1 Báo cáo tốt nghiệp
“Thực trạng và chất lượng Tín dụng
Ngân hàng và vấn đề chất lượng tín dụng
Ngân hàng thương mại”
2
Mục lục
Chương1: Tín dụng Ngân hàng và vấn đề chất lượng tín dụng Ngân hàng
thương mại
Chương2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại nhno&ptnt Sơn Động.
Chương3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tín dụng tại
chi nhánh nhno&ptnt Sơn Động.
3
năm Ngân hàng quốc doanh lớn, có uy tín. Thông qua mạng lưới chi
nhánh rộng khắp trên 63 tỉnh thành, nhno&ptnt đã thể hiện vai trò chủ đạo
của mình trong các lĩnh vực đầu tư SXKD, đặc biệt là trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp, góp phần lớn vào quá trình cnh-hđh nông thôn.
Trong toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của nhno&ptnt Việt Nam, hoạt
động tín dụng là hoạt động mũi nhọn, có vai trò quan trọng không chỉ đối
với Ngân hàng mà còn đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Cùng với sự phát triển không ngừng của hệ thống Ngân hàng, nhno&ptnt
Việt Nam cũng không ngừng lớn mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đáp
ứng có hiệu quả mọi yêu cầu của nền kinh tế.
Như chúng ta đã biết, tín dụng là nghiệp vụ truyền thống và chủ yếu trong
hoạt động của các Ngân hàng, song song với những lợi ích mà nghiệp vụ
này đem lại cho Ngân hàng là những rủi ro có thể xảy ra bất cứ khi nào.
Vấn đề rủi ro tín dụng là vấn đề nan giải mà các Ngân hàng đã và đang
phải đối mặt. Vì vậy việc tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng cũng là giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho Ngân hàng luôn
là vấn đề mang tính cấp thiết cao. Từ hoạt động thực tiễn trong những năm
vừa qua, với lý do khách quan chủ quan, hoạt động tín dụng còn một số
tồn tại nhất định. Do vậy việc: “nâng cao chất lượng tín dụng” của
nhno&ptnt Việt Nam cũng như chi nhánh nhno&ptnt Sơn Động không
5
những là đòi hỏi bức thiết trong hoạt động Ngân hàng mà còn là đòi hỏi
khách quan đối với sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế-xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Với kiến thức đã học và qua thời gian thực tập tại nhno&ptnt Sơn
Động em xin trình bày đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
tại chi nhánh nhno&ptnt Sơn Động”. Thông qua chuyên đề em có thể
tổng hợp lại những kiến thức đã được học tại trường và thu thập thêm kinh
chương1 : Tín dụng Ngân hàng và vấn đề
chất lượng tín dụng Ngân hàng thương mại
1.1. Tín dụng Ngân hàng.
7
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng Ngân hàng.
1.1.1.1.Khái niệm
Tín dụng là nghiệp vụ truyền thống và chủ yếu đem lại lợi nhuận cho
Ngân hàng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Nhưng đến
nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác về tín dụng.
- Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là tin tưởng tín nhiệm.
- Theo chức năng hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng là một giao dịch
hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sxkd, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
c. Cho vay dài hạn: là loại cho vay co thời hạn trên 60 tháng. Tín dụng dài
hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây
dựng nhà ở, đầu tư các thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn…
1.1.2.2. Căn cứ vào mục đích sử dụng.
a. Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở đất đai…
b. Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương
mại.
c. Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón thuốc, trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc
d. Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các Ngân hàng,
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng …
e. Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền và trang trải các khoản chi phí thông thường của đời
sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
9
f. Cho thuê: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và
động sản.
1.1.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
a. Cho vay không đảm bảo (cho vay tín chấp): là loại cho vay không có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3, mà việc cho vay chỉ dựa
vào uy tín của người đi vay.
b. Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế
chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ 3. Cho vay có đảm bảo áp
được một quyết định chính xác về việc cấp tín dụng hay không, Ngân hàng
phải phân tích hàng loạt các nguồn thông tin có liên quan và nguồn khởi điểm
được lấy từ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng. Đây là giai đoạn hình thành đầy đủ các
giấy tờ, văn bản chứng tỏ khách hàng thực sự có nhu cầu về VTD, cũng như
chứng minh được tính hợp pháp về nhân thân khách hàng và tính tự nguyện
xin được cấp tín dụng của khách hàng.
Giai đoạn nay, nhiệm vụ chủ yếu của nhân viên Ngân hàng là tiếp xúc và
thông báo điều kiện cấp tín dụng đối với từng khách hàng cụ thể với những
mục đích sử dụng vốn đã định.
Giai đoạn này được kết thúc bằng việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
của khách hàng.
1.1.3.2. Phân tích tín dụng.
a. Khái niệm: phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng
của khách hàng về sử dụng VTD, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay của
11
Ngân hàng. Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có
thể dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng và tiên lượng khả năng kiểm soát của Ngân
hàng về những rủi ro đó, cũng như dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn
chế những thiệt hại có thể xảy ra.
b. Nội dung phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng được chia ra làm hai lĩnh vực: phân tích tài chính và phân
tích phi tài chính.
* Phân tích phi tài chính: là phân tích những yếu tố ít hoặc không liên
quan tới vấn đề tài chính của khách hàng một cách trực tiếp. Đó là phân tích,
kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, kiểm tra mục đích của khoản tín dụng
đề nghị cấp, phân tích uy tín của khách hàng trong kinh doanh, nghiên cứu
phân tích tình hình quản trị doanh nghiệp, khả năng và uy tín của hội đồng
quản trị và ban Giám đốc, nghiên cứu triển vọng của khách hàng… Việc nghiên
đã cam kết theo hợp đồng.
Giải ngân phải đảm bảo nguyên tắc vận động tín dụng phải gắn liền vận động
hàng hoá.
Mặc dù giải ngân là cấp tiền cho người đi vay, nhưng phương thức giải ngân
phụ thuộc vào nội dung cam kết của hợp đồng tín dụng.
1.1.3.5 Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng.
Giai đoạn giám sát tín dụng sẽ được tiếp nối với mục tiêu theo dõi, đánh
giá mức độ chấp hành hợp đồng tín dụng của khách hàng và kịp thời có cách
ứng xử thích hợp. Nội dung của giai đoạn này chủ yếu gồm:
* Giám sát tín dụng: là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã cam kết
theo hợp đồng tín dụng
- Giám sát tài khoản hoạt động của khách hàng tại Ngân hàng.
- Phân tích báo cáo tài chính theo định kì.
13
- Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng.
* Thu nợ: khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng
đúng hạn và đầy đủ như trong cam kết theo hợp đồng.
* Tái xét tín dụng và phân hạng tín dụng
- Tái xét tín dụng thực chất là tiến hành phân tích tín dụng trong điều kiện
khoản tín dụng đã được cấp.
- Phân hạng tín dụng: tổ chức xem xét lại và phân loại tín dụng phụ thuộc
rất nhiều vào khả năng quản trị, trình độ nghiệp vụ, quy mô kinh doanh của
Ngân hàng.
* Xử lý NQH, nợ có vấn đề: nqh là những khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ. Đối với những
khoản nợ có vấn đề Ngân hàng cần quy định một quy trình xử lý cụ thể riêng
biệt nhằm hạn chế rủi ro cho Ngân hàng.
Năm giai đoạn của quy trình tín dụng có quan hệ mật thiết với nhau, giai đoạn
người đi vay vừa là người cho vay. Với chức năng huy động vốn Ngân hàng
giúp cho những người có nguồn vốn dư thừa thoả mãn nhu cầu tiết kiệm của
mình. Song song với hoạt động huy động vốn là hoạt động cho vay nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn thiếu hụt cho các chủ thể kinh tế.
1.1.4.4. Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối
quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước luôn phải
gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới, xu hướng quốc tế hoá hội nhập
hoá ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc bình đẳng các bên cùng có lợi.
Trong đó đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là
hai lĩnh vực hợp tác quốc tế thông dụng và phổ biến giữa các nước. Vốn là
nhân tố đầu tiên quyết định quá trình nay, trong đó Ngân hàng vừa là người
15
cung ứng vốn vừa là trung gian trong thanh toán cho các nhà xuất nhập khẩu
trong nước với các nước trên thế giới.
Việc cung ứng vốn là điều kiện quan trong để các nhà xuất nhập khẩu mở
rộng kinh doanh từ đó mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.
16
1.1.4.5. Tín dụng Ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Thông qua % chênh lệch giữa chi phí huy động vốn và lãi suất cho vay đã
tạo ra một khoản lợi nhuận cho Ngân hàng. Chính hoạt động tín dụng đã tạo
điều kiện cho sự phát triển ổn định của các Ngân hàng, góp phần vào sự ổn
định của nền kinh tế.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của
nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên để tín dụng
ngành cũng như tuân thủ các qui trình, qui chế nghiệp vụ tín dụng hay không.
Ngoài ra, người ta còn xem xét đến các yếu tố như khả năng thu hút
khách hàng, yếu tố con người … Trước hết, con người chính là các cán bộ
Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường đặc biệt với cán bộ tín dụng phải
khẳng định được rằng: "chất lượng tín dụng xuất phát từ chất lượng cán bộ tín
dụng ".Việc đào tạo, sử dụng, đánh giá và đề bạt đội ngũ cán bộ tín dụng trước
hết phải xem xét về tư cách đạo đức, tiếp đó là trình độ và năng lực của cán bộ
tín dụng. Phải dựa trên cơ sở chất lượng của khoản tín dụng được cấp ra để
đánh giá đúng mức trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng hiện có. Cao hơn nữa là
trình độ quản lý, nhận thức, chỉ đạo điều hành của người lãnh đạo vì họ chính
là người đề ra các qui định, thể lệ và đưa ra các quyết định .
Khách hàng cũng là một yếu tố quan trọng cấn phải xem xét và họ chính
là một phần trong quan hệ tín dụng, góp phần váo sự thành công của Ngân
hàng. Nhưng đánh giá khách hàng về mặt định tính rất khó, vì nó chính là sự
thiện chí trong việc trả nợ của khách hàng, trách nhiệm của người vay…
Do chỉ tiêu định tính rất khó xác định chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của
người cán bộ tín dụng và người quản lý cũng như các mối quan hệ của họ với
khách hàng.
18
1.2.2.2. Vế định lượng
Đây là những chỉ tiêu có thể tính toán và ước lượng được do vậy khi đánh
giá chất lượng tín dụng người ta thướng sử dụng kết quả từ việc phân tích này.
Nó bao gồm các tiêu thức sau:
a. Về hiệu quả sử dụng vay vốn
Hiệu suất vay vốn của Ngân hàng được tính theo công thức :
Tổng dư nợ cho vay
H = x 100%
Tổng nguồn vốn huy động
Tổng dư nợ
Tổng dư nợ món vay có phát sinh nợ quá hạn
Tỷ lệ đầu tư rủi ro = x100%
Tổng dư nợ
Hai chỉ tiêu này nhỏ một phần cho thấy sự tăng lên của chất lượng tín dụng và
ngược lại.
Tuy nhiên, để đánh giá một cách chính xác NQH người ta thường chia nqh ra
thành nqh có khả năng thu hồi và nqh không có khả năng thu hồi:
Tỷ lệ nợ quá hạn có
khả năng thu hồi
Tỷ lệ nợ quá hạn không
có khả năng thu hồi
Hai chỉ tiêu này cho ta biết được bao nhiêu % trong tổng nqh có khả
năng thu hồi và không có khả năng thu hồi để từ đó có biện pháp xử lý tương
ứng. Đồng thời kết hợp với chỉ tiêu đầu tư rủi ro sẽ giúp cho Ngân hàng quản
lý tốt rủi ro các khoản cho vay vì chỉ tiêu nqh mới chỉ xem xét đến giá trị
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
=
x100%
Nợ quá hạn không có khả năng thu
hồi
=
20
21
Nhưng việc bán tài sản không phải lúc nào cũng thuận tiện vì trên thực
tế có những tài sản khó bán hoặc đang trong thời kỳ giảm giá… do vậy đây
cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho khoản vay, ảnh hưởng đến chất lượng
tín dụng của Ngân hàng.
f. Vòng quay VTD
Chỉ tiêu này thường được các nhtm tính toán hàng năm để đánh giá khả
năng tổ chức quản lý VTD và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu
của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba lợi ích: Nhà nước, khách hàng và
Ngân hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay VTD =
Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của VTD hàng năm.
Đối với Ngân hàng, hệ số này thể hiện khả năng thu hồi vốn Ngân hàng
cao hay thấp, chất lượng quản lý VTD tốt hay xấu. Nếu vòng quay chậm
chứng tỏ chất lượng tín dụng không tốt, thu nợ trong kỳ kém, VTD bị đóng băng.
g. Về thu nhập từ hoạt động cho vay.
Mục đích kinh doanh của bất cứ NHTM nào cũng là lợi nhuận, do vậy bất
kỳ một khoản cho vay nào mà không đem lại khoản thu nhập cho Ngân hàng
hoặc làm giảm thu nhập của Ngân hàng thì không thể nói khoản vay đó có
chất lượng cao. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để
Ngân hàng tồn tài và phát triển.
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Lãi từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng =
tượng khách hàng đảm bảo cho hoạt động tín dụng gây không ít khó khăn cho
hoạt động của các NHTM. Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt
23
động trong nền kinh tế. Đối với các Ngân hàng thì nó tác động trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như luật TCTD, luật NHNN… Những
luật này qui định những điều kiện bắt buộc mà mỗi Ngân hàng phải có như: tỷ
lệ huy động vốn so với VTC, DTBB… điều đó sẽ tác động đến chiến lược
kinh doanh của Ngân hàng, đến chính sách tín dụng mà mỗi Ngân hàng đưa
ra. Việc tuân thủ qui định của pháp luật sẽ góp phần làm tăng chất lượng của
khoản tín dụng.
b. Môi trường kinh tế
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng luôn có quan hệ mật thiết với nền
kinh tế. Từng giai đoạn, các biến cố kinh tế (lạm phát, suy thoái hay tăng
trưởng kinh tế, thay đổi chính sách thuế, tỷ giá…) đều có tác động đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
Chu kì kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và do đó ảnh hưởng
đến hoạt động của Ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng. Khi nền kinh tế ở
vào thời kì tăng trưởng, sản xuất phát triển từ đó tạo điều kiện tích luỹ nhiều
hơn và tạo môi trường cho việc thu hút vốn của Ngân hàng thuận lợi hơn.
Đồng thời bản thân doanh nghiệp cũng có nhu cầu mở rộng đầu tư dẫn đến
nhu cầu vốn tăng. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị kìm hãm,
lạm phát tăng làm khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng bị giảm sút.
Mức độ phù hợp giữa lãi suất Ngân hàng với lợi nhuận cũng tác động tới chất
lượng của khoản vay. Khi lãi suất Ngân hàng có xu hướng tăng khách hàng
vay sẽ trả nợ muộn, nhằm dùng vốn đó vào SXKD kì tiếp theo từ đó gây khó
khăn cho việc thu nợ của Ngân hàng.
c. Môi trường chính trị - xã hội.
Tình hình chính trị một quốc gia sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống
nữa quy trình tín dụng là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều
chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn. Do đó, để ra được quyết
25
định tín dụng đúng đắn đòi hỏi ban lãnh đạo Ngân hàng cũng như cán bộ tín
dụng phải có chuyên môn sâu rộng, bộ máy tổ chức phải thống nhất.
c. Kiểm soát nội bộ.
Là việc theo dõi, giám sát các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng để có
những thông tin thường xuyên về tình hình tín dụng qua đó phát hiện các vi
phạm pháp luật, qui chế, thể lệ, chính sách, nguyên tắc cho vay và có biện
pháp khắc phục kịp thời. Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào mức độ phát hiện
kịp thời các sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.
Kiểm soát nội bộ sẽ giúp cho cán bộ điều hành công việc theo đúng cơ chế,
chính sách, đúng pháp luật đồng thời nắm bắt được những lệch lạc góp phần
đảm bảo chất lượng của khoản vay.
d. Thông tin tín dụng.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng chịu sự chi phối rất lớn của các qui luật
kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật và các cơ chế quản lý kinh tế quốc gia.
Trong điều kiện nước ta hiện nay: đang trong quá trình đổi mới phát triển, hệ
thống pháp luật chưa chặt chẽ, thiếu tính đồng bộ và chưa ổn định nên cơ chế
chính sách quản lý, vận hành nền kinh tế cũng thường xuyên thay đổi, hệ
thống thông tin kinh tế, thông tin thị trường chưa đáp ứng đầy đủ kịp thời cho
hoạt động tín dụng do đó rủi ro thiếu thông tin còn phổ biến. Việc thiếu thông
tin tạo ra sự lựa chọn đối nghịch từ đó xảy ra kết cục không mong muốn, rủi
ro không trả được nợ. Do đó thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thì
càng nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng, góp phần nâng cao chất
lượng tín dụng.
e. Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng khoản vay nên đây là nhân tố có