tiên của NH là liệu khách hàng có thiện chí
và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không. Điều này liên quan đến việc
nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của khách hàng bao gồm:
- Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắn chắn rằng người vay có mục
đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
- Năng lực của người đi vay (Capacity): người đi vay phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự, người vay có phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp.
- Thu nhập của người đi vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách hàng
vay.
- Bảo đảm tiền vay (Collaterral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay
cho Ngân hàng.
- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính
sách tín dụng từng thời kỳ.
- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp,
quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của Ngân hàng.
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản song hạn chế của mô hình này là
nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng
như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD. [7]
1.3.6.2, Các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
Hiện nay hầu hết các NH đều tiếp cận với các phương pháp đánh giá rủi ro hiện
đại. Sau đây là một số mô hình lượng hóa RRTD thường được sử dụng nhiều nhất.
 Mô hình điểm số Z:
Mô hình này phụ thuộc vào: (i) chỉ số các yếu tố tài chính của người vay –X,(ii)
tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay
trong quá khứ.
Z =1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3+ 0.6X4 + 1.0X5
Trong đó:
 X1: tỷ số “vốn lưu động ròng/ tổng tài sản”
- 22 -
 X2: tỷ số “lợi nhuận tích lũy/ tổng tài sản”

+ Uy tín của người đi vay: thể hiện qua lịch sử vay trả của khách hàng. Nếu
trong suốt quá trình đi vay khách hàng luôn trả đủ và đúng hạn thì sẽ tạo được niềm tin
đối với Ngân hàng.
+ Cơ cấu vốn của khách hàng: thể hiện thông qua tỷ số giữa vốn lưu động/ vốn
tự có. Nếu tỷ lệ càng cao thì xác suất rủi ro càng lớn.
+ Mức độ biến động của thu nhập: với bất kỳ cơ cấu vốn nào, thu nhập có ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ của người vay. Chính vì vậy thường các công ty có
lịch sử thu nhập ổn định thường xuyên lâu dài sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
+ Tài sản đảm bảo: là điều kiện chủ yếu trong bất kỳ quyết định cho vay nào
nhằm khuyến khích việc sử dụng vốn có hiệu quả và nâng cao trách nhiệm của khách
hàng trong việc trả nợ ngân hàng.
- Nhóm các yếu tố liên quan đến thị trường:
+ Chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó ngân hàng cần phân tích chu kỳ kinh tế nhằm lực
chọn quyết định vào đúng thời điểm và nên đầu tư vào ngành nào có mức độ rủi ro thấp.
+ Mức lãi suất: một mức lãi suất cao biểu hiện của chính sách thắt chặt tiền tệ,
thường gắn với mức độ rủi ro cao. Trong khi nhà đầu tư thường bị hấp dẫn bởi những
DA mang lại nhiều lợi nhuận mà quên đi lợi nhuận càng cao thì độ rủi ro càng lớn. [7]
1.4. Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng
Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng là một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám
sát hoạt động ngân hàng được thành lập năm 1975 bởi các thống đốc ngân hàng trung
ương của nhóm G10 ( Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương
quốc Anh và Mỹ ). Ủy ban tổ chức họp thường niên ở ngân hàng thanh toán quốc tế
(Bis) tại Washington (Mỹ) hoặc tại thành phố Basel (Thụy Sỹ).
Quan điểm của ủy ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một
quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển sẽ đe dọa đến sự ổn định về tài
chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Vì vậy nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính là
mục tiêu hàng đầu và đóng vai trò hết sức quan trọng. Ủy ban Basel không chỉ bó hẹp
- 24 -
hoạt động trong khuôn khổ các nước thành viên mà còn mở rộng mối liên hệ với các

- 25 -
tiếp thị hoặc bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản
chất của mỗi khoản tín dụng. Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng xây dựng
và phát triển hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD, giúp phân biệt các
mức độ RRTD trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của NH.
-Basel 2: về giám sát ngân hàng cũng đã tổng kết 4 vấn đề chính bao hàm 10
nguyên tắc vàng trong quản trị RR và khuyến nghị các ngân hàng cần thực hiện như sau:
Vấn đề thứ nhất: Tạo ra môi trường quản trị rủi ro phù hợp, gồm 3 nguyên tắc:
- Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị nên được biết rõ các khía cạnh chính của ngân
hàng. RRTD là loại rủi ro cần được quản lý, đánh giá xem xét định kỳ dựa trên khung
quản lý RRTD. Khung này cần phải cung cấp một định nghĩa tổng thể cho toàn ngân
hàng về RRTD, cũng như các nguyên tắc, cách xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát
và giảm thiểu rủi ro.
- Nguyên tắc 2: phải bảo đảm rằng khung quản trị RRTD của ngân hàng là tùy
thuộc vào hiệu quả và toàn diện của kiểm toán nội bộ bởi nhân viên thành thạo, được
đào tạo và hoạt động độc lập. Kiểm toán nội bộ không nên trực tiếp chịu trách nhiệm về
quản lý RRTD.
- Nguyên tắc 3: Quản lý cấp cao phải có trách nhiệm triển khai thực hiện các
khung quản lý RRTD. Khung phải được triển khai thực hiện nhất quán trong toàn bộ hệ
thống ngân hàng và tất cả các nhân viên nên hiểu rõ trách nhiệm của mình với việc quản
lý RRTD.
Vấn đề thứ hai: xác định, đánh giá, giám sát, kiểm soát rủi ro gồm
- Nguyên tắc 4: Các ngân hàng cần xác định và đánh giá RRTD trong tất cả các
rủi ro hiện có trong tất cả sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của NH. Cần phải
tuân thủ đầy đủ các thủ tục thẩm định trước khi giới thiệu sản phẩm mới, thực hiện các
hoạt động, quy trình và hệ thống.
- Nguyên tắc 5: Các ngân hàng nên thực hiện một quy trình để thường xuyên
giám sát mức độ ảnh hưởng và tổn thất do RRTD gây ra. Cần có báo cáo thường xuyên
cho lãnh đạo cấp cao để hỗ trợ chủ động quản lý RRTD.
- Nguyên tắc 6: Các NH nên có chính sách, quy trình và thủ tục để kiểm soát và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status