LUẬN VĂN:
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ
tại nhà máy bia Đông Nam Á
LỜI MỞ ĐẦU
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi
doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn cùng với hiệu quả sử dụng TSLĐ luôn gắn liền
với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đưa ra những biện pháp hữu
ích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ, doanh nghiệp cần có sự kết hợp lý luận và
điều kiện thực tiễn tại doanh nghiệp.
Trong thời đại kinh tế thị trường, thêm nữa là việc Việt Nam vừa tham gia
vào tổ chức kinh tế thế giới WTO, một số doanh nghiệp đã có phương pháp, biện pháp
huy động và sử dụng vốn kinh doanh một cách năng động và hiệu quả. Nhưng cũng có
những doanh nghiệp không thể huy động được vốn, đôi khi còn thâm hụt vốn. Lý do là
ở công tác quản lý sử dụng vốn kém hiệu quả.
Trong tình hình chung đó, nhà máy bia Đông Nam Á đã có nhiều cố gắng
trong việc khai thác, sử dụng vốn kinh doanh và đã đạt được những thành tựu đáng kể.
có các đối tượng lao động. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động
gọi là TSLĐ.
TSLĐ là những tài sản ngắn hạn và thường xuyên luân chuyển trong quá trình
kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, TSLĐ được thể hiện ở các
bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Giá trị
các loại TSLĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của một doanh
nghiệp. Vì thế việc quản lý TSLĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành
nhiệm vụ của doanh nghiệp.
1.1.2 Phân loại TSLĐ
Tùy theo căn cứ để phân loại, TSLĐ có rất nhiều loại khác nhau.
1.1.2.1 Căn cứ vào vai trò của TSLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này, TSLĐ được phân thành:
- TSLĐ trong khâu dự trữ: bao gồm các vật tư, nguyên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ
lao động.
+ Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài- là những loại nguyên
vật liệu khi tham gia vào sản xuất chúng tạo nên thực thể sản phẩm.
+ Nguyên vật liệu phụ- là những loại nguyên vật liệu giúp cho việc hình thành
sản phẩm bền hơn đẹp hơn.
+ Nhiên liệu- là loại dự trữ cho sản xuất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho
quá trình sản xuất như củi, than đá, gaz, …
+ Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự
trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoặc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản
xuất, phương tiện vận tải, …
+ Vật liệu đóng gói: là những vật liệu để đóng gói trong quá trình sản xuất như
bao nilông, vỏ chai, vỏ keg, …
+ Công cụ lao động nhỏ: để tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và
giữ nguyên hình thái vật chất, nhưng giá trị rất nhỏ, không đủ tiêu chuẩn để là tài sản
cố định.
- TSLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.
- TSLĐ được tài trợ bởi vốn đi vay: tức là TSLĐ có được từ nguồn đi vay.
1.1.2.4 Căn cứ theo khả năng chuyển hóa thành tiền của TSLĐ
Dựa vào việc nghiên cứu chu kỳ vận động của tiền mặt, người ta phân loại
TSLĐ thành các loại sau:
+ Ngân quỹ: bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền: như vàng, bạc, đá
quý, chứng khoán thanh khoản cao. Tiền ở đây bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ở
ngân hàng, tiền đang chuyển. Vàng, bạc, đá quý là những tài sản đặc biệt, được sử
dụng chủ yếu để dự trữ. Chứng khoán thanh khoản cao là các loại chứng khoán ngắn
hạn dễ trao đổi.
+ Các khoản phải thu: là các khoản khách hàng tạm thời chưa trả tiền cho
doanh nghiệp. Đây là tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh
nghiệp thương mại. Hoạt động mua bán chịu thường xuyên diễn ra giữa các bên, do đó
phát sinh tín dụng thương mại.
+ Dự trữ, tồn kho: gồm nguyên vật liệu, nhiên liệu, thành phẩm dở dang, sản
phẩm cuối cùng.
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn: là các khoản đầu tư tài chính có thời gian dưới 1
năm.
+ TSLĐ khác.
1.1.3 Đặc điểm các loại TSLĐ
TSLĐ có ba đặc điểm chung:
+ Tham gia vào một chu kỳ kinh doanh.
+ Thay đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu tạo thành thực thể sản phẩm.
+ Giá trị luân chuyển một lần vào giá thành sản phẩm làm ra.
Bên cạnh đó, từng loại của TSLĐ đều có những đặc điểm riêng biệt.
1.1.3.1 Tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt (cash) được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua tài
sản cố định, trả lương, trả nợ, nộp thuế, …Lưu ý rằng, trong ngôn ngữ tiếng Việt, “tiền
mặt” không bao gồm tiền gửi ngân hàng; và việc sử dụng séc trong thanh toán của các
+ Công ty có thể được hưởng chiết khấu nếu việc thanh toán tiền được thực
hiện trong một thời gian nhất định. Việc này chỉ xảy ra nếu doanh nghiệp có đủ tiền
mặt.
+ Giữ đủ tiền mặt, các chỉ số thanh toán ngắn hạn của công ty sẽ tốt, từ đó sẽ
giúp cho nhà cung cấp bán hàng cho doanh nghiệp với điều kiện thuận lợi và mức tín
dụng đưa ra là rộng rãi; đồng thời với các nhà đầu tư, doanh nghiệp cũng vì thế mà hấp
dẫn hơn.
+ Doanh nghiệp có thể tận dụng được những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh
do chủ động trong hoạt động thanh toán.
+ Một số trường hợp xảy ra: đình công, hỏa hoạn, chiến dịch marketing của
đối thủ cạnh tranh, các khó khăn sẽ được giải quyết khi doanh nghiệp có đủ tiền mặt.
1.1.3.2 Dự trữ, tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động để phục vụ cho quá trình sản
xuất kinh doanh, việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là rất cần thiết cho quá
trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng tồn kho có 3 loại:
+ Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
+ Sản phẩm dở dang
+ Thành phẩm
Hàng tồn kho gồm 3 loại như trên, nhưng thông thường, trong quản trị vấn đề được đề
cập đến là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp
thương mại thì dự trữ nguyên vật liệu chính là dự trữ hàng hóa để bán.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể sản xuất đến đâu
mua hàng đến đó, mà cần phải mua nguyên vật liệu dự trữ. Nguyên vật liệu dự trữ
không trực tiếp tạo ra lợi nhuận, nhưng lại có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất-
kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục. Do đó, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn
kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả tiếp theo. Nếu nhu cầu tiêu thụ hàng
hóa nhiều, thì hàng tồn kho nhiều sẽ làm cho quá trình sản xuất, bán hàng hiệu quả và
nhanh hơn, đó là một thuận lợi so với đối thủ cạnh tranh. Còn nếu hàng tồn kho nhiều
đồng thời có những khoản phải thu bên nguồn vốn.
Khoản phải thu là số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng
hóa hoặc dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh khoản phải thu, nhưng
với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm
soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không
bán chịu hàng hóa sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận. Nhưng nếu bán
chịu hàng hóa nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng, có nguy cơ phát sinh các
khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ gia tăng. Vì thế, doanh nghiệp
cần có chính sách bán chịu phù hợp.
Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu
tố như tình hình nền kinh tế, chất lượng sản phẩm, chính sách bán chịu của doanh
nghiệp. Các khoản phải thu tạo ra cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, nhưng cũng
mang lại lợi ích vì chính sách tín dụng thương mại sẽ làm tăng doanh số bán hàng.
1.1.4 Vai trò của TSLĐ
TSLĐ có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp nói chung, trong hệ thống tài
sản nói riêng. TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản. Tiền mặt, chứng
khoán thanh khoản cao giúp cho hoạt động luân chuyển tiền của doanh nghiệp được
thông suốt, đặc biệt đóng vai trò quan trọng để nâng cao khả năng thanh toán cho
doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp có được vị thế tốt với ngân hàng và với đối tác.
Dự trữ, tồn kho cũng đóng góp vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguyên vật liệu đầu vào quyết định nhiều tới chất lượng sản phẩm.
Việc dự trữ cũng giúp cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh nghiệp hoạt động
đều đặn, không bị gián đoạn. Và các khoản phải thu cũng chiếm một phần không nhỏ
trong tổng tài sản của doanh nghiệp. TSLĐ là những tài sản ngắn hạn, tuy nhiên lại rất
quan trọng, nó ảnh hưởng tới sự tồn tại của doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố quyết định
tới thất bại của doanh nghiệp, nhưng cũng phải thấy rằng sự bất lực của một số công ty
trong việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại TSLĐ và các khoản nợ
ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
1.2 Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp
tài sản nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có tài sản sẽ không thể có hoạt
động sản xuất được. Nhưng việc sử dụng tài sản như thế nào cho có hiệu quả nhất mới
là nhân tố quyết định sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp. Do đó,
việc sử dụng, quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản nói chung, TSLĐ nói riêng
trở thành nội dung rất quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quan
niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng TSLĐ nên được hiểu theo hai khía cạnh:
+ Thứ nhất, với số tài sản doanh nghiệp có thì có thể sản xuất thêm một số
lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
+ Thứ hai, đầu tư thêm tài sản một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản
xuất để tăng doanh thu với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng doanh thu phải lớn hơn tốc độ
tăng tài sản.
Hai khía cạnh này chính là yêu cầu, mục tiêu cần đạt được trong việc quản lý tài sản
nói chung, TSLĐ nói riêng.
Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, mọi nhu cầu về vốn, tài sản phục vụ cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp phát hoặc cấp tín dụng
ưu đãi, vì thế các doanh nghiệp không đặt nặng vấn đề sử dụng tài sản cho hiệu quả.
Ngay cả trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn tồn
tại thực trạng đó, và nhìn chung ngay đối với các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn vốn
cho hoạt động của mình thì hiệu quả sử dụng tài sản nói chung, TSLĐ nói riêng không
cao. Lý do chủ yếu ở sự chậm học hỏi, chưa nắm bắt được xu thế chung của các doanh
nghiệp và cả một số bất cập trong việc quản lý, sử dụng tài sản, TSLĐ.
Lợi ích kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường ngày càng đòi hỏi các doanh
nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý tài sản của mình, đặc biệt là TSLĐ, sao cho
TSLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển TSLĐ cho
phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, nhờ đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, từ
đó có thể giảm bớt được số TSLĐ mà vẫn hoàn thành được số lượng sản phẩm định
mức và có thể lớn hơn. Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ có ý nghĩa quan trọng
trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Đầu tư
tạm thời
bằng cách
mua
chứng
khoán có
tính thanh
khoản
cao
Bán những
chứng
khoán có
tính thanh
khoản cao
để bổ sung
cho tiền
mặt
Dòng thu tiền
mặt
Tiền
mặt
Dòng chi
tiền mặt dự trữ tiền mặt dự kiến sẽ dao động trong một khoảng- gọi là khoảng dao động của
lượng tiền mặt. Khoảng dao động này phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
+ Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ. Sự dao động
của thu chi ngân quỹ thực tế càng khác biệt so với mức bình quân thì khoảng dao động
tiền mặt của doanh nghiệp càng cao.
+ Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Nếu chi phí cho việc mua
bán chứng khoán cao, doanh nghiệp sẽ có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn, và khoảng
dao động của tiền mặt vì thế cũng lớn.
+ Lãi suất càng cao, các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền, dành nhiều tiền hơn
cho việc đầu tư sinh lời và khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống.
Công thức tính khoảng dao động tiền mặt:
d= 3 (
3
4
*
*
b b
C V
i
)
1/3
Dựa vào mô hình này, nếu dòng tiền vào ra dự đoán được, thì doanh nghiệp sẽ
chỉ cần một lượng ít tiền mặt, còn lại sẽ đầu tư vào chứng khoán, kiếm lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Mức tiền mặt luôn được duy trì như thiết kế ban đầu thì doanh nghiệp
sẽ tối thiểu hóa được chi phí giao dịch và chi phí do lãi suất. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp doanh nghiệp cần lượng tiền mặt lớn trong thời gian ngắn, thì việc bán
chứng khoán có tính thanh khoản cao sẽ không có lợi bằng việc đi vay. Do đó doanh
nghiệp cần cân nhắc lợi ích giữa việc giữ tiền mặt, mua bán chứng khoán hay có khi là
cả đi vay để đem lại lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp mình.
1.2.3.2 Quản lý dự trữ, tồn kho
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dự trữ là yếu tố quyết định cho
việc sản xuất ổn định hay không. Do vậy việc quản lý dự trữ, tồn kho đặc biệt quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ. Quản lý hàng tồn kho đòi hỏi phải
có sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận như bộ phận bán hàng, marketing, tài chính,
sản xuất. Mục tiêu của quản lý hàng tồn kho là đảm bảo lượng hàng tồn kho cần thiết
để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường với chi phí thấp nhất. Nếu các
doanh nghiệp có mức tồn kho quá lớn, sẽ làm phát sinh thêm các chi phí như: chi phí
lưu kho, chi phí bảo quản, … Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng không thể sử dụng số
vốn này cho hoạt động kinh doanh khác và làm tăng cơ hội cho số vốn này.
Để tối thiểu hóa chi phí tồn kho, dự trữ, doanh nghiệp cần phải xác định lượng
hàng hóa, vật tư tối ưu cho mỗi lần đặt hàng, đồng thời cũng phải có các biện pháp
quản lý nguyên vật liệu hữu hiệu để không bị mất mát, hư hỏng.
Có nhiều cách để xác định mức dự trữ tối ưu. Nhìn chung, quản lý dự trữ, tồn
kho có hai phương pháp phổ biến và hiệu quả nhất:
1.2.3.2.1 Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình đặt hàng hiệu quả
nhất- EOQ ( Economic Odering Quantity)
Giả thuyết của mô hình là những lần cung cấp hàng hóa bằng nhau.
Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hóa sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi
phí bốc xếp hàng, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm Nhìn chung
có thể tóm lại thành hai loại chi phí chính:
Q
Tổng chi phí đặt hàng tăng lên nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm.
Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hóa, ta có:
TC= C
1
*
2
Q
+ C
2
*
D
Q
-> Q
*
=
2
1
2
DC
C
Vậy khối lượng hàng cung ứng mỗi lần là Q
*
thì tổng chi phí dự trữ là thấp nhất.
Khi xác định mức tồn kho dự trữ, doanh nghiệp nên xem xét sự ảnh hưởng của
các nhân tố. Tùy từng loại tồn kho mà các nhân tố ảnh hưởng khác nhau.
quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng
nào đó họ sẽ tiến hành “hút” những loại hàng hóa và sản phẩm dở dang của các đơn
hàng khác mà họ không cần phải dự trữ. Phương pháp này làm giảm thiểu chi phí ở
mức thấp nhất cho dự trữ. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ sử dụng cho việc dự trữ
một số loại nào đó của doanh nghiệp và đặc biệt cần phải có sự kết hợp chặt chẽ với
đơn vị cung cấp các nguồn hàng. Ưu việt của phương pháp này chính là chi phí dự trữ
không đáng kể, nó đã được hãng Toyota của Nhật Bản áp dụng vào những năm ba
mươi của thế kỉ 20, nhưng dù sao phương pháp này vẫn không được áp dụng một cách
phổ biến do yêu cầu đòi hỏi phải có sự liên kết của nhiều doanh nghiệp khác nhau.
1.2.3.3 Quản lý các khoản phải thu
Quản trị khoản phải thu tốt tức là hạn chế ở mức tối thiểu lượng TSLĐ bị
chiếm dụng; từ đó làm giảm số ngày của chu kỳ thu tiền bình quân; thúc đẩy vòng tuần
hoàn của TSLĐ; giảm chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, …Các khoản phải thu
được quản lý một cách năng động để đảm bảo rằng chính sách về các khoản phải thu
của doanh nghiệp đạt hiệu quả. Để quản lý khoản phải thu, trước hết phải nghiên cứu
về tín dụng thương mại.
1.2.3.3.1 Chính sách tín dụng thương mại
Một số điểm cơ bản về chính sách tín dụng thương mại:
+ Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng. Nếu tín dụng thương
mại cho phép khách hàng trả tiền chậm, sẽ có nhiều người mua hàng hơn, doanh thu
tăng, nhưng tiền vào doanh nghiệp bị chậm, do đó doanh nghiệp sẽ quy định giá cao
hơn.
+ Tín dụng thương mại làm giảm chi phí tồn kho của hàng hóa do bán được
nhiều hàng.
+ Tín dụng thương mại làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệu quả hơn,
hạn chế được sự hao mòn vô hình.
+ Tuy nhiên, khi cấp tín dụng cho khách hàng, có thể sẽ làm tăng chi phí trong
hoạt động của doanh nghiệp.
+ Ngay cả chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp thiếu hụt về
cho khách hàng. NPV< 0, doanh nghiệp không nên cấp tín dụng cho khách hàng. NPV
= 0 cần cân nhắc thêm nhiều yếu tố khác.
* Theo dõi khoản phải thu:
Để quản lý được khoản phải thu, thì nhà quản trị phải biết cách theo dõi
chúng. Có một số chỉ tiêu, phương pháp sau:
+ Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân= Các khoản phải thu/ Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày
Từ đây ta thấy, nếu kỳ thu tiền bình quân tăng, trong khi doanh số và lợi nhuận không
tăng thì tức là vốn bị ứ đọng ở khâu thanh toán.
+ Sắp xếp tuổi của các khoản phải thu: nhà quản lý phải sắp xếp các khoản
phải thu theo tuổi, để từ đó có kế hoạch đòi nợ khi đến hạn.
+ Xác định số dư khoản phải thu: Khoản phải thu sẽ không chịu ảnh hưởng
của các yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán. Theo phương pháp này, doanh
nghiệp sẽ thấy được tổng số nợ của khách hàng với doanh nghiệp, từ đó có các chính
sách quản lý hợp lý.
* Có hai phương pháp quản lý khoản phải thu:
+ Phương pháp kỳ thu tiền bình quân đo lường thời gian trung bình mà khách
hàng trả tiền.
Kỳ thu tiền bình quân có thể đem so sánh với bình quân của ngành, kỳ hạn tín
dụng của doanh nghiệp để biết được mức độ, khả năng trả nợ của khách hàng.
+ Phương pháp đến hạn chia các khoản phải thu của doanh nghiệp theo thời
gian đáo hạn, và chỉ ra tỷ lệ các khoản phải thu đến hạn trong tổng quy mô.
Cả hai phương pháp kỳ thu tiền bình quân và đến hạn đều có thể không chính xác nếu
doanh số có tính mùa vụ hay doanh nghiệp đang tăng trưởng nhanh.
* Bên cạnh đó, để quản lý một cách hiệu quả các khoản phải thu, doanh
nghiệp cũng cần thực hiện các hoạt động sau:
+ Mở sổ theo dõi các khoản phải thu, thường xuyên đôn đốc để thu nợ đúng
hạn.
nhiều, hiệu quả cao.
1.3.1.3 Rủi ro
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tất cả các doanh nghiệp đều gặp rất
nhiều rủi ro, đó có thể là những điều không may xảy ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh, và cả những rủi ro do thiên tai: động đất, lũ lụt … gây ra. Như đợt mưa lớn gây
ngập úng trong năm 2008 vừa qua tại thủ đô Hà Nội, rất nhiều doanh nghiệp đã bị thiệt
hại hàng tỷ đồng, hàng loạt các TSLĐ hiện có của doanh nghiệp bị hư hỏng nặng.
Hiệu quả sử dụng của TSLĐ vì thế bị giảm sút nghiêm trọng.
1.3.1.4 Trình độ phát triển khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ tác động đến mọi mặt của đời sống, trong đó có cả
TSLĐ. Sự phát triển của khoa học công nghệ làm cho TSLĐ mất dần giá trị, vì thế nếu
doanh nghiệp không bắt kịp với nhịp phát triển của khoa học công nghệ, thì hàng hóa
sẽ có tính cạnh tranh thấp, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng TSLĐ.
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Bên cạnh những nhân tố khách quan, có rất nhiều các nhân tố chủ quan tác
động đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Một số nhân tố chính phải kể đến
là:
1.3.2.1 Trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực, mà cụ thể là tay nghề, kinh nghiệm, kiến thức của đội ngũ
cán bộ công nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu
nguồn nhân lực của doanh nghiệp có trình độ thấp, sẽ không thể có đầy đủ khả năng để
sử dụng một cách hiệu quả TSLĐ, do đó hiệu quả sử dụng chúng sẽ thấp. Ngược lại,
nếu nguồn nhân lực có trình độ cao, TSLĐ sẽ được sử dụng hợp lý nhất, đem lại lợi
ích cao nhất cho doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần có những chính sách đào
tạo, bổ sung kiến thức cho toàn bộ cán bộ công nhân viên một cách thường xuyên.
1.3.2.2 Khả năng quản lý doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn hoạt động cần có sự quản lý, dẫn dắt của đội ngũ Ban
giám đốc, của Hội đồng quản trị. Do đó, nếu sự quản lý, điều hành không tốt, hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng sẽ không tốt, sẽ xảy ra nhiều yếu kém trong doanh
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ trong doanh nghiệp
1.4.1 Chỉ tiêu về khả năng hoạt động của TSLĐ