Tài liệu Đề tài: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của trẻ em lang thang - Pdf 10

Đề tài
Thực trạng, nguyên
nhân, hậu quả của trẻ
em lang thang
1
Contents
Contents 2
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này không phải chỉ cần có sự nỗ lực, những cố
gắng, hiểu biết còn khiêm tốn của bản thân sinh viên mà còn cần có sự
giúp đỡ của các thầy cô. Hiểu được điều đó nên trong lòng luôn thường
trực sự biết ơn và sinh viên muốn nói rằng:
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Tổ CTXH Trường ĐH
Vinh, đã có những định hướng trong việc chọn đề tài, trong việc hướng
dẫn đề cương chung nhất, cơ bản nhất cho một bài tiểu luận.
Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của thầy giáo Phùng Văn
Nam đã hướng dẫn sinh viên làm đề tài này
Em cũng xin xảm ơn các bộ, các sở, các tổ chức đã có những báo cáo,
nghị quyết, nghị định cung cấp những số liệu, những nhận định cụ thể về
đề tài TELT.
Vì đây là lần đầu tiên sinh viên viết tiểu luận nên sẽ không tránh khỏi
những nhầm lẫn, thiếu sót sinh viên mong nhận được sự nhận xét của các
thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Hương
3
I. Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
“ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”

thần và thể xác của các em.
Chính vì vậy, TELT đã và đang là vấn đề cấp bách của toàn nhân loại. Để
giúp các em có một mái ấm tình thương và trở về với gia đình, chăm sóc
4
và bảo vệ trẻ em nói chung, TELT nói riêng lại càng đóng một vai trò
quan trọng, nó không còn là trách nhiệm của bậc làm cha làm mẹ, người
thân cuae các em mà còn là trách nhiệm của cộng đồng và toàn xã hội.
Với những tư liệu sẵn có, đồng thời bằng phương pháp thu thập và tìm
kiếm thông tin, được quan sát những trẻ em đường phố trong một vài
chuyến đi ở Hà Nội để nói lên thực trạng TELT hiện nay. Thông qua bài
viết này sinh viên muốn tất cả mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn về tình
trạng đáng báo động này. Và muốn nhấn mạnh đến vai trò của người
nhân viên CTXH. Đồng thời qua bài viết sinh viên cũng kêu gọi mọi
người hãy cùng nhau thắp lửa những mảnh đời bất hạnh không nơi nương
tựa, hãy tạo ra những nụ cười trên những gương mặt còn non nớt, để một
ngày không xa khắp nơi trên đất nước mình không còn tình trạng TELT.
“ Hãy lau khô giọt nước mắt bằng trái tim con người Việt Nam”. Đó
chính là thông điệp mà sinh viên muốn gửi tới thông qua bài viết này.
1.2 Mục đích
Thông qua bài viết này sinh viên mong rằng mọi người sẽ nhìn nhận
được tính cấp thiết của vấn đề TELT
Giúp mọi người hiểu sâu sắc về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của
TELT từ đó đưa các phương pháp, kiến nghị để giảm thiểu tình trạng
trên, mọi người cần phải làm gì để các em được hưởng các quyền mà
chính các em phải được hưởng
1.3 Phương pháp tìm hiểu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp quan sát_tìm hiểu, thu thập thông tin: quan sát và tìm hiểu
thông tin về thực trạng ở 2 TP đó là chính nơi sinh viên sinh sống
TP.Thanh Hóa và TP.Hà Nội (nhân dịp những chuyến đi chơi ngoài đó)

Theo định nghĩa sinh học: “Trẻ em là người trong giai đoạn phát triển, từ
khi còn trong trứng nước đến tuổi trưởng thành”.
Tâm lý học cho rằng: “Trẻ em là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý-
nghiên cứu con người”.
Nhìn dưới góc độ XHH: “Trẻ em là giai đoạn xã hội hóa mạnh nhất và là
giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi
con người”.
Như vậy tuy mỗi văn bản luật của mỗi quốc gia trong văn kiệt quốc tế
dều có sự khác biệt nhất định trong việc quy định tuổi của trẻ em. Nhưng
tất cả đều thống nhất cho rằng trẻ em là những người công dân còn nhỏ
tuổi, càn được bảo vệ. Cách hiểu này căn cứ từ sự phân tích thực tế, về cả
mặt thể chất, tâm sinh lý và sự phát triển về mặt xã hội, ý thức tự lập, tự
chủ của con người từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành…Trong bài
viết này, để phù hợp hơn với điều kiện kinh tế-xã hội và luật pháp nước
ta nên sinh viên xin được quy ước phạm vi tuổi của trẻ em là dưới 18
tuổi.
2.1.2 Khái niệm “Trẻ em lang thang”
Theo luật BVCS&GDTE năm 2004 “Trẻ em lang thang là những trẻ em
rời bỏ tổ ấm gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không
ổn định”
Như vậy, có thể nói trẻ em lang là những trẻ em mà sự nuôi dưỡng của
chúng trong gia đình là suy yếu khiến chúng phải chia sẻ trách nhiệm để
gia đình được sống bằng cách làm lụng vất vả, trên các đường phố bằng
các nghề khác nhau như bán vé số, bán báo, đánh giày…và nơi chúng
thường tập trung tới là đô thị, thành phố lớn.
6
“Trẻ em lang thang” có nghĩa đồng với khái niệm “Trẻ em đường phố” là
những trẻ em hàng ngày kiếm sống đơn độc, không được sự nâng đỡ của
gia đình. Trên thế giới, người ta thường gọi trẻ em lang thang là trẻ em
đường phố, vì dấu hiệu rõ nét để nhận biết số trẻ em này là các em có mặt

BVTE chính là một công tác chung của không chỉ những người có trách
nhiệm trực tiếp với các em như cha mẹ, người thân trong gia đình mà nó
còn là trách nhiệm xã hội của cộng đồng và nhà nước.
2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ em và trẻ em lang thang
2.2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ em nói chung
7
Trẻ em từ 0->16 tuổi là giai đoạn đã có đầy đủ những đặc điểm tâm lý
phát triển lứa tuổi, đây là giai đoạn quan trọng để các em hình thành và
phát triển nhân cách sống, cụ thể là những nhận thức về sau này. Đồng
thời, những đặc điểm tâm lý trong lứa tuổi này có ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống tình cảm của mỗi người trong các giai đoạn tiếp theo, chúng
ta có thể thấy rõ quá trình phát triển tâm lý của trẻ em giai đoạn này,
trong những nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi (tâm lý của trẻ em từ 0-
>16 tuổi). Dưới đây là những đặc điểm tâm lý cơ bản của trẻ em nói
chung:
Trẻ em nói chung trong giai đoạn này đang hình thành và phát triển nhân
cách một cách mạnh mẽ. Trong giai đoạn đầu (nhỏ tuổi) tức là trong giai
đoạn tuổi mẫu giáo, trẻ có nhu cầu được quan tâm, chăm sóc về mặt tinh
thần rất lớn. Những nhu cầu về mặt tình cảm gia đình đặc biệt quan trọng
trong giai đoạn này, nó có ý nghĩa đặt nền móng cho những tình cảm xã
hội sau này của trẻ. Từ giai đoạn lớn hơn, trẻ em có nhu cầu thể hiện cái
“tôi” của mình rất lớn. Trẻ có yêu cầu được mọi người xung quanh chấp
nhận những suy nghĩ của mình và coi mình là một người lớn, bắt đầu có
khả năng suy xét mọi vấn đề. Đặc biệt, đối với trẻ đang trong giai đoạn
dậy thì, tuổi vị thành niên xuất hiện một sự thay đổi lớn không chỉ trong
đặc ddierm sinh lý mà còn cả trong tâm lý của trẻ. Lúc này, nhu cầu tự
khẳng định mình của trẻ lớn, tư tưởng độc lập và không muốn chịu sự chi
phối của người khác. Trẻ có thể tự làm những gì mà mình muốn, kể cả
khi chưa có sự cho phép của người lớn. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn
này, những khả năng nhận thức của trẻ cũng đã phát triển nhanh, trẻ nhận

phát triển đầy đủ và bình thường. Giai đoạn trẻ em từ 0->16 tuổi là giai
đoạn đầu trong cuộc đời của mỗi con người.
Trong giai đoạn này trẻ em đã có những nhu cầu cơ bản tất yếu cần được
đáp ứng để đảm bảo cho sự phát triển và đặt tiền đề cho những giai đoạn
sau:
Theo lý thuyết về nhu cầu mà nhà tâm lý học Masllow đã đưa ra trong
thế kỷ XVII và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, thì mọi người và đặc
biệt là trẻ em dều có những nhu cầu cơ bản sau, cần được đáp ứng ở mức
độ nhất định. Đó là những nhu cầu theo các mức thang: Nhu cầu sinh lý
và thể chất ( là những nhu cầu về ăn uống, chỗ ở, trang phục…cần phải
đảm bảo một cách đầy đủ, để mỗi con người có thể tồn tại và phát triển).
Nhu cầu an toàn ( nhu cầu được bảo vệ và cần được bảo về: trẻ em phải
được bảo vệ tránh mọi sự phân biệt đối xử; được baoe vệ trước các tệ nạn
xã hội; được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế, lạm dụng sức lao động; trẻ
em cần được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư.
Quyền được bảo về an toàn bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập trong
trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ, nhu cầu về những
môi trường xung quanh được an toàn, như: gia đình, nhà trường, xã
hội…). Nhu cầu giao tiếp hay còn gọi là nhu cầu được thuộc về một
nhóm xã hội nhất định (trong đó có gia đình, bạn bè…). Nhu cầu được
tôn trọng ( tức là nhu cầu cần được công nhận vị trí, vai trò trong xã hội,
được tôn trọng nhân phẩm và những quan điểm, ý kiến của mỗi cá nhân).
Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: trẻ em cần phải được đảm bảo
đầy đủ các nhu cầu trên để có mức sống tốt về thể chất, tâm lý, trí tuệ,
đạo đức; được tiếp xúc với các nguồn thông tin cần thiết; được học hành
9
theo khả năng, năng khiếu của mình;…và mục đích cuối cung cần hướng
tới đó là phát triển một cách toàn diện nhất trên mọi mặt đời sống.
2.3.2 Nhu cầu của trẻ em lang thang
Như vây, xét trên góc độ chung mọi TELT đều có và cần được đáp ứng

hành, bị buôn bán.
6. Dễ nhiễm thói hư tật xấu.
7. Dễ bị lôi kéo vào hoạt động trái pháp luật như ăn trộm, ăn cắp hoặc sử
dụng ma túy.
III. Cơ sở thực tiễn
10
3.1 Thực trạng về trẻ em lang thang hiện nay
Một thực tế cho thấy, số TELT,cơ nhỡ kiếm sống trên các đường phố
ngày càng tăng lên một cách đáng kể. Dù chất lượng cuộc sống của toàn
xã hội chúng ta càng được nâng cao, nhưng với nhiều lý do khác nhau,
nhưng vẫn còn nhiều trẻ em phải sống ở góc phố, vỉa hè. Hiện trạng này
đòi hỏi xã hội phải có những kế hoạch, những giải pháp mang tính kịp
thời và cụ thể hướng tới mục đích không còn TELT.
Theo thống kê của Bộ LĐ-TBXH, về trẻ em lang thang thì: năm 1996 cả
nước có 14.596 em; năm 1997 có 16.263 em; năm 1998 có 19.024 em;
năm 1999 có 23.000 em; năm 2000 lên đến khoảng 25.000 em. Vào thời
điểm thống kê tháng 2 năm 2003 cả nước còn khoảng 21.000 TELT.
Tháng 8 năm 2003 ủy ban DSGD&TE điều tra tại 2 thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh số trẻ em lang thang có mặt tại hai thành phố này
có trên 10.000 em. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có trên 8 ngàn em và
Hà Nội có gần 2000 em (số trẻ em lang thang được thống kê gồm cả trẻ
em là người của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Số trẻ em này có tới
trên 50% không đi cùng gia đình và khoảng 40% đi cùng gia đình, cùng
người thân tạm thời đến thành phố rồi lại về quê hương hoặc di chuyển đi
nơi khác. Một số khác đi cùng gia đình (di dân tự do) đến các vùng đô
thị.
Các tỉnh, thành phố tập trung nhiều trẻ em đến lang thang kiếm sống là:
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Bình Dương, Khánh Hòa,
Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng. Các địa phương có nhiều trẻ em
đi lang thang gồm: Quảng Ngãi, Phú Yên, Thanh Hóa, Hưng Yên

lang thang bỏ nhà ra đi chủ yếu vì sự bất hòa trong gia đình và không có
mối liên hệ với gia đình).
Từ giác độ kinh tế, các kinh tế học và xã hội học kinh tế cho rằng công
việc mà trẻ em lang thang kiếm sống đang làm là một yếu tố cần thiết để
góp phần tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong hoàn
cảnh kinh tế còn khó khăn, thiếu thốn thì việc huy động trẻ em vào quá
trình lao động vật chất trở thành một nhu cầu, đòi hỏi khách quan. Dựa
vào Lý thuyết xã hội học kinh tế thì nghèo đói và thiếu thốn vật chất là
nguyên nhân chính của việc trẻ em phải lang thang tham gia lao động
kiếm sống. Quan niệm này giải thích được hiện tượng trẻ em lang thang
phổ biến ở các nước đang phát triển, ở những khu vực nghèo nàn và lạc
hậu nhưng khó lý giải vì sao ngay ở những nước phát triển vẫn có nhiều
trẻ em lang thang? Tại sao một số gia đình không nghèo, thậm chí có
cuộc sống ổn định mà trẻ em vẫn phải lang thang kiếm sống từ lúc còn
nhỏ tuổi.
Dưới giác độ xã hội, các nhà xã hội học giải thích hiện tượng trẻ em lang
thang bằng thuyết cấu trúc - chức năng và cho rằng nguồn góc phát sinh
trẻ em lang thang là có từ cơ chế phân công lao động xã hội. Trong xã hội
có những loại công việc đòi hỏi sức lực và sự tham gia của trẻ em. Xã hội
cần trẻ em thực hiện những công việc mà người lớn không làm được
hoặc có làm cũng không thể tốt bằng trẻ em. Ví dụ công việc bán báo
12
hàng ngày, đánh giày, thu gom và nhặt rác, bưng bê và dọn rửa cửa hàng
…. Những công việc đó thường tập trung ở các đô thị lớn.
Đô thị hóa là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của các
nước đang phát triển, sự phát triển kinh tế không đồng đều giũa các vùng,
sự cách biệt lớn trong thu nhập giũa khu vực thành thị và nông thôn làm
cho số lượng người di dân tự do (trong đó có trẻ em) từ nông thôn đến
các đô thị sẽ ngày càng tăng. Môi trường sinh thái bị huỷ hoại dẫn đến
thiên tai thất thường (hạn hán kéo dài, bão lụt liên tiếp…) làm cuộc sống

13
thang chủ yếu là ở độ tuổi từ 8-17 tuổi, trong đó nam chiếm 53%, nữ
chiếm 47% tăng gấp 2 lần so với năm 1997 (2772 em và hơn 4 lần so với
năm 1996 (1054 trẻ). Đa số trẻ đến Hà Nội lang thang kiếm sống là từ
các vùng quê ra. Tỉnh Thanh Hoá 21%, Hà Nam 6,5%, Hưng Yên 8%,
Hà Tây 14%, Nam Định 9,4%. Số tỉnh trẻ em lang thang đến Hà Nội đã
tăng từ 11 tỉnh năm 1992 lên 36 tỉnh năm 1999. Riêng Hà Nội 13,7% thì
chủ yếu thuộc 2 huyện Sóc Sơn và Đông Anh.
Cuộc điều tra này còn cho thấy 68% trẻ lang thang còn cha mẹ, 9,5% là
trẻ mồ côi, trong đó mồ côi cả cha mẹ chỉ có 1,4%, số trẻ có bố mẹ bỏ
nhau hoặc sống ly thân chỉ chiếm 6,5%, những trường hợp khác chiếm
15,7%. Số trẻ lang thang được phỏng vấn có tới 30,58% là con của các
gia đình có từ 5 con trở lên, 40,68% là con các gia đình có từ 3-4 con,
3,16% trẻ lang thang là con của các gia đình con một. Hầu hết số trẻ em
này đều có trình độ văn hoá thấp, số em chưa bao giờ đi học chiếm 11%,
trẻ lang thang không biết chữ chiếm 4,7% có trình độ cấp 1 chiếm 34%
cấp 2 chiếm 58,7% có trình độ cấp 3 chiếm 2,6%
Loại công việc kiếm sống hàng ngày của trẻ
Trẻ em nông thôn ra Hà Nội kiếm sống phải làm rất nhiều loại công việc
khác nhau. Đó là những công việc bị coi rẻ, người nghèo ở Hà Nội (kể cả
người lớn và trẻ em) không mấy ai làm. Công việc cực nhọc, vất vả
nhưng mức thu nhập lại rất thấp. Theo kết quả khảo sát năm 2001 của
201 trẻ đường phố và trẻ lao động tại Thanh Xuân hiện đang làm các loại
công việc như sau:
Đánh giầy: là công việc trẻ làm nhiều nhất (43,7%). Công việc này dễ
làm, thời gian học việc ít, chỉ với mấy chục ngàn đồng là có được một bộ
đồ nghề. Chính vì vậy đây là công việc của phần lớn trẻ đường phố.
Làm thuê trong các cửa hàng ăn uống cũng thu hút được 13,7% số em
tham gia. Đây là công việc của trẻ lao động, tuy cực nhọc nhưng có mức
thu nhập tương đối ổn định và không phải lo về nơi ăn chốn ở. Được làm

43,7
2,0
4,1
4,6
13,7
2,0
6,6
6,1
9,6

Bảng: Tỷ lệ phần trăm công việc của trẻ em nông thôn ra Hà Nội kiếm sống
2.1.2 Thực trạng của trẻ lang thang tại thành phố Hồ Chí Minh
Theo thống kê, TP HCM hiện có khoảng 1.500 trẻ em lang thang kiếm sống,
chủ yếu là lao động tại các cơ sở sản xuất tư nhân và hộ gia đình kinh doanh
nhỏ lẻ, tập trung nhiều nhất ở quận Tân Phú, Bình Tân.
Trong số này, chiếm 30% là trẻ nhập cư đến từ 35 tỉnh, thành, chủ yếu đến
từ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Giang…
Các em thường lang thang đánh giày, bán báo, bán vé số, gom, lục rác, bán
hoa quả trên các thuyền ghe dọc tuyến kênh quận 4, quận 8 kiếm sống hoặc
được “tuyển dụng” vào làm việc trong các quán ăn, nhà hàng, khách sạn…
với những công việc đơn giản, không đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn
như: Bưng bê, rửa chén bát, quét dọn, trông xe cho khách….
Một số em khác phải làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm hơn như: Đi biển, khai thác đá, làm gạch, cạo mủ cao-su, tách vỏ hạt
điều…Thời gian làm việc của các em bình quân khoảng 5-6 giờ/ngày. Đối
với một số ngành như dệt may, giày da, chế biến thực phẩm… nhất là khi
vào vụ sản xuất thì thời gian làm việc có thể kéo dài lên đến 8-9 giờ/ngày,
thậm chí lên đến 12 giờ/ngày nếu trùng vào vụ sản xuất, lễ tết.
Tuy nhiên thu nhập bình quân các em chỉ hơn 500.000 đồng/tháng. Nhưng
không hiếm trường hợp, các em thậm chí còn không được nhận đủ số tiền

Theo đó, các địa phương vốn là “điểm đi” của trẻ cần “siết” lại công tác
quản lý nhân khẩu, theo dõi chặt chẽ sự di biến động của trẻ em rời địa
phương kiếm sống, tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng
cao nhận thức cho trẻ em. Có như vậy, việc giải quyết tình trạng trẻ em lang
thang – vốn là vấn nạn của TP Hồ Chí Minh từ nhiều năm qua mới không
rơi vào tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa”.
Một số hình ảnh về tình trạng TELT trên các thành phố lớn:
16
17
18
Học vấn của TELT nhìn chung là thấp vì đa số là những trẻ bỏ học sớm,
thất học và thậm chí còn có một số em mù chữ hoặc tái mù chữ.
Theo điều tra của Bộ LĐ-TBXH, trẻ em lang thang từ 6 - 16 tuổi chưa
từng đi học chiếm 4,7%; 34% bỏ học ở bậc Tiểu học; 58,7% bỏ học ở cấp
Trung học cơ sở và 2,6% bỏ học ở cấp Trung học phổ thông. Qua khảo
sát trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ biết chữ
là 73,9%; không biết chữ là 26,1%; có 12,9% học lớp 1; 39,6% học lớp 5
trở lên và rất ít trẻ em lang thang có được trình độ Trung học phổ thông.
Như vậy, Luật phổ cập giáo dục Tiểu học đã có từ lâu, nhưng vẫn còn
khoảng gần 40% trẻ em lang thang chưa được học xong chương trình tiểu
học.
Và theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên kết hợp cùng
ủy ban DS-GĐ&TE Việt Nam thì tỷ lệ trẻ em lang thang muốn có cơ hội
được tiếp tục học tập không phải là ít (dưới 15 tuổi là 50%; trên 15 tuổi là
25%); tuy nhiên nhu cầu học tập của các em đa dạng hơn, không chỉ đơn
thuần là học văn hóa mà còn mong muốn học nghề. Khảo sát về trẻ em
lang thang tại thành phố Hà Nội cũng cho thấy 46.6% trẻ em lang thang
chỉ có trình độ học vấn từ mù chữ đến bậc tiểu học. Các em có trình độ
trung học cơ sở là 51,7%. Kết quả đánh giá việc TELT ở Hà Nội tự
nguyện học văn hóa đã cho thấy: 94,1% số em được điều tra thích thú với

Sự phát triển không đồng đều về kinh tế giữa các vùng, sự phân hoá giàu
nghèo trong cac tầng lớp nhân dân, sự cách biệt lớn giữa điều kiện sống,
thu nhập và cơ hội tìm kiếm việc làm của khu vực thành thị và nông thôn
cũng là những nguyên nhân khác dẫn đến hiện tượng dòng người di dân
tự do về các thành phố, thị xã kiếm sống có xu hướng tăng lên và do đó
kéo theo số trẻ em lang thang ngày càng đông. Theo báo cáo của Bộ Lao
động Thương binh và Xã hội, mức thu nhập bình quân tính theo đầu
người ở các khu vực nông thôn chỉ bằng 55% mức thu nhập bình quân
tính theo đầu người ở khu vực thành phố
3.2.2 Nhóm nguyên nhân về gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm của con trẻ, hầu hết những trẻ em
bỏ nhà đi lang thang kiếm sống đều từ nguyên nhân gia đình. Đây là
nguyên nhân hẹp, nhưng lại có tác động trực tiếp đến đứa trẻ và quyết
định việc ra đi của trẻ. Những nguyên nhân từ phía gia đình dẫn trẻ em
đến con đường lang thang thường là do nguyên nhân kinh tế gia đình khó
khăn chiếm 66,5%; bố mẹ ly dị 8,57%; bố mẹ ghét bỏ 4,6%.
Nguyên nhân chủ yếu từ phía gia đình dẫn đến việc trẻ em bỏ nhà đi lang
thang kiếm sống là do gia đình nghèo khó, chính cuộc sống nghèo khó đã
khiến không ít ông bố bà mẹ phải chấp nhận việc để con cái mình ra đi
kiếm sống, dẫu biết rằng cuộc sống lang thang nơi thành phố là cùng cực,
khổ sở và đầy rẫy cạm bẫy, nhưng vì nghèo đói nên “đầu gối phải bò”.
Một bộ phận không ít các gia đình có suy nghĩ cho con đi kiếm sống vừa
đỡ một khẩu phần ăn, vừa khiến cho trẻ khôn lớn, trưởng thành và có tiền
phụ cấp gia đình, thậm chí có gia đình lợi dụng con nhỏ, con tàn tật để đi
ăn xin.
Cũng còn có nhiều nguyên nhân thuộc về bản thân trẻ em như một số trẻ em
thích sống tự do, buông thả, muốn thoát ly khỏi sự ràng buộc của gia đình,
20
thích tụ tập bạn bè, muốn khẳng định vai trò của bản thân trong việc tự kiếm
sống, không muốn lệ thuộc vào người lớn.

Từ việc TELT lao động sớm ta có thể thấy được hậu quả của vấn đề này là
rất nặng nề và nghiêm trọng. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân
các em mà còn ảnh hưởng tới gia đình và toàn xã hội.
Tại sao TELT lại phải lên thành phố kiếm sống? Đó là câu hỏi có thể có
nhiều đáp án. Phải chăng tình trạng lao động sớm ở trẻ em là vấn đề khách
quan mang lại? Liệu rằng các em có được đối xử và sống một cuộc sống
như bao đứa trẻ khác hay không? Đó là một vấn đề cần đựt ra và giải quyết.
21
TELT có thể phải va chạm với cuộc sống đầy phức tạp và nguy hiểm, các
em rất dễ bị nhiễm những thói hư tật xấu của xã hội. Với đủ tuổi và kiến
thức không đủ để tránh khỏi việc không bị mắc phải. Ma túy, mại dâm,
HIV/AIDS, trộm cắp, đâm thuê giết mướn…đang ngày càng dẫn sâu vào
cuộc sống của các em. Tất cả TELT có thể là đối tượng tấn công của bất kỳ
tệ nạn nào.
Một thực tế cho thấy đó là hiện tượng trẻ em vi phạm pháp luật là rất cao,
mà tập trung chủ yếu ở TELT. Ban ngày thì đi làm, tối về thì tụ tập ở các
bến xe, các quán nhậu, các tụ điểm và muốn được tự khẳng định mình, các
em đó sẽ bị lôi kéo vào lối sống không lành mạnh, điều này sẽ làm ảnh
hưởng đến nhân cách, suy nghĩ của các trẻ mới lớn, chìm trong những cảnh
các em chỉ mới 13, 14, 15 tuổi, đang chích hút, đang phê, đang điên cuồng
cùng với thuốc lắc…thì chúng ta có thể nhìn thấy được những tác hại của
tình trạng trẻ lang thang, kiếm sống trên đường phố khi đang ở tuổi ngồi trên
ghế nhà trường.
Bên cạnh nguy cơ sa vào các tệ nạ xã hội thì TELT phải đối mặt đó là bị bạo
hành,lạm dụng sức lao động và lạm dụng tình dục ở những bé gái. Các em vì
kiếm sống để tồn tại và có có tiền, thì các em cam chịu để chủ bóc lột sức
của mình mà không hề phản kháng. Tuổi của các em là tuổi ăn, tuổi học,
được vui chơi, nhưng các em phải bươn chải khắp thành phố để kiếm sống,
phải làm việc trong những môi trường độc hại: hóa chất, khí thải công
nghiệp, bụi bẩn….và nặng nhọc như: bốc vác, phụ hồ, kéo xe…Sức khỏe sẽ

này.
Nếu con trong gia đình họ đi lang thang kiếm sống và sa một trong những tệ
nạn xã hội như ma túy, tiêm chích, HIV/AIDS thì những dằn vặt, nỗi khổ sẽ
luôn đeo bám nhưng bậc làm cha, làm mẹ…luôn sống trong nỗi lo mất con.
3.3.3 Đối với xã hội
Tình trạng TELT kiếm sông trên đường phố sẽ ảnh hưởng xã hội, các tệ nạn
xã hội tăng, dẫn đến vấn đề phức tạp như ma túy, mại dâm, trộm cắp, giết
người…mất trật tự an ninh, làm mất cảnh quan thành phố.
Từ vấn đề này nảy sinh nhiều tiêu cực trong xã hội như: hình thành những
đường dây buôn bán trẻ em, sự bó lột, lạm dụng sức lao động, với trình độ
học vấn thấp các em dễ bị lợi dụng vào con đường buôn bán ma túy của kẻ
xấu.
Đồng thời, xã hội cũng mất đi một nguồn lao động trí thức khi các em bỏ
học để đi kiếm sống, có thể có những nhân tài mà xã hội khó để tìm kiếm và
phát triển.
4. Một số quan điểm và giải pháp cơ bản giải quyết vấn đề trẻ em lang
thang
4.1 Một số quan điểm
TELT là vấn đề xã hội, vì vậy giải quyết tình trạng TELT phải gắn liền với
sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và của từng địa phương đồng thời
phải gắn chặt giữa các giải pháp về kinh tế, văn hoá với các giải pháp về xã
hội.
Giải quyết vấn đề TELT là đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi cho các em
như mọi trẻ em khác.
Giải quyết vấn đề TELT là một quá trình lâu dài. Vì vậy phải huy động sức
mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, của từng địa phương
và gia đình, đa dạng hoá các nguồn lực. Ưu tiên đầu tư cho những nơi có
nhiều trẻ đi lang thang, lấy phương châm phòng ngừa, giải quyết tại cơ sở là
chính, giúp các em trở về với gia đình, quê hương, làng xóm.
23

vào vị trí của người khác để nhìn nhận một vấn đề nào đó. Điều này có
nghĩa, chúng ta khuyến khích trẻ phát triển khả năng đồng cảm, biết chia sẻ
và ứng xử với mọi người tốt hơn, tránh được cảm giác cô đơn ở trẻ
Nhận trách nhiệm: Dạy cho trẻ cuộc sống có nhiều việc cần phải làm, có cho
và nhận. Mỗi người ai cũng có bổn phận chia sẻ phần trách nhiệm của bản
thân mình, để trẻ có những trách nhiệm, nhiệm vụ của mình, trẻ sẽ cảm nhận
được mình cũng là một phần đóng góp vào việc gắn bó, xây dựng gia đình.
Biểu lộ bằng hành động: Cuộc sống luôn tồn tại mặt tốt và xấu, cần cho trẻ
biết được điều đó, sau đó đưa ra các cách, các giải pháp xây dựng một cuộc
sông tốt đẹp hơn để trẻ hướng tới, sữa chữa, thay đổi điều xấu thành điều tốt
24
4.2.2 Giáo dục nhà trường
Vấn đề học hành của TELT, bộ GD-ĐT cho biết,sẽ tập trung đẩy mạnh giáo
dục hòa nhập nhằm mở cửa đón mọi trẻ em có hoàn cảnh kho khăn được đến
lớp, đến trường: miễn học phí, cho mượn sách giáo khoa theo chương trình.
Song song đó ngành GD-ĐT của các địa phương, các ngành liên quan tiếp
tục đẩy mạnh hoạt động quỹ học bổng cho học sinh nghèo vượt khó nhằm
tạo điều kiện và là động lực thúc đẩy giúp các em đến trường.
Thực sự để giải quyết một cách căn bản và bền vững về vấn đề này là một
khó khăn và phức tạp. Bởi phần đông các em bỏ học đi lang thang một cách
tự nguyệt. Do đó việc cần làm là tạo điều kiện cho các em vừa học vừa làm,
cụ thể hơn là dạy cho các em một cái nghề để kiếm sống sau này.
Thật khó khăn để giải quyết dứt điểm tình trạng TELT, trước mắt chúng
tacoos gắng tạo điều kiện tốt nhất để các em có cuộc sống dễ chịu hơn, Còn
việc để giải quyết một cách bền vững, yếu tố gia đình vẫn đóng vai trò quan
trọng nhưng cần phải có sự giúp đỡ hỗ trợ của xã hội và cộng đồng để tạo ra
môi trường an toàn nhất cho các em.
Tuyên truyền giáo dục:Cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục về
vấn đề TELT tới cả các cấp các ngành, đoàn thể nhân dân và trực tiếp đối
với trẻ em và người lớn đang lang thang kiếm sống trên địa bàn thành phố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status