Tài liệu Đề án “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam” - Pdf 84

Trường.............................
Khoa…………………. ĐỀ ÁN

“Thực trạng và giải pháp thúc
đẩy quá trình cổ phần hoá ở
Việt Nam”

1
LỜI NÓI ĐẦU

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và Hiến pháp 1992 đều
khẳng định: Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành đó, kinh tế quốc doanh được xác
định giữ vai trò chủ đạo.
Xuất phát từ thực trạng kinh doanh kém hiệu qu
ả của hệ thống doanh
nghiệp Nhà nước và để kinh tế quốc doanh giữ được vai trò chủ đạo, cần phải
đổi mới một cách căn bản hoạt động của loại hình doan nghiệp này. Mục tiêu
của quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là từng bước phát huy có hiệu
quả vai trò của doanh nghiệp Nhà nước như một công cụ vật chất quan trọng
để Nhà nước chi phối điều ti
ết sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng
đã vạch ra.
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một giải pháp quan trọng để đổi
mới quan hệ sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu, đổi mới phương thức quản lý
nhà nước, tạo động lực cho người lao động làm chủ doanh nghiệp. Mặ

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN
HOÁ

1.1. Công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng nhau góp
vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng nhau chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp
và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn của
mình góp vào công ty.
Luật công ty nước ta (bàn hành 21/12/1990) và được sửa đổi ngày
22/6/1994 quy định công ty cổ phần là công ty trong đó:
- S
ố thành viên gọi là cổ đông phải có trong suốt thời gian hoạt động ít
nhất là bảy.
- Vốn điều lệ của công ty được nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể mua một
hoặc nhiều cổ phiếu.
- Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ
phiếu củ
a sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là cổ phiếu có
ghi tên.
- Cổ phiếu không ghi tên có thể tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu có ghi
tên chỉ được chuyển nhượng nếu có sự đồng ý của hội đồng quản trị.
1.1.2.Ưu điểm của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường.
* Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh huy động tập
trung được nhanh s
ố vốn quy mô lớn và hiệu quả cao.
Bằng việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, công ty cổ phần có thể huy
động thu thú được những khoản tiền nhỏ bé, tản mạn nhàn rỗi trong xã hội, tập
trung lại thành những khoản vốn lớn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đòi hỏi

đình đốn phá sản.
Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn. Theo
chế độ này thì có sự phân biệt rõ ràng tài sản của công ty và phầ
n vốn của cổ
đông. Trách nhiệm tài chính của công ty giới hạn trong phạm vi tài sản của
công ty và phần vốn của cổ đông theo tỷ lệ đóng góp của mỗi người. Điều đó
đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại rủi ro, thua lỗ.
Dưới hình thức công ty cổ phần, người có nhiều vốn muốn đầu tư có thể
mua cổ
phiếu, trái phiếu ở nhiều công ty khác nhau, do đó, sự rủi ro và mạo

4
hiểm của đầu tư được phân tán vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhiều công ty,
làm giảm bớt được thiệt hại của người đầu tư góp vốn hơn là tập trung vào
một công ty khi công ty bị phá sản. Cơ chế phân bố rủi ro này sẽ tạo điều kiện
cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư theo sự tính toán, cân nhắc lựa chọn
vào nhiều công ty mà họ tín nhi
ệm, làm cho nền kinh tế phát triển và có xu thế
ổn định.
* Công ty cổ phần thúc đẩy quá trình phân công chuyên môn hoá.
Với khả năng tập trung vốn tương đối lớn, các công ty cổ phần có thể
tranh thủ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, mạnh dạn đầu tư vào các
ngành nghề mới, có triển vọng đạt lợi nhuận cao làm biến đổi cơ cấu nền kinh
tế, từ đó tác động
đến phân công lao động xã hội. Cơ cấu đội ngũ công nhân
cũng biến đổi không chỉ tăng về số lượng mà còn trình độ lành nghề, các chức
năng của đội ngũ cán bộ quản lý điều hành cũng chuyên sâu và đa dạng hơn.
Trong nội bộ công ty do phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kinh
doanh nên tạo cho những người góp vốn tham gia quản lý thật sự công ty và
lựa chọn những giám

của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có người cho rằng đó là việc tư nhân
hoá doanh nghiệp nhà nước. ý kiến này chỉ đúng với một số doanh nghiệp nhà
nước nhất định. Khi mà các doanh nghiệp ấy xét thấy quốc doanh làm không
hiệu quả có thể cho tư nhân mua lại và như vậy là tư nhân hoá doanh nghiệp
nhà nước.
Nhưng ý kiến đó không đúng ở nhiều điểm:


Lẫn lộn khái niệm cổ phần hoá với tư nhân hoá. Tư nhân hoá là biến
một tài sản vốn thuộc sở hữu công thành sở hữu tư, có thể diễn ra cả đối với
doanh nghiệp nhà nước và tập thể. Còn cổ phần hoá là đa sở hữu hoá tài sản,
tức là chấp nhận nhiều người cùng sở hữu tài sản - sở hữu hỗn hợp.
• Phương pháp tư nhân hoá là bán tài sả
n doanh nghiệp nhà nước cho tư
nhân hoặc thậm chí cho không tư nhân tài sản đó. Còn phương pháp cổ phần
hoá là huy động nhiều chủ thể đầu tư thuộc các thành phần khác nhau và cũng
có thể là các chủ thể trong một thành phần kinh tế cùng góp vốn để chuyển từ
một chủ sở hữu sang đa sở hữu. Khi đánh giá phần giá trị tài sản để cổ phần
hoá có thể nhà nước cũng góp cổ
phần vào doanh nghiệp vốn của mình đã cổ
phần hoá.
• Hình thức cổ phần hoá rất đa dạng:
- Bán cho các tư nhân khác nhau cùng góp cổ phần thành một công ty cổ
phần. Hình thức này đồng dạng với tư nhân hơn nhưng lại khác là đa số hơn.
- Tất cả các thành phần kinh tế cùng góp cổ phần để mua doanh nghiệp
nhà nước (kể cả quốc doanh) để chuyển sang công ty cổ phần. Hình thứ
c này
vừa đa sở hữu vừa đa thành phần, nói đúng hơn là đa sở hữu đa thành phần.

6

mặc dù về quản lý đã được điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nước trong bản thân sở hữu nhà nước với sự điều tiết trực tiếp của nhà
nước ở các doanh nghiệp này. Đó là:
+ Hệ thống kế hoạch và tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng
với cơ chế thị tr
ường vì được quản lý theo hệ thống chính sách từ trên xuống
với nhiều cấp trung gian. Nguồn tài chính được sử dụng hoàn toàn theo kế
hoạch được duyệt từ đầu năm, không có sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng

7
hợp lý nguồn vốn và cũng không được chuyển sang cho năm sau. Điều này
làm cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm
vì vậy không hợp lý hoá được sản xuất và giá thành luôn luôn phải cộng nhiều
chi phí so với các doanh nghiệp tư nhân.
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp nhà nước bị hạn chế vì nhiều qui chế liên quan đến quyền sở
h
ữu của nhà nước, do đó gây ra những yếu tố làm cản trở đến hoạt động có
hiệu quả của doanh nghiệp. Chẳng hạn, việc bổ nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp
nhà nước được quyết định từ cơ quan cấp trên, nên sẽ xuất hiện xu hướng là
các nhà quản lý cao cấp cố gắng thiết lập các mối quan hệ thân thiện với cấp
trên hoặc các nhà hoạt động chính trị
và tranh thủ tìm những doanh nghiệp ở
những vị trí béo bở hơn là tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp hoặc là vì nhà nước là chủ sở hữu các doanh nghiệp nên các quyết định
kinh doanh về đầu tư, giá cả thị trường cung ứng và tiêu thụ... của doanh
nghiệp lại do hệ thống phức tạp của chủ thể cấp trên điều tiết vừa thiếu thống
nhấ
t vưà không rõ ràng về trách nhiệm với các quyết định của mình, gây trở
ngại tới hiệu quả công việc của các doanh nghiệp nhà nước.


THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

2.1. Thực trạng các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế nước
ta.
2.1.1. Sự ra đời của doanh nghiệp nhà nước và hoạt động của nó trong
cơ chế cũ.
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ta đã có hơn 40 năm xây dựng và phát
triển. Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nướ
c ta, các xí
nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) là lực lượng chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân. Chúng được hình thành từ 3 nguồn sau:
Thứ nhất, xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn viện
trợ hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nước XHCN khác trong
thời kỳ đó).
Thứ hai, quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản, tư sản dân
tộc đ
ã bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ cũ. Hình thức này
được áp dụng rộng rãi trong những năm 50, 60 được tiếp tục trong những năm
70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976.
Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tộc thành các
xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh.
Cũng giống các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam
đã vận dụng h
ọc thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất, coi chế độ công hữu là nền tảng kinh tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu
nghèo, bất công xã hội do nền kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra, để
xây dựng một chế độ công hữu do nhân dân lao động làm chủ. Trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta đã nhấn mạnh vào nhiệ

nước. Nhà nước cũng ưu tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các doanh
nghiệp nhà nước. Chỉ tính riêng trong khoảng mười năm, từ 1976 đến 1985,
nhà nước đã phân bố từ 60 - 70% vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên
90% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước.
Hàng năm các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 30 - 40% tổng
sản ph
ẩm xã hội và 28 - 30% thu nhập quốc dân. Phần thu của doanh nghiệp
nhà nước từ doanh nghiệp nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước là phần
thu lớn nhất, dao động hàng năm trong khoảng 60 - 70%.
Do chúng ta duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp trong khu vực doanh nghiệp nhà nước nên khu vực kinh tế này đã bộc lộ
những yếu kém nghiêm trọng. Đó là:

11
- Năng suất, chất lượng và hiệu quả rất thấp. Toàn bộ khu vực doanh
nghiệp nhà nước không vượt qua ngưỡng cửa tái sản xuấta giản đơn. Tính
chung trong vòng mười năm 1976 - 1985 tỉ lệ chi của nhà nước và thu của
doanh nghiệp nhà nước là 3:1.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thực thanh - thực chi,
giao đủ nộp đủ. Nhà nước bao cấp và quyết định giá đầu vào, đầu ra, nên
doanh nghiệp không ph
ải tính toán hiệu quả kinh doanh. Hoạt động thua lỗ có
nhà nước gánh chịu.
- Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình quân đã làm
suy yếu động lực kích thích lao động, làm việc có năng suất, chất lượng và
hiệu quả.
- Bộ máy doanh nghiệp cồng kềnh, nhiều cấp trung gian với chức năng
chồng chéo. Các cơ quan quản lý thường can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất
kinh doanh ngày ngày của doanh nghiệp.
2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nướ

nghệ thúc đẩy nền kinh tế
phát triển theo xu hướng năng suất - chất lượng -
hiệu quả.
Như vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ yêu cầu
khách quan của nền kinh tế thị trường nước ta và được ghi thành chủ trương,
chính sách và pháp luật của nhà nước. Vai trò luật định này là yếu tố quan
trọng chi phối sự điều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của doanh
nghi
ệp nhà nước. Để thực hiện được vai trò đó trước hết phải kiên quyết đổi
mới hệ thống doanh nghiệp này. Việc đổi mới phải được đặt trong sự phát
triển tổng thể nền kinh tế quốc dân và phải xuất xứ từ thực trạng doanh nghiệp
nhà nước ở nước ta.
2.1.3. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay.
Trong cơ ch
ế cũ, ở nước ta doanh nghiệp nhà nước tồn tại với một số
lượng khổng lồ. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến ngày 1 - 9 - 1990
cả nước có 12.084 doanh nghiệp trong tất cả các ngành các lĩnh vực của nền
kinh tế quốc dân và do nhiều cấp quản lý. Sau khi thực hiện việc tổ chức sắp
xếp lại theo quyết định 315/HĐBT ngày 1 - 9 - 1990 và thành lập lại các
doanh nghi
ệp nhà nước theo nghị định 388/ HĐBT và ngày 20 - 11 - 1991 và
sau hàng loạt cải cách, đến nay doanh nghiệp nhà nước vẫn còn khoảng 5800
doanh nghiệp (theo số liệu của vụ đăng ký kinh doanh - Bộ kế hoạch đầu tư).
Trong đó có khoảng 30% là doanh nghiệp nhà nước do các bộ ngành trung
ương quản lý và khoảng 70% doanh nghiệp do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương quản lý.

13
Đến năm 1995, số lượng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng
lớn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: trong lĩnh vực công nghiệp là

từ 100 tỷ trở lên chỉ chiếm 1,5% tổng số doanh nghiệp. Số doanh nghiệp có từ
1000 lao động trở lên chỉ chiếm 4% trong tổng số doanh nghi
ệp.

14
Vốn thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 80% vốn
hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất mát, kém phẩm
chất chưa được xử lý. Riêng vốn lưu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50%
được huy động vào kinh doanh, 50% còn lại nằm ở lỗ, công nợ khó đòi.
Các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, do quy mô nhỏ, vốn ít
không có khả năng đầu tư trang thi
ết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh
nên yếu sức cạnh tranh trên thị trường.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt
động của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Trừ một số rất ít (18%) doanh
nghiệp nhà nước mới được đầu tư (sau năm 1986) còn chủ yếu được thành lập
từ lâu có trình độ
kỹ thuật thấp, công nghệ lạc hậu. Giá trị còn lại của tài sản
cố định trong doanh nghiệp nhà nước là 61,4% so với nguyên giá.
Theo đánh giá của Bộ khoa học và công nghệ và môi trường: máy móc
thiết bị của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu với thế giới từ 10 - 20 năm. Theo
điều tra của Tổng cục thống kê: thiết bị của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu từ
2 - 3 thế h
ệ. Các doanh nghiệp TW có tới 54,3% trình độ thủ công, 41% trình
độ cơ khí và 3,7% trình độ tự động. Doanh nghiệp địa phương còn lạc hậu
hơn; chỉ có 2% trình độ tự động, 24% trình độ cơ khí và 74% trình độ thủ
công.
Nhiều thiết bị trong các doanh nghiệp nhà nước sau 14 - 15 năm mới
được thay đổi, thậm chí trong một số ngành vẫn sử dụng thiết bị từ năm 1938 -
1940 trong khi đó thời gian đổi mới thiết bị

năm gần đây, sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu được phục
hồi và phát triển, nhưng nhìn chung hiệu quả vẫn còn thấp, thấp nhất là ở các
ngành sản xuất vật chất. Trong các doanh nghiệp nhà nước đ
ang hoạt động chỉ
có 11,28% doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận từ 15%/năm trở lên trong ngành
sản xuất vật chất và 4,3% doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất lợi nhuận từ
20%/năm trong các ngành dịch vụ.
Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh
tế nhà nước cao gấp 2 lần so với kinh tế tư nhân. Hệ số sinh lời của khu vực
doanh nghi
ệp nhà nước rất thấp. Hệ số sinh lời của vốn lưu động tính chung
chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành giao thông vận tải 2%/năm, ngành công
nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thương nghiệp đạta 22%/năm.
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động thu lỗ chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể ở
thời điểm 1997 chỉ có 76% hoạt động có lãi ở mức thấp, 22% doanh nghiệp bị
thua l
ỗ, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng/năm, 2% doanh nghiệp
hoạt động không thua lỗ, nhưng không có lãi. Các số liệu đó cho thấy việc làm
ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nhà nước đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách
nhà nước và là một trong những nguyên nhân đưa đến việc bội chi ngân sách.
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt động theo
cơ chế thị trường. Các chính sách kinh tế
, tài chính đối với doanh nghiệp nhà

Trích đoạn Về môi trường pháp lý cho việc cổ phần hoá. Hệ thống các cơ quan quản lý công tác cổ phần hoá. Chính sách đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status