LUẬN VĂN:
Một số giải pháp nhằm nâng các hiệu quả
phương thức thanh toán điện tử tại Ngân
hàng Công thương Thanh Xuân
Phần mở đầu
Hiện nay với sự hoạt động của hệ thống ngân hàng 2 cấp, Ngân hàng Nhà nước
hàng, từng bước hội nhập với ngân hàng tế giới. Như tăng nhanh tốc độ thanh toán,
luân chuyển vốn, chuyên môn hoá việc thanh toán, tăng nguồn vốn của ngân hàng .v.v.
Là một yêu cầu cần thiết và khách quan của nền kinh tế nói chung và của ngành ngân
hàng nói riêng. Trong đó có hệ thống Ngân hàng Công thưong Việt Nam đã nhanh
chóng thực hiện áp dụng phương thức thanh toán điện tử đã ra đời theo quyết định số
966 ngày 25/06/1995 của Tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Tuy phương thức thanh toán điện tử trong hệ thống Ngân hàng Công thương
Việt Nam mới được thực hiện từ ngày 01/07/1996 đến nay nhưng kết quả đã cho thấy
việc thanh toán điện tử là rất cần thiết, và việc thanh toán rất nhanh chóng, từ đó giảm
được một khối lượng tiền mặt trong lưu thông trên thị trường, thúc đẩy quá trình đổi
mới công nghệ thanh toán ngân hàng. Bên cạnh những ưu điểm thì phưong thức thanh
toán điện tử cũng còn một số hạn chế cần được nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa.
Xuất phát từ mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán của Ngân hàng thương mại nói chung
và của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thanh Xuân nói riêng. Vì vậy tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài :
“ Một số giải pháp nhằm nâng các hiệu quả phương thức thanh toán điện
tử tại Ngân hàng Công thương Thanh Xuân”.
Nội dung của đề tài : Ngoài lời đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 3
chương.
Chương I: Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh
toán giữa các ngân hàng nói riêng.
Chưong II: Thực trạng tổ chức thanh toán điện tử tại Ngân hàng Công thương
Thanh Xuân.
Chương I
Lý luận chung về thanh toán không dùng tiền mặt
nói chung và thanh toán giữa các ngân hàng nói riêng.
I/ Sự cần thiết và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và
thanh toán giữa các ngân hàng nói riêng.
1. Sự cần thiết:
Quá trình tồn tại và phát triển của sản xuất, trao đổi lưu thông hàng hoá gắn liền
với sự ra đời và phát triển của tiền tệ. Trong mối quan hệ này (cùng với sự chuyển hoá
chung của sản phẩm lao động thành hàng hoá, thì hàng hoá cũng chuyển thành tiền tệ)
“Các Mác”, tiền tệ có thể biểu hiện theo định nghĩa sau: Tiền tệ là phương tiện trao đổi
(H - T - H) với tính chất môi giới làm cho mọi quan hệ trở nên dễ dàng và cùng với sự
phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá, tiền là phương tiện để thanh toán các khoản
nợ về hàng hoá , dịch vụ trao đổi trước đây. Khi chức năng phương tiện thanh toán
xuất hiện tức là phát sinh quan hệ tín dụng giữa người mua và bán chịu hàng hóa điều
đó làm thay đổi khối lượng cần thiết cho lưu thông.
Trong quá trình tái sản xuất, xã hội được diễn ra liên tục và không ngừng mở
rộng, trong đó phát sinh nhiều quan hệ phức tạp đa dạng giữa người sản xuất này và
người sản xuất khác, giữa các đơn vị với nhau. Thực hiện chức năng phương tiện thanh
toán như thanh toán về các khoản mua bán về hàng hoá, dịch vụ nộp thuế, trả
lương.v.v cho nên việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết và
quan trọng nó góp phần vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển vốn và phát triển sản
xuất. Mặt khác thanh toán khối lượng giá trị lớn thì rất khó mà còn là nguyên nhân ảnh
Tổ chức tốt công tác thanh toán giữa các Ngân hàng trong nền kinh tế được
nhanh chóng, chính xác từ đó góp phần phát triển nhanh tốc độ luân chuyển vốn. Tăng
cường quá trình kiểm soát và nghiệp vụ thanh toán, hạn chế việc thanh toán bằng tiền
mặt giữa các địa phương với nhau , tránh hiện tượng tham ô, đảm bảo an toàn về tài
sản, giảm chi phí.
Phát huy vai trò của Ngân hàng trong việc tập trung công tác thanh toán của nền
kinh tế, tăng cường nguồn vốn cho hoạt động Ngân hàng. Quá trình thanh toán giữa
các Ngân hàng với nhau là một khâu của quá trình thanh toán không dùng tiền mặt. Để
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, sản xuất phát triển việc lưu thông hàng hoá
ngày càng phát triển cho nên việc thanh toán giữa các tổ chức , đơn vị kinh tế, hoặc cá
nhân với nhau đòi hỏi phải được nhanh chóng và đa dạng vì thực tế hiện nay các đơn
vị, tổ chức kinh tế cá nhân họ có quyền mở tài khoản ở các Ngân hàng khác nhau. Vì
vậy việc thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau là một yêu cầu rất cần thiết và khách
quan.
3. Các nguyên tắc:
a. Quy định đối với khách hàng:
* Quy định đối với bên mua (bên phải trả)
''Để thực hiện thanh toán đầy đủ, kịp thời, các chủ tài khoản (bên trả tiền) phải
có đủ số dư trên tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán vượt quá số dư trên tài khoản
tiền gửi tại ngân hàng, kho bạc nhà nước là vi phạm chế độ thanh toán và phải bị xử lý
theo pháp luật ''.
Quy định này nhằm tránh tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các bên
tham gia thanh toán, giúp cho người chi trả cũng như người thụ hưởng chủ động vốn
của mình trong quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần tăng nhanh vòng quay vốn của
các đơn vị kinh tế cũng như tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong toàn bộ nền kinh
phí theo qui định của Thống đốc ngân hàng nhà nước.
Qui định này đã hoàn toàn xoá bỏ mặc cảm trước đây của khách hàng về thanh
toán ngân hàng, tạo sự tin tưởng tuyệt đối của khách hàng khi mà họ có số lượng vốn
không nhỏ giữ tại ngân hàng và uỷ quyền cho ngân hàng thanh toán.
Qui định cũng phân biệt trách nhiệm vật chất, pháp lý rõ ràng giữa ngân hàng
và khách hàng khi một trong hai bên vi phạm chế độ thanh toán, nhằm đảm bảo quyền
lợi cho khách hàng và quy định những khoản phí mà họ phải trả cho ngân hàng khi
thực hiện thanh toán. Việc thu phí dịch vụ thanh toán làm tăng khoản thu nhập của
ngân hàng.
4. Các phương thức thanh toán:
Để phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế và ngày càng hoàn thiện
phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn đưa
ra các văn bản, thể lệ, qui định mới nhằm đổi mới nâng cấp và mở rộng hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt. Đặc biệt các văn bản gần đây nhất ban hành năm
1994, đưa ra một số vấn đề đổi mới phương thức thanh toán không dùng tiền mặt với
sự mở rộng của phương thức thanh toán bằng ngân phiếu và séc cá nhân.
Về thanh toán không dùng tiền mặt quyết định của Thống đốc NHNN ban hành
“ Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt ” số 22/QH - NH1 ngày 21/02/1994, thông
tư 08/TT ngày 02/06/1994 và QĐ 30, thông tư 07 /TT - NH1 ngày 27/12/1996 về
hướng dẫn thực hiện quy chế phát hành và sử dụng séc.
Ngoài các nhiệm vụ của Ngân hàng thì công tác tập trung và điều hòa vốn trong
từng hệ thống Ngân hàng, hoặc cấp phát về vốn cố định , cũng đòi hỏi phải tổ chức
nghiệp vụ thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau. Do cơ cấu tổ chức của hệ thông
Ngân hàng Việt Nam hiện nay, các Ngân hàng Thương mại được tổ chức thành lập từ
Thực hiện chủ trương của Chủ tịch hội đồng quản trị NHCT Việt Nam, cải tiến
công tác thanh toán từng bước tiến tới hiện đại hóa Ngân hàng, NHCT Việt Nam đã
thực hiện phương thức thanh toán điện tử từ ngày 01/07/1997.
b/ Phương thức thanh toán bù trừ:
Thanh toán bù trừ giữa các NH khác hệ thống trên cùng một địa bàn có mở tài
khoản tiền gửi tại NHNN do NHNN đó tổ chức, là thành viên của Trung
tâm thanh toán bù trừ, thực hiện theo nguyên tắc tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ thanh
toán bù trừ giữa các NH với nhau theo QĐ số 181 NH - QĐ ngày 10/10/1991 của
Thống đốc NHNN Việt Nam. Còn các NH cùng hệ thống thì chỉ tham gia giao nhận
séc ngoại bảng , Uỷ nhiệm thu với nhau tại Trung tâm thanh toán bù trừ.
Điều kiện tham gia thanh toán bù trừ:
Phải có tài khoản tiền gửi tại NHNN
Phải tuân thủ và thực hiện đúng đầy đủ các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật
nghiệp vụ của NHNN chủ trì
Phải có giấy đề nghị tham gia thanh toán bù trừ
Phải đảm bảo số liệu nhất trí với nhau, số liệu trong thanh toán bù trừ
phản ánh đúng.
Nguyên tắc thanh toán bù trừ:
+ Xác định kết quả thanh toán bù trừ của các thành viên NH thì NHNN
(chủ trì ) phải tổng hợp số liệu phải thu hoặc phải trả, phải thanh toán giữa các NH
thành viên này với tất cả các thành viên khác.
- NH chủ trì hoặc Trung tâm thanh toán bù trừ lập
Bảng tổng hợp kết quả thanh toán bù trừ (biều 15)
Bảng tổng hợp kết quả thanh toán bù trừ (biều 16)
Các bên tham gia thanh toán bù trừ các NH thành viên, NHNN (chủ trì) phải
chấp hành đầy đủ các quy định trong thanh toán. Vì vậy các NH phải tăng cường
nghiên cứu, đổi mới công nghệ, phục vụ tốt cho công tác thanh toán bù trừ, vì đây là
phương thức thanh toán phổ biến hiện nay.
c/ Phương thức thanh toán qua TKTG tại NHNN hoặc qua TKTG tại tổ chức tín
dụng khác:
Tại NHNN bên trả tiền:
Đối với khoản thanh toán của khách hàng trả tiền cho đơn vị bán hàng, hoặc
cung ứng lao vụ.v.v tại NHB mà khác hệ thống, khác thành phố, tỉnh thì NH phục vụ
bên mua phải lập 3 bảng kê (mẫu số 3) kèm với chứng từ của khách hàng mang đến
NHNN, nơi NH mình mở TKTG để nộp. Bảng kê chứng từ được lập riêng cho từng
Ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước nhận được bảng kê và kèm chứng từ trên, sau khi kiểm
soát hợp lệ, đủ điều kiện để thanh toán, NHNN tiến hành thanh toán ngay. Đối với NH
thụ hưởng mở TK khác tỉnh, thành phố.
+ 1 liên bảng kê kèm chứng từ
Nợ : TKTG của NH bên trả tiền
Có : TK thích hợp (liên hành đi)
+ 1 liên bảng kê và kèm chứng từ làm giấy báo nợ cho NH trả tiền (vì NHNN
thực hiện thanh toán điện tử)
Phương thức thanh toán Uỷ nhiệm Thu - Chi hộ:
Đây là việc tổ chức tín dụng mở TK Tiền gửi thanh toán tại 1 NH khác để giao
dịch thanh toán - Uỷ nhiệm, Chi hộ, Thu hộ giữa các NH, tổ chức tín dụng có quan hệ
thanh toán với nhau theo hợp đồng 2 bên đã ký quy định và thỏa thuận với nhau.
Trường hợp phát sinh các khoản Thu hộ - Chi hộ NH phát sinh phải giữ các
chứng từ thanh toán cho NH có quan hệ.
Phương thức này ít áp dụng, hiện nay chủ yếu các kho bạc nhà nước sử dụng
phương thức này.
Trong những năm qua hệ thống NH nói chung và NH công thương nói riêng đã
thực hiện chủ trương hiện đại hoá công nghệ NH, đây là một trong định hướng lớn của
ban lãnh đoạ NHNN đề ra cho toàn nghành thực hiện trong giai đoạn 1996 - 2000.
Thực hiện chủ trương trên, trong lĩnh vực thanh toán của các NH thương mại đã
được những kết quả to lớn và rất cơ bản, đã chuyển từ phương pháp thủ công sang điện
tử tin học, từng bước hội nhập với các hoạt động của tổ chức tài chính tiền tệ trong khu
vực và trên thế giơí. Kể từ ngày 01/07/1996 NHCT Việt Nam đã thực hiện quy trình
thanh toán điện tử.
II - Phương thức thanh toán điện tử ở NHCT Việt Nam :
1- Khái niệm và các quy định chung:
Quy trình thanh toán điện tử thay thế quy trình thanh toán liên hàng là quy trình
hạch toán quản lý điều hành vốn tập trung trong hệ thống NHCT Việt Nam.
đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống NHCT
Việt Nam đảm bảo nhanh chóng - chính xác - an toàn.
Các trưởng phòng kế toán Chi nhánh NHCT chịu trách nhiệm trước Giám đốc
về việc kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ thanh toán, về các quyết định
chuyển tiền Đi và Đến cũng như hạch toán vào các TK thích hợp.
Trung tâm điện toán NHCT Việt Nam chịu trách nhiệm về đảm bảo kỹ thuật các
thông tin trên đường truyền từ trung tâm thanh toán đến các Chi nhánh NHCT.
Căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, cá nhân tham gia quy trình thanh toán
chấp hành nghiêm túc quy định và thực hiện tốt nhiệm vụ sẽ được khen thưởng kịp
thời, cá nhân vi phạm chế độ, tuỳ theo mức độ hậu quả sẽ phải bồi thường vật chất
hoặc bị kỷ luật hành chính thích đáng.
2- Tài khoản và chứng từ sử dụng:
a/ Tài khoản:
TK 5191.01 Điều chuyển vốn trong kế hoạch
TK 5191.02 Điều chuyển vốn ngoài kế hoạch
Các TK trên được thực hiện qua mạng máy tính trên cơ sở các chứng từ thanh
toán điện tử Đi và Đến. Các TK còn lại chỉ để hach toán đối ứng tại CN NHCT hoặc
Trung tâm thanh toán (TTTT) trên cơ sở thực hiện mói quan hệ với 2 TK trên.
TK 5191.04 Điều chuyển vốn uỷ thác đến
TK 5191.05 Điều chuyển vốn khoan nợ
TK 5191.06 Điều chuyển vốn kỹ quỹ
hàng (như chuyển thường hoặc khẩn).
Mẫu chứng từ điện tử
NH khởi tạo : Mã NH (đã được cài đặt sẵn)
NH nhận : Thanh toán viên điện tử nhập mã NHB
Mã tỉnh NH B : (nếu có) (Đối với chứng từ chuyển khác hệ thống, khác tỉnh, thành
phố)
Mã NH:
Số giao dịch : Số bảng kê Ngày lập chứng từ (máy cài đặt sẵn)
Số chứng từ gốc: Ký hiệu mật
Loại chứng từ gốc :
Loại nghiệp vụ: Thông thường (hoặc khẩn) theo yêu cầu của khách hàng.
Các yếu tố còn lại trên chứng từ thanh toán điện tử:
- Đơn vị trả tiền:
Số tài khoản :
Tại Ngân hàng
:
- Đơn vị nhận tiền:
Số tài khoản :
Tại Ngân hàng : Số tiền bằng số: Nội dung thanh toán:
Số tiền bằng chữ:
đều tự động trên máy vi tính, giữa các Chi nhánh, với Trung tâm thanh toán với nhau
là kết quả của một quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành NH, có thể nói đây là
một bước ngoặc, một thành quả lao động mang tính chất cách mạng khoa học, công
nghệ Ngân hàng.
Thay vì việc lập chứng từ liên hàng thủ công trước đây.Từ ngày 01/07/1996 hệ
thống NHCT Việt Nam đã triển khai thực hiện quy trình thanh toán điện tử, đã được
cài đặt sẵn trên các file do Trung tâm thanh toán quy định cụ thể: (mã NH, ký hiệu
mật, các ký hiệu mật mã cần thiết) giữa các chi nhánh NHCT khi chuyển chứng từ
thanh toán liên hàng hoặc cung ứng lao vụ.v.v. mà không cần phải đối chiếu dấu hoặc
chữ ký giữa các chi nhánh NHCT với nhau.
Đối với quy trình thanh toán điện tử của hệ thống NHCT Việt Nam là một bước
nhảy vọt trong hiện đại hóa công nghiệp Ngành Ngân hàng, đã khắc phục được của
công việc làm thủ công, phát huy những mặt ưu điểm của quy trình thanh toán điện tử
việc luân chuyển chứng từ rất nhanh chóng, chính xác, kịp thời, an toàn vốn vì khi tính
ký hiệu mật chỉ có kê toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền) tính trên máy do Trung
tâm thanh toán đã được cài đặt sẵn trên file và dùng đĩa bảo mật để tính, cho nên đối
với chứng từ điện tử thì điểm nổi bật trên đó là chữ ký và ký hiệu mật bởi việc tính ký
hiệu mật là do kế toán trưởng (hoặc người được uỷ quyền ) tính. Vì vậy tránh và hạn
chế được việc tham ô trên chứng từ điện tử vì nó đã gắn liền với trách nhiệm, quyền
hạn và chức năng nhiệm vụ của từng cá nhân trên chứng từ đó.
Trong quá trình luân chuyển chứng từ thanh toán điện tử là cả một quá trình
khép kín và được kiểm soát rất chặc chẽ, cẩn thận, sau khi nhận chứng từ của khách
hàng thanh toán viên kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ sau đó chuyển sang
bộ phận kiểm soát chứng từ. Kiểm soát chứng từ phân loại các chứng từ đi các NH
3/ Quy trình thanh toán điện tử: Khách hàng
Chứng từ gốc:
(UNT, UNC, Séc, giấy nộp
tiền) Chương trình Misac
Thanh toán viên điện tử nhập
chứng
Chứng từ giấy thành chứng từ điện
tử
Trung tâm thanh toán
mở TK, các chứng từ hợp lệ, hợp pháp theo cơ chế thanh toán qua NH của NHNN và
hướng dẫn của NHCT Việt Nam đối với từng thể thức thanh toán. Thanh toán viên nhận chứng từ của khách hàng nộp vào phải tiến hành kiểm
soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ, kiẻm tra số dư trên TKTG của khách hàng
Nếu đủ điều kiện thanh toán sẽ xử lý: Lập chứng từ thanh toán điện tử đối với nơi giao
dịch tức thời và đủ điều kiện kỹ thuật hoặc ký tên trên chứng từ rồi chuyển sang bộ
phận thanh toán điện tử chuyên trách.
Bộ phận thanh toán điện tử nhận chứng từ có trách nhiệm kiểm tra lại các yếu tố
trên chứng từ và chữ ký của thanh toán viên tiến hành chuyển hóa chứng từ giấy thành
chứng từ điện tử cùng với phương thức thanh toán (như UNC, Séc.v.v. của Doanh
Nghiệp hoặc cá nhân), chứng từ thanh toán điện tử chuyển hoá thành 1 lệnh chuyển
tiền điện tử.
Sau khi thanh toán viên lập song chứng từ điện tử bằng máy, tiến hành in chứng
từ chuyển tiền, ký tên kèm theo chứng từ gốc chuyển cho Trưởng phòng kế toán (hoặc
người được uỷ quyền).
Trưởng phòng kế toán (hoặc người được uỷ quyền) kiểm soát tính hợp pháp,
hợp lệ của chứng từ gốc, khớp đúng giữa chứng từ gốc với chứng từ in ra và chứng từ
trên máy tính. Nếu hợp pháp , hợp lệ và khớp đúng sẽ chấp nhận tính ký hiệu mật cho
chứng từ tay hiển thị trên máy, ghi ký hiệu mật và ký tên vào chứng từ lưu trước khi
quyết định chuyển đi.
Chứng từ gốc, chứng từ thanh toán điện tử được giao lại cho thanh toán viên