TIỂU LUẬN:
Thực trạng vận dụng các hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Thành phố Hà Nội
Chương I
những lý luận cơ bản về thanh toán
không dùng tiền mặt 1.Sơ lược về nguồn gốc và sự phát triển của hoạt động thanh toán không dùng tiền
trung ương thực hiện các chức năng kiểm soát bằng đồng tiền đối với nền kinh tế trên
cơ sở đó Ngân hàng trung ương mới có thể chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách. Thanh
toán qua Ngân hàng còn là điều kiện cần thiết để áp dụng cách tính thuế giá trị gia tăng.
1.1.5. Các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay.
chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số nghị định, quyết định về
thanh toán không dùng tiền mặt như ngày 25/11/1993 chính phủ ra nghị định số 91/cp
về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt. Ngày 21/2/1994 Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước đã ban hành quyết định số 22/QĐ-NH1 về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt .
Ngày 9/5/1996 Chính phủ ra nghị định 30/CP về hình thức thanh toán séc.
Nghị định của chính phủ và quyết định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã
nêu lên những nguyên tắc cơ bản sau đây của thanh toán không dùng tiền mặt
1.2. Quy định về việc mở tài khoản thanh toán.
1.2.1. Quy định đối với bên chi trả(bên mua)
1.2.2. Quy định đối với bên thụ hưởng (bên bán)
1.2.3. Quy định đối với Ngân hàng và kho bạc
1.3. Khái quát nội dung các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam
hiện nay.
Theo quyết định số 22/QD – NH1 ngày 21/2/1994 của thống đốc Ngân Hàng
Nhà nước về thể lệ thanh toán tiền hàng, dịch vụ ở nước ta có 6 hình ththức sau đây:
- Thanh toán bằng Sec
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền
- Thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán
- Thanh toán bằng thư tín dụng
- Thanh toán bằng thẻ thanh toán
1.3.1. Hình thức thanh toán bằng séc
Hình thức thanh toán bằng Séc hiện nay được áp dụng theo nghị định 30/CP
1.3.5.1. Thanh toán uỷ nhiệm chi
- Uỷ nhiệm chi (UNC) là lệnh chuyển tiền của chủ tài khoản được lập theo
mẫu in sẵn của Ngân hàng, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình
trả cho bên người thụ hưởng
- Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi bắt nguồn từ bên mua
UNC được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có mở tài khoản ở cùng một
Ngân hàng, khác Ngân hàng cùng hệ thống, khác Ngân hàng khác hệ thống.
1.3.5.2. Séc chuyển tiền
- Séc chuyển tiền là một hình thức chuyển tiền cho người đại diện đơn vị
xin chuyển tiền trực tiếp chuyển tiền để nhận tại Ngân hàng trả chuyển tiền.
+Nguyên tắc thanh toán của séc chuyển tiền là chỉ thanh toán cùng hệ thống
1.3.6. Thanh toán bằng thư tín dụng
Thư tín dụng là một hình thức thanh toán mà đơn vị bán đòi hỏi đơn vị mua phải
có đủ tiền chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã ghi trên hợp đồng, đơn đặt
hàng đã ký
Thư tín dụng được sử dụng thanh toán giữa hai bên mua và bán có tài khoản ở
hai Ngân hàng trên hai địa bàn khác nhau.
1.3.8. Hình thức thanh toán bằng thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn liền với kỹ
thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng. Thẻ thanh toán là do Ngân hàng phát hành và
bán cho khách hàng của mình là (các doanh nghiệp, cá nhân) dùng để thanh toán tiền
hàng hoá, công nợ và lĩnh tiền mặt. Thẻ thanh toán gồm thẻ từ và thẻ điện tử:
Thẻ từ là thẻ dùng kỹ thuật băng từ để đọc và ghi thông tin trên thẻ
Thẻ điện tử có gắn bộ nhớ vi điện tử trên thẻ ghi và đọc thông tin qua bộ nhớ vi
điện tử
- Điều kiện áp dụng
(1) Ngân hàng phát hành thẻ làm thủ tục phát hành thẻ, giao thẻ cho chủ sở
hữu
(2) Chủ sở hữu thẻ gao thẻ cho cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ kiểm tra, rút số
dư
(3) Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ in biên lai, trả lại thẻ giao một liên biên lai
cho cơ sở sở hữu thẻ
(4) Cơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ gửi bảng kê biên lai thanh toán thẻ cho
Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ
(5) Ngân hàng đại lý thanh toán thẻ chuyển nợ Ngân hàng phát hành thẻ
(6) Ngân hàng đại lý gửi báo cáo cho cơ sở tiếp nhận thẻ
Nước ta hiện nay mới áp dụng thanh toán thẻ ở những thành phố lớn, thời gian
áp dụng chưa nhiều, công nghệ chưa phát triển mạnh. Tuy nhiên cũng cho ta thấy khả
năng đầy triển vọng. Công tác thanh toán không dùng tiền mặt cũng như thanh toán thẻ
phát triển mạnh khi trình độ công nghệ áp dụng rộng, dân trí cao.
Chủ sở hữu
thanh
Toán
Cơ sở
tiếp nhận
Ngân hàng
phát
Ngân hàng
đại lý
Thanh toán
doanh. Gía trị sản suất công nghiệp tăng 11,2% so với 3 tháng đầu năm 2000.
- Các hoạt động dịch vụ được đẩy mạnh, giá trị tăng.
- Việc thực hiện các chính sách kích cầu đầu tư, khuyến khích phát triển sản
xuất.
- Tài chính Ngân hàng đã thực hiện đạt dự toán 30% năm. Tổng nguồn vốn huy
động qua các kênh tiếp tục tăng, dư nợ cho vay tăng.
Năm 2000, Chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội đã từng bước vững
trắc hoà nhập với thị trường, tiếp tục thực hiện mục tiêu " Đổi mới toàn diện kinh doanh
đa năng tổng hợp của khách hàng làm mục tiêu không ngừng tăng trưởng doanh lợi
ngân hàng, khẳng định vị thế của Ngân hàng.
Ngoài nhiệm vụ như các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thủ đô Hà Nội, Chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội còn thực hiện nhiệm vụ của chính phủ
giao cho hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là: huy động vốn để cho
vay trọng tâm đầu tư xây đựng cơ bản, với quyết tâm và năng động trong tìmm tòi
nguồn vốn phục vụ cho đầu tư và phát triển.
2.1.2- Sự ra đời và cơ cấu tổ chức:
- Theo quyết định số 177/ TTG ngày 26-4-1957 của chính phủ, Ngân hàng Kiến
thiết Việt Nam ( tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ngày nay ) và
trực thuộc Bộ Tài chính.
- Tháng 11- 1990 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Vịt Nam được thành lập theo
quyết định số 401 và nghị định số 388.
- Tháng 3-1993 theo quyết định số 90 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
được thành lập theo mô hình tổ chức là Tổng công ty, hoạt động theo pháp lệnh Ngân
hàng.
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội là một Chi nhánh trực thuộc Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam chịu sự điều hành trực tiếp của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam.
Thực hiện năm
2000
Tăng trưởng
1. Tài sản Có. 2598 2727 30%
2. Huy động vốn. 2021 2950 46%
-Huy động vốn dân cư. 1259 1838 46%
-Tiền gửi TCKT. 762 1112 46%
3. Dư Nợ các loại. 1707 2026 18%
-Dư Nợ ngắn hạn. 939 1211 29%
-Dư Nợ trung - dài hạn 768 798 4%
4.Dịch vụ bảo lãnh. 4,9 6,2 28%
* Qua bảng 1 ta nhận thấy:
-Về công tác huy động vốn.
Kết quả nguồn vốn huy động trong năm 2000 đạt 2021 tỷ đồng, tăng 46% so với
cùng kỳ năm 1999. Trong đó:
+ Huy động vốn dân cư đạt 1259 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ năm 1999 là
1259 tỷ đồng.
+ Tiền gửi tổ chức kinh tế đạt 1112 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ năm 1999
là 762 tỷ đồng.
Hiện nay Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội áp dụng mức lãi
suất huy động là 0,5- 0,9% .
Với kết quả như vậy, ta thấy một năm qua ngân hàng đã tổ chức công tác huy
động vốn, bám sát địa bàn, vận dụng mức lãi suất huy động hợp lý cho các hình thức
tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu nhiều kỳ hạn nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế.
- Công tác sử dụng vốn.
Năm 2000 khối lượng thu chi tiền mặt phát sinh nhiều nhưng công tác kho quỹ
tại Chi nhánh luôn được thực hiện an toàn, không xẩy ra trục trặc, thất thoát.
Với sự nỗ lực của các chương trình phần mềm kế toán thanh toán trên mạng vi
tính, công tác kế toán luôn đảm bảo kịp thời và an toàn tuyệt đối, góp phần đáng kể vào
kết quả kinh doanh của Chi nhánh.
2.2.Thực trạng nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội.
2.2.1.Tình hình thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Hà Nội.
- Hoà nhập voà quá trình đổi mới của đất nước và hiện đại hoá công tác của
ngành Ngân hàng, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội thời gian qua
đã có nhiều thành tựu trong hoạt động kinh doanh. Hoạt động trong môi trường nền
kinh tế mở với bao cơ hội và thách thức Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà
Nội luôn thực hiện tốt các chính sách mang tính chiến lược. Đa dạng hoá hoạt động, đổi
mới công nghệ kết hợp với chính sách khách hàng đồng thời luôn coi trọng tổ chức cán
bộ là phương châm định hướng hoạt động của Ngân hàng.
Bên cạnh hoạt động tín dụng thì công tác thanh toán tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Hà Nội ngày càng được mở rộng, việc thanh toán không ngừng lại
ở trên địa bàn mà mở rộng thanh toán ra toàn quốc.
Trong thời gian qua việc thanh toán giữa khách hàng với Ngân hàng và giữa các
Ngân hàng với nhau doanh số tăng lên rõ rệt, nhất là thanh toán không dùng tiền mặt.
Điều đó được thể hiện qua bảng 2.
" Tình hình thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Hà Nội năm 2000- tháng 3 năm 2001".
Bảng 2: Tình hình thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hà Nội.
Đơn vị: tỷ đồng.
- Năm 2000 thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh quý II cao nhất so với
quý chiếm 88% tổng doanh số thanh toán và quý IV chiếm 84%, thấp hơn so với các
quý nhưng vẫn cao so với tổng doanh số thanh toán chung. Vì vào cuối năm các đơn vị
thường phát sinh nhu cầu rút tiền mặt về chi các khoản như lương, thưởng cho cán bộ
công nhân viên ăn tết.
- Năm 2001 trong quý I đầu năm doanh số thanh toán không dùng tiền mặt tại
Chi nhánh chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng doanh số thanh toán chung93%.
Điều này cho thấy, thanh toán không dùng tiền mặt đã thực sự chiếm ưu thế
trong thanh toán tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội.
Sự tăng lên rất lớn về doanh số thanh toán không dùng tiền mặt có nhiều nguyên
nhân. Một phần do 2 năm qua tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên địa
bàn có nhiều thuận loựi, các doanh nghiệp tiến hành mở rộng sản xuất kinh doanh.
Cũng vì thế mà nhu cầu về thanh toán mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cũng tăng
lên. Đây là nguyên nhân khách quan đem lại một phần thành công của Ngân hàng. Song
một lý do chính là Ngân hàng chủ động cải tiến công tác thanh toán không dùng tiền
mặt, đáp ứng được yêu cầu nhanh chóng, an toàn và thuận tiện nên đã tạo được uy tín
đối với khách hàng. Chính vì lẽ đó mà trong hai năm qua đã thu hút được một số doanh
nghiệp lớn đến mở tài khoản và giao dịch tại Ngân hàng. Đây là nguyên nhân chính
nâng cao doanh số thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng.
Có được kết quả này cũng là do một phần ngân hàng mua sắm trang thiết bị công
nghệ ngân hàng, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán. Việc nối mạng thanh
toán với các Chi nhánh Ngân hàngtrong toàn quốc qua MODEM truyền tin đã tạo điều
kiện cho Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội sử lý nhanh các món
chuyển tiền trong hệ thống. Mặt khác, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà
Nội luôn chuẩn bị đầy đủ kịp thời vốn trong thanh toán, đáp ứng nhu cầu thường xuyên
của khách hàng. Đây cũng là nhân tố gây nên niềm tin với khách hàng của Chi nhánh,
giúp thanh toán không dùng tiền mặt phát huy vai trồ trong nền kinh tế.
tỷ
trọng
%
Số món
Tỷ trọng
%
Số món
Tỷ trọng
%
1.Các loại séc 4720 21,36 6140 21,11 1640 14,26
-séc chuyển khoản 2543 11,5 3434 11,81 924
-séc bảo chi 2177 9,86 2706 9,3 176
-séc định mức 0 0 0 0 0
2.Uỷ nhiệm chi 9072 41,06 13469 46,33 7082 61,46
3.Uỷ nhiệm thu 2546 11,6 4496 15,46 1577 13,68
4.Thư tín dụng 1272 5,75 1583 5,44 402 3,48
5.ngân phiếu thanh toán 3869 17,52 3024 10,4 736 6,39
6.Thẻ thanh toán. 598 2,7 364 1,26 86 0,75
Tổng 22095
100 29076 100 11523 100
Bảng 4: Doanh số các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội
năm 1999- 2000 và quý I năm 2001.
Đơn vị: triệu đồng.
toán ta thấy sự biến động từ năm 1999 đến năm 2000 và quý I năm 2001 séc và uỷ
nhiệm thu có số món giảm rõ rệt. Ngược lại uỷ nhiệm chi- chuyển tiền chiếm ưu thế
tuyệt đối. Năm 1999 với 9072 món giao dịch, chiếm 41,06%/ tổng số món thanh toán.
Sang năm 2000 tỷ trọng lại tiếp tục tăng lên 46,33% và đầu năm 2001 lên tới 61,4% số
món. Cụ thể:
+ Doanh số thanh toán bằng uỷ nhiệm chi- chuyển tiền cũng tăng lên. Việc uỷ
nhiệm chi- chuyển tiền chiếm tỷ trọng lớn về cả số món lẫn doanh số giao dịch là do
hình thức này sử dụng khá đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng đối với bên mua hàng.
+ Về thanh toán séc: Mặc dù chiếm tỷ trọng khá nhỏ về số món giao dịch nhưng
doanh số thanh toán lại chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2000 số món giao dịch thanh toán bằng
séc chiếm tỷ trọng 21,11%, giảm 0,25% so với năm 1999. Nhưng tỷ trọng doanh số lại
đang có xu hướng tăng từ 180401 triệu đồng lên 279860 triệu đồng. Điều này cho thấy
rằng giá trị thanh toán của mỗi tờ séc đang tăng lên và khách hàng đang dần sử dụng các
tờ séc có giá trị lớn cho thanh toán hàng hoá và dịch vụ.
+ Trái ngược với séc- thư tín dụng ( L/ C ) mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏvề số giao
dịch thanh toán nhưng doanh số thanh toán bằng thư tín dụng lại chiếm tỷ trọng rất lớn.
Năm 1999 tỷ trọng số món thanh toán bằng thư tín dụng ( L/ C ) lại chiếm tỷ trọng
5,75%, nhưng doanh số thanh toán lại chiếm 35,07% tổng doanh số thanh toán.
Năm 2000 và quý I năm 2001 mặc dù tỷ trọng có xu hướng giảm, nhưng xét
doanh số thanh toán thực tế ta thấy vẫn tăng lên đôi chút, thực tế là năm 1999 doanh số
bằng 946.430 triệu đồng, chiếm tỷ trọng35,09%/ tổng doanh số thanh toán. Riêng quý I
năm 2001 doanh số đã đạt 240.608 triệu đồng, tăng 4001 triệu đống so với trung bình
các quý năm 2000. Do thư tín dụng chỉ áp dụng trong thanh toán quốc tế với các hàng
hoá có giá trị lớn nên ta có thể hiểu tại sao số món ít mà doanh số thanh toán lại lớn.
+ Về ngân phiếu thanh toán, do thủ tục thanh toán rất đơn giản, thuận tiện nên
trong cả số món lẫn doanh số chiếm tỷ trọng không nhỏ.
Năm 1999 thanh toán bằng ngân phiếu diễn ra khá phổ biến, nhưng sang năm 2000 về
Bảng 5: Doanh số thanh toán bình quân một món của các hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt năm 1999- 2000 và quý I năm 2001.
Đơn vị: triệu đồng
Các hình thức
Doanh số thanh
toán bình quân
một món năm
1999
Doanh số thanh
toán bình quân
một món năm
2000
Doanh số thanh
toán bình quân
một món quý
I- 2001
1. Séc 38,2 45,6 67,6
2. Uỷ nhiệm chi 91,4 77,1 67,6
3. Uỷ nhiệm thu 3,1 0,3 0,2
4. Thư tín dụng 656,5 597,9 598,5
5.Ngân phiếu thanh toán 135,9 141,8 149,8
6. Thể thanh toán 3,4 3,7 4,1
- Từ bảng 5 nhìn chung doanh số thanh toán bình quân một món của tất cả các
hình thức đều tăng lên qua các năm trừ uỷ nhiệm thucó giảm một chút. Nguyên nhân
chính là do tình hình kinh tế- chính trị- xã hội trên địa bàn Hà Nộ rất ổn định, thuận lợi
cho việc sản xuất kinh doanh, từ đó kéo theo nhu cầu mua bán hàng hoá nguyên vật liệu
cũng tăng lên. Một nguyên nhân nữa là do trong thời gian qua có một số doanh nghiệp
mới được thành lập.
Trên điạ bàn thành phố đến mở tài khoản và giao dịch tại ngân hàng . Doanh số
6.140
3.434
2.706
0
279.860
145.244
134.616
0
2. Thanh toán không dùng
tiền mặt chung.
22.095 2.380.777 29076 2.696.699
- Nhìn bảng số liệu ta nhận thấy sự gia tăng trong việc sử dụng các hình thức thanh
toán séc cả về số món lẫn doanh số.Còn so với doanh số thanh toán không dùng tiền mặt
chung của toàn Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội thì năm 2000 cũng tăng lên
10,37% so với 7,57% năm 1999.
Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội tiến hành áp dụng tất cả các
hình thức thanh toán séc từ khi nghị định 30/CP của chính phủ ban hành, nhưng do điều
kiện của ngân hàng cũng như nhu cầu thanh toán của khách hàng, hiện ngân hàng chủ
yếu áp dụng 2 loại séc là: Séc chuyển khoản và séc bảo chi. Còn séc định mức không
được khách hàng ưa chuộng, là vì séc séc này có nhược điểm lớn là phát hành vẫn có
thể xảy ra trường hợp quá số dư nên độ bảo đảm kém, mặc dù cũng được bảo chi như
séc bảo chi. Khách hàng khi sử dụng séc định mức phải lưu ký số tiền rất lớn của cả
quyển séc mà không được hưởng lãi. Mặt khác mỗi quyển séc gồm 10 tờ mà thời gian
hiệu lực của cả quyển là 30 ngày nên việc sử dụng hết cả quyển là rất ít xảy ra. Vì vậy,
séc định mức không được ưa dùng. Trên địa bàn thành phố Hà Nội, có nhiều chi nhánh ngân hàng trong và ngoài
nước hoạt động thanh toán diễn ra rất mạnh, cho nên, lượng séc chuyển khoản được
thanh toán qua bù trừ chiếm tỷ trọng rất lớn.
- Séc chuyển khoản có ưu điểm:
+ Thanh toán đơn giản, người phát hành séc chỉ cần ghi đầy đủ các yếu tố trên tờ
séc và giao trực tiếp cho khách hàng (người thụ hưởng) mà không cần phải đến ngân
hàng làm thủ tục thanh toán cho khách hàng như séc bảo chi,uỷ nhiệm chi, thư tín dụng:
Nó tránh được sự phiền hà cho người phát hành do đó nó rất được bên mua ưa dùng.
Séc chuyển khoản được thanh toán theo nguyên tắc ghi nợ trước và có sau, điều
này sẽ rất thuận tiện khi khách hàng có cùng tài khoản tại một ngân hàng
+ Trường hợp hai bên Mua và Bán có mở tài khoản ở hai Chi nhánh ngân hàng
khác nhau tham gia thanh toán bù trừ thì khi ( Ghi có ) cho người thụ hưởng phải mất từ
một đến hai ngày ( Sếc hợp lệ). Cồn nếu không hợp lệ như: quá số dư thì dẫn đến quá
trình thanh toán bị chậm trễ và người thụ hưởng séc đã bị chiếm dụng vốn.
Chính vì lẽ đó mà người bán cũng không thích nhận séc chuyển khoản nếu quan hệ
mua bán chưa có sự tín nhiệm lẫn nhau séc chuyển khoản chủ yếu được vận dụng thanh
toán giữa các khách hàng có sự tín nhiệm lẫn nhau,hoặc có cùng mở tài khoản tại một
ngân hàng và số tền thanh toán của mỗi tờ séc là không quá lớn. Do vậy, đây là hạn chế
của séc chuyển khoản .
Trung bình một món thanh toán của séc chuyển khoản tại ngân hàng Ngân hàng
đầu tư và phát triển Hà Nội là 42,2 triệu đồng .Đây là thông số tương đối cao, mặc dù có
những hạn chế,song thanh toán bắngéc chuyển khoản vẫn tăng đều.
*Hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi –chuyển tiền từ bảng số liệu 7 cho thấy uỷ
nhiệm chi –chuyển tiền (UNC-CT) Tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà
Nội được áp dụng phổ biến nhất, với doanh số thanh toán lớn nhất- chiếm 38,5% trên
tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt.