Thực trạng và giải pháp Đầu tư phát triển nghành Mía đường ở Việt Nam trong thời gian qua - Pdf 12

Danh mục các từ viết tắt:
+Bộ NN-PTNT:Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
+Bộ KH&ĐT:Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
+TDMNBB:Trung du Miền núi Bắc Bộ
+BTB:Bắc Trung Bộ
+DHNTB:Duyên hải Nam Trung Bộ
+TN:Tây Nguyên
+ĐNB:Đông Nam Bộ
+ĐBSCL:Đồng bằng Sông Cửu Long.
+TMN:Tấn mía/ngày.
+DT:Diện tích
+NS:Năng suất
+SL:Sản lượng
+USD/T:USD/Tấn
+NMĐ:Nhà máy đường.
+NHTM và QHTPT:Ngân hàng Thương mại và Quỹ Hỗ trợ phát triển.
+CSTK:Công suất Thiết kế.

1
1
Lời mở đầu
Ta biết rằng,nước ta vẫn đang là 1 nước Nông nghiệp,đang trong quá trình Hiện đại và
Công nghiệp hóa.Mặt khác,với những yếu tố điều kiện tự nhiên thuận lợi,rất phù hợp đối
với phát triển Nông nghiệp.Vì vậy,Nông nghiệp vẫn là 1 nghành cần được ưu tiên đầu tư
từ trước đến nay.
Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi ở nước ta,nghành Mía đường là 1 trong những
nghành có thuận lợi để phát triển và ưu tiên đầu tư hàng đầu.Đầu tư vào Mía đường,thứ
nhất để đáp ứng trước mắt nhu cầu tiêu thụ đường trong nước đang dẫn được nâng cao
theo điều kiện mức sống của người dân ngày càng được nâng lên.Thứ hai là để phục vụ
cho xuất khẩu đường ra thế giới thu hút thêm lợi nhuận cho Quốc gia.
Tuy nhiên trên thực tế thì nghành Mía đường vẫn còn 1 số thực trang và tồn tại cần

vị thực tập và bạn bè.Em xin chân thành cám ơn sự giúp đõ của mọi người.

3
3
Chương I:
Thực trạng hoạt động Đầu tư phát triển nghành mía đường ở Việt
Nam trong thời gian qua
I.Vài nét chung về nghành mía đường ở Việt Nam
1.Về sản xuất mía của Việt Nam
1.1.Về điều kiện khí hậu
Ta biết cây mía là cây trồng nhiệt đới,phát triển tốt trong phạm vi từ 35° vĩ tuyến Bắc
đến 35° vĩ tuyến Nam.Cây mía là cây không kén đất,có thể trồng được trên nhiều loại
đất từ cất đến sét nặng.Mía sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 21°C-35°C,thời kì
mía chín nhiệt độ thấp từ 14°C-25°C là thích hợp nhất để tích lũy đường trong thân.Cây
mía thích ứng rất rộng từ vùng khô có lượng mưa từ 800-900mm/năm đến những vùng
mưa nhiều từ 2000-3000 mm/năm.Tuy nhiên,mía là một cây ưa nắng,thông thường
khoảng thời gian nắng từ 2400 giờ trở lên trong 1 năm mới đut để cây mía phát triển hết
tiềm năng cuả nó.
Việt Nam nằm ở vị trí từ 8°-23° vĩ tuyến Bắc nên hoàn toàn thích hợp cho cây mía
sinh trưởng và phát triển.Theo đánh giá của các chuyên gia thì “Việt Nam có điều kiện
nông nghiệp trên mức trung bình thế giới nếu đảm bảo đủ tưới” để phát triển mía
cây.Căn cứ vào 4 yếu tố khí hậu chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây
mía là:nhiệt độ,thời gian nắng,biên độ nhiệt và lượng mưa hàng năm,có thể xác định như
sau:
-Các vùng thuận lợi nhất để phát triển cây mía ở Việt Nam là Duyên hải Nam Trung
Bộ(DHNTB),Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ;
-Các vùng có tiềm năng để phát triển cây mía là Thanh Hóa-Nghệ An,Đồng bằng Sông
Cửu Long(ĐBSCL)
-Các vùng có tiềm năng hạn chế là Đồng Bằng Sông Hồng(ĐBSH),Hà Tĩnh-Quảng
Bình-Thừa Thiên Huế,trung du và miền núi phía Bắc.

2,18%/năm.Sau đó sản lượng mía tăng nhanh hơn trong những năm từ 1990-1994,bình
quân 8,71%/năm,chủ yếu nhờ tăng diện tích hơn năng suất.Năm 1994,sản lượng mía cả
nước đạt 7,5 triệu tấn.
b.Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
5
5
Trong 5 năm thực hiện Chương trình 1 triệu tấn đường,diện tích và năng suất mía trên cả
nước đã có tốc độ tăng vọt.Nếu như năm 1994,cả nước chỉ có xấp xỉ 170 nghìn ha thì
đến niên vụ mía năm 1999/2000,diện tích mía của cả nước lên tới 344,2 nghìn ha,tăng
bình quan 15,2%/năm.Năng suất mía bình quân cả nước đạt 51,6 tấn/ha vào năm cuối
cùng của Chương trình mía đương,tăng đáng kể với mức xấp xỉ 45 tấn/ha của năm 1994.
Nhờ tăng trưởng nhanh cả về năng suất và diện tích,sản lượng mía cây tăng đột biến
đạt 17,8 triệu tấn vào niên vụ 1999/2000,gấp 2,4 lần sản lượng cao nhất trước khi có
chương trình mía đượng.Tốc độ tăng sản lượng bình quân đạt 18,8 %/năm,thấp hơn đôi
chút so với bông(19,7%/năm),nhưng cao hơn nhiều so với lạc(1,6 %) và đậu
tương(3,1%).So với các cây công nghiệp lâu năm,tốc độ tăng sản lượng mía cây cũng
chỉ thấp hơn so với cà phê(22%),nhưng cao hơn nhiếu so với cây cao su(10,8%) và
chè(9%).
Tuy nhiên,sự tăng trưởng này là không bền vưng.Trong ba niên vụ mía sau khi kết thúc
Chương trình mía đương,diện tích trồng mía giảm xuồng 300 nghìn ha trong năm
2000/2001,tiếp tục giảm xuông 291 nghìn ha trong niên vụ 2001/2002 và chỉ tăng đôi
chút lên 315 nghìn ha trong vụ 2002/03.Năng suất mía cây cũng có xu hướng chững lại
trong 3 niên vụ vừa qua,chỉ đạt 49,8 tấn/ha vào năm 2000,49,2 tần/ha trong năm 2001 và
49,8 tấn/ha trong niên vụ 2004/2005.Trong trong các vùng nguyên liệu được quy hoạch
và chăm sóc tốt hơn của các nhà máy chế biến đương,năng suất mía bình quân vẫn còn
rất thấp.Niên vụ 2002/2003,năng suất mía trong vùng quy hoạch của Công ti mía đường
Lam Sơn đạt mức cao nhất cả nước là 60 tấn/ha.Phần lớn vùng mía quy họch của các
nhà máy đường như Bình Thuân,Trị An,Quảng Nam,Quảng Bình có năng suất mía bằng
và mía 40 tấn/ha.
Do diện tích trồng mía giảm và năng suất mía có dấu hiệu chững lại,tổng sản lượng

Ngãi-Bình Định-Phú Yên-Khánh Hòa và Tây Ninh-Long An với diện tích trồng mía
chiếm tới một nửa tổng diện tích mía của cả nước.
Ở Việt Nam,cây mía được trồng ở 3 chân ruộng chính là:
-Đất đồi và ruộng bậc thang thấp.Đất đồi dốc thường là vùng mới canh tác,được khai
hoang,cày bừa theo đường cong,chia thành từng cấp.
-Ruộng trồng lúa.Chân ruộng lúa đã được canh tác không xây dựng kết cấu hạ tầng,kể cả
hệ thống tiêu nước.
-Chân ruộng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long.
7
7
Tính đến năm 2002,diện tích trồng mía chủ yếu là đất đồi và đất ruông.Diện tích đất đồi
chiếm 46%,diện tích đất ruộng chiếm 44%.
Quy hoạch và đặc điểm đất trồng ở các vùng cũng rất khác nhau.Đất đồi dốc thường là
vùng mới canh tác và được khai khoang,cày bừa theo đường cong,chia thành từng cấp và
có hệ thống tiêu.Chân ruộng lúa đã được canh tác không theo quy hoạch,đặc biệt là
thường không có hệ thống tiêu nước.

Bảng 1.1.Phân loại đất trồng mía vùng nguyên liệu các NMĐ
Loại đất
Miền Bắc Miến Trung và
Tây Nguyên
Miền Nam Cả nước
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)
DT(ha) Tỷ
lê(%)

8
Nam đã nhập nội và chọn lọc được hơn 10 giống có năng suất,có chữ đường cao từ Đài
Loan,Trung Quốc,Cuba,Pháp,Thái Lan,Úc và Ấn Độ.Nhiều giống cho thấy năng suất
vượt trội so với các giống mía cũ.Chỉ tính riêng trong 5 năm thực hiện chương trình mía
đường,chúng ta đã nhập và thu thập trên 11.000 tấn với 20 giống mía từ các nước khác
nhau.
Mỗi năm diện tích mía trồng mới khoảng 100.000-110.000 ha(trồng tái canh và trồng
mở rộng).Nhu cầu về giống mỗi năm khoảng 1 triệu tân.Lực lượng sản xuất và cung ứng
giống mía hiện nay bao gồm:
-Các điểm giữ giống mía của các hộ nông dân ở ngay trong vùng nguyên liệu
-13 trại,cơ sở nhân giống mía của các nhà máy đường(như Lam Sơn,Nông Công,Quảng
Ngãi,Bình Định,Tuy Hòa,Bình Thuận,Hiệp Hòa,Bình Dương,Bourbon TN,Thô Tây
Ninh,Nước Trong,La Ngà,Cần Thơ).
-Một số nông lâm trường,trại giống trực thuộc sở NN-PTNT và cơ sở sản xuất của các
tổ chức chính trị xã hội ở trong vùng nguyên liệu
Các cơ sở trên mỗi năm cung cấp 150.000-180.000 tấn giống mía các loại,chỉ đáp ứng
được 15% nhu cầu giống cho sản xuât,trong đó giống mía mới có năng suất chữ đường
cao là 15 đến 20 nghìn tân.
2.Về chế biến đường ở Việt Nam.
2.1.Tăng trưởng của công nghiệp chế biến đường.
a.Trước năm 1995
Tính đến năm 1994,cả nuwocs có 12 nhà máy chế biến đường công nghiệp với tổng
công suất 10.300 tấn mía/ngày(TMN).Một số nhà máy có công suất 1500-2000 TMN do
các doanh nghiệp nhà nước trục thuộc Trung ương quản lý như Lam Sơn,Quảng
Ngãi,Hiệp Hòa,Bình Dương,La Ngà với các máy móc thiết bị tương đối hiện đai.Hầu hết
các nhà máy đường còn lại do doanh nghiệp Nhà nước thuộc các tỉnh quản lý chỉ có
công suất thiết dưới 500 TMN/nhà máy với công nghệ chế biến lạc hậu.
Do vùng nguyên liệu chưa đáp ứng đủ mía cho nhà máy,nên hầu hết các nhà máy chỉ
huy động công suất ép dưới 70%.Công suất ép của những nhà máy công suất nhỏ(dưới
1000 TMN) do địa phương quản lý rất thấp như Việt Trì,Vạn Điểm,Vĩnh Trụ chỉ đạt

là 82.950 TMN, với công suất bình quân đạt xấp xỉ 1900 TMN\ nhà máy. Bên cạnh sự
gia tăng về số lượng nhà máy,quy mô bình quân của các nhà máy mới(hoặc mở rộng)
cũng tăng đáng kể,từ 1086 TMN/nhà máy niên vụ 1995/1996 lên 1885 TMN/nhà máy
như hiện nay.
Các nhà máy chế biến đường chủ yếu sản xuất 2 sản phẩm chính là đường trắng và
đường tinh luyện,trong đó có 40% đường tinh luyện RE.Một số nhà máy sản xuất đường
thô nhưng chỉ là sản phẩm trung gain được dùng làm nguyên liệu chế biến đường tinh
luyện.
Kết thúc vụ 2002/03,các nhà máy đã ép được 11,54 triệu tấn mía,đạt 93% công suất
thiết kế.Đây là niên vụ có hệ số tận dụng công suất thiết kế cao nhất cho đến nay,tăng
đáng kể so với 50% niên vụ 1997/98,64% niên vụ 1998/99 và 70% của 2 niên vụ 00/01
và 01/02.
10
10
Sản lượng đường công nghiệp của cả nước trong những năm qua tăng nhanh,đạt mức
tăng trưởng bình quân 32,7% trong giai đoạn 1994-2003,thậm chí đạt 50% trong giai
đoạn 1995-2000.
Ta biết,những năm sau khi kết thúc Chường trình mía đường kết thúc vào đầu những
năm 2000,với 44 nhà máy đường thì đến năm 2005 chỉ còn lại 37 nhà máy đường với
tổng công suất trên 80 nghìn TMN do một số nhà máy đã ngừng sản xuất,bán,phá sản
theo quyết định 28/TTg của Thủ tướng Chính phủ.Ngoài ra,có hàng trăm cơ sở sản xuất
đường thủ công ở Nam Trung Bộ,Đồng bằng Nam Bộ với tổng công suất khoảng 250-
300 nghìn tấn đường kính/năm.Tính chung tổng công suất chế biến đường cả nước(công
suất và thủ công có thể đạt 1,4 triệu tấn đường kính/năm).
Trong 5 năm qua,sản xuất đường 2005 đạt 1082 nghìn tấn(trong đó đường kính công
nghiệp là 902 nghìn tấn).So với năm 2001,tăng 132 nghìn tấn,riêng đường công nghiệp
thì tăng lên 252 nghìn tấn.Năm 2003 và 2004 là 2 năm tổng sản lượng đạt trên 1,2 triệu
tấn trong đó đường công nghiệp đạt trên 1 triệu tấn.So với chỉ tiêu kế hoạch 2001-2005
trình Đại hội Đảng IX,sản lượng đường thực hiện từng năm từ 2001-2004 đều đạt và
vượt kế hoạch(chỉ năm 2005,đạt 90% so với kế hoạch).Tính chung 5 năm,tổng sản lượng

Sản lượng
Đường
1050 40.7 283 201 64 137.6 325
Trong đó:Đường
CN
900 40.7 283 141 64 138 235
Đường
TC
150 60 90
Công suất NMĐ 83950 4600 23250 18300 6500 31300 16900
Nguồn:Bộ NN&PTNT
2.2.Cơ sở sản xuất tiểu thủ công
Bên cạnh 37 nhà máy công nghiệp(tính đến năm 2005),Việt Nam còn có các xửơng sản
xuất đường thủ công có mặt ở khắp nơi,đặc biệt tập trung là ở Miền Nam.Sản phẩm
đường thủ công cũng rất đa dạng,gồm:đường bát,đường phèn,đường vàng ly tâm,đường
trằng ly tâm,đường mặt,…
Trong giai đoạn 1997-2003,sản xuất đường thủ công ổn định,ước tính có khoảng 200-
260 nghìn tấn(quy về đường trắng) hàng năm.Các lò đường thủ công hoạt động mạnh
trong niên vụ 2003/04 với sản lượng ước tính đạt 300.000 tấn.Tuy nhiên trong niên vụ
2004/05,sản xuất đường thủ công giảm mạnh so với niên vụ trước,ước tính chỉ còn xấp
xỉ 150.000 tấn,bằng một nửa so với 300.000 nghìn tấn của hai niên vụ trứơc đây.Nguyên
nhân chủ yếu là do giá đường trong nước xuống thấp nên nhiều lò thủ công đóng cửa
hoặc chạy chỉ là để cầm chừng.
Trong niên vụ 1999/00,cả nước sản xuất đước khoảng 1.014.000 tấn đường,lần đầu
tiên vượt mức 1 triệu tấn đường,gồm 474.000 tấn đường trắng(chiếm khoảng 46,7%) ,
290.000 tấn đường luyện(28,6%) và 250.000 tấn đường thủ công(chiếm khoảng
24,7%).Trong niên vụ 2001/02,tổng sản lượng đường cả nước đạt khoảng 1.073 nghìn
tấn,tăng 59 nghìn tấn hay 5,8% so với niên vụ trước đó.Trong đó,đường công nghiệp đạt
773 nghìn tấn,chiếm khoảng 72%,đường thủ công đạt 300 nghìn tấn,chiếm 28% tổng sản
lượng cả nước.Trong niên vụ 2004/05,tổng sản lượng đường cả nước ước tính đạt được

sự phát triển kinh tế,người dân vẫn có khả năng tăng mức tiêu thụ đường.
Mức tiêu thụ bình quân toàn thế giới là 22kg/người/năm,khác nhâu nhiều giữa các
nước.Các nước phát triển,bình quân tiêu thụ là 30-40 kg đường/người/năm.Các nước
Châu Á bình quân tiêu thụ khoảng 14kg/người/năm.Trong khi đó,bình quân tiêu thụ
đường của Việt Nam tương đối thấp,chỉ khoảng 12-13kg/người/năm,thấp hơn so với
13
13
30.3 kg ở Thái Lan,50kg ở Malayxia và Úc,15kg ở Ấn độ nhưng cao hơn mức 7kg ở
Trung Quốc.
Mức tiêu thụ đường ăn ở Việt Nam đã tăng trưởng khá nhanh trong 10 năm qua.Theo
Điều tra về mức sống dân cư Việt Nam trong năm 1992/93,mức tiêu thụ đường bình
quân đầu người trong năm 1992 là khoảng 5 kg/người/năm với tổng lượng tiêu thụ
khoảng 340 nghìn tấn.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,bình quân trong năm 2002
cả nước tiêu thụ khoảng 86 nghìn tấn/tháng,tương đương với khoảng 1 triệu tấn
đường/năm,năm 2005 cả nước tiêu thụ khoảng 98 nghìn tấn đường/tháng..Năm 2006,
ước tính mức tiêu thụ đường công nghiệp đạt khoảng 100 nghìn/tháng,tương đương với
khoảng 1,2 triệu tấn/năm.
Như vậy trong vòng 10 năm(1996-2002),lượng đường tiêu thụ cả nước tăng trung bình
là 11,8%/năm. Đây là mức tăng trưởng rất cao so với các nước khác trên thế giới.Theo
số liệu của Trung tâm Kinh tế Quốc tế Úc(CIE),tốc độ tăng tiêu thụ đường toàn cầu
trong 20 năm qua là khoảng 2%/năm,riêng khu vực Châu Á là khoảng 3,6%/năm,nhưng
chủ yếu là tăng trong thập kỷ 1990.Trong vài năm trở lại đây,tốc độ tăng nhu cầu đã có
dấu hiệu giảm dần.Theo đánh giá của các chuyên gia,nhu cầu tiêu thụ đường của Việt
Nam hiện nay tăng khoảng 6-7% hàng năm cho đến năm 2006.
Các số liệu điều tra hộ gia đình ở Việt Nam cho thấy mức tiêu thụ đường tương đối
khác nhau giữa các vùng trong cả nước, ở miền Nam cao gấp rưỡi mức tiêu thụ bình
quân đầu người so với miền Bắc.
Thị trường đường Việt Nam có thể được phân chia theo mục đích sử dụng như sau:Thị
trường tiêu thụ trực tiếp và thị trường công nghiệp chế biến(tức thị trường tiêu thụ gián

Tuy nhiên,nhu cầu tiêu thụ đường ở thị trường gián tiếp có thể diễn biến theo hướng
giảm xuống. Ở Thái Lan,vào năm 1998,các nghành công nghiệp thực phẩm và dược
phẩm đã tiêu thụ khoảng gần 800 nghìn tấn đường,chiếm trên khoảng 50% tổng lượng
đường tiêu thụ của Thái Lan.Tuy nhiên trong năm 2001 thì các nghành công nghiệp chế
biến chỉ tiêu thụ khoảng 700 nghìn tấn đường và chỉ còn chiếm khoảng 40% tổng nhu
cầu tiêu thụ, ước tình khoảng 1,75 triệu tấn.Nguyên nhân chủ yếu là do các nghành công
nghiệp chế biến thực phẩm và dược phẩm đã tăng sử dụng chất ngọt thay thế
HFS.Lượng tiêu thụ HFS tăng từ khoảng 30.000 tấn vào năm 1998 lên đôi ở mức 60.000
tấn vào năm 2001.Trong khi đó thì lượng đường tiêu thụ của nghành công nghiệp chế
15
15
biến dược phẩm đã giảm mạnh từ 107 nghìn tấn xuống còn 37 nghìn tấn trong giai đoạn
1998-2001.
3.1.2.Tình hình nhập khẩu đường.
Cho tới những năm gần đây,Việt Nam vẫn là một nước nhập khẩu đường với khối
lượng trên dưới khoảng 100 nghìn tấn đường hàng năm.Từ khi Việt Nam thực hiện
Chương trình 1 triệu tấn đường,khối lượng đường nhập khẩu biến động mạnh qua các
năm mặc dù lượng đường sản xuất trong nước tăng mạnh.Kể từ năm 1999,khi sản xuất
hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước thì lượng đường nhập khẩu giảm
xuống rõ rệt.Theo số liệu chính thức thì Việt Nam vẫn nhập khẩu khoảng 12,5 nghìn tấn
đường thô để chế biến cho xuất khẩu,tuy nhiên do giá xuất khẩu quá thấp nên không tái
xuất được.Bên cạnh đó,năm 1999 một số lượng đáng kể được nhập lậu vào Việt Nam tuy
không có số lượng tin cậy về lượng nhập khẩu.
Trong năm 2000,theo báo cáo của Tổng cục Hải quan,khoảng 80.000 tấn đường được
xuất khẩu sang các nước Trung Quốc,Singapore,Philippin.Theo số liệu gần đây,trong
năm 2001 các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu được trên khaỏng 60.000 tấn.
Bảng 1.4.Lượng đường xuất nhập khẩu của Việt Nam
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
125.000 12.500 -80.000 -60.000 - -50.600 -50.000 -48.000 -37.000
16

2004-05.Trong vòng 11 năm(1994-2005),xuất khẩu đường của Brazin tăng bình quân
đến 30%,đạt được 13,6 triệu tấn trong niên vụ 2004/05,cao nhất trên thế giới.Gần
đây,Brazin đã giành được vị thế số một thế giới và luôn có những chính sách tiếp cận thị
trường mới.Hiện nay thị trường nhập khẩu đường chủ yếu của Brazin là Nga,các nước
thuộc Châu Phi,Châu Âu,các nước Nam Mỹ,Trung Đông và Đông Nam Á, đặc biệt là
Malayxia, Đài Loan và khu vực Trung Đông.
Thái Lan, Úc đã xuất khẩu biến dộng giữa các năm nhưng vẫn có xu hướng tăng
lên.Thái Lan,các nước Đông Nam Á gần kề Việt Nam xuất khẩu tới gần 4 tấn trong niên
vụ 2004/05,sang thị trường chính là các nước Châu Ấ.Niên vụ 2004/05, Úc đã xuất khẩu
được 4,2 triệu tấn,chủ yếu sang các nước Canada,Mỹ,Nhật,Hàn Quốc và Malayxia.
Hơn nữa,trong những năm vừa qua,sản xuất đường thế giới luôn vượt cầu.Hầu hết các
nước đều có chính sách bảo hộ cho nghành đường,giữ giá trong nước ổn định thong qua
thuế nhập khẩu cao,hỗ trợ xuất khẩu đường thừa ra ngoài biên giới với giá bán thường
thấp hơn giá thành sản xuất.Thái Lan có thuế nhập khẩu đường là 65% trong hạn
nghạch,95% ngoài hạn nghạch;Philippin 50% trong hạn nghạch,65% ngoài hạn
nghạch;Nam Phi là 125 USD/tấn;các nước trong khối EU là 419 Euro/tấn;Việt Nam là
30% đối với đường thô,40% đối với đường trắng.Chỉ có 2 nước là Braxin,Australia(sản
lượng đường chiếm 20% của cả thế giới) không có chính sách bảo hộ,giá bán trong nước
bằng với giá thị trường thế giới.(Theo COWI-Báo cáo Kiểm tóan chuẩn đoán của các
Công ti mía đường Nhà nước).Giá đường trên thị trường quốc tế luôn thay đổi với biên
độ dao động lớn là một khó khăn của nghành đường.
18
18
Trong 2 năm 2004,2005,do thời tiết không thực sự thuận lợi,sản xuất đường của 1
số nước bị suy giảm như Cuba,Ấn Độ,Trung Quốc,Việt Nam,… nên sản lượng đường
thế giới bị chững lại và tăng chậm,trong khi mức tiêu thụ vẫn tăng đều qua các
năm(Bình quân 10 năm qua vào khoảng 1,71-1,76%/năm).Cung cân đối với cầu,lượng
đường dự trữ giảm,nên giá đường trên thị trường thế giới có xu hướng tăng dần,giá
đường trắng đầu tháng 8/2005 là 294,5 USD/T,đường thô vào khoảng 220 USD/T (Vụ
2004-2005 sản lượng đường thế giới đạt khoảng 145,1 triệu tấn,mức tiêu thụ dự tính là

giá đường của thị trường thế giới. Phần lớn trong số 60 quốc gia sản xuất đường
lớn trên thế giới đều có chính sách trợ giá đường nội tiêu thông qua thuế nhập
khẩu cao và chính sách hạn ngạch thuế quan. Với Việt Nam, những bảo hộ này
không có nhiều, chỉ riêng có hạn ngạch và thuế nhập khẩu thì theo lộ trình hội
nhập AFTA thuế suất nhập khẩu đường sẽ giảm dần từ 30% năm 2007 xuống còn
5% năm 2010. Với việc gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải mở cửa nhập khẩu
trong hạn ngạch là 25% vớI đường thô, ngoài hạn ngạch là 65%, khối lượng nhập
khẩu trong hạn ngạch còn tăng 5% mỗi năm.
4.4.Giá thị trường(trong nước và quốc tế)
Giá đường thị trường thế giới, cho đến nay, không thực sự phản ánh quan hệ cân
bằng cung cầu mà chịu tác động bởi chính sách trợ cấp sản xuất trực tiếp hay gián
tiếp của nhiều nước, nhất là các nước EU trong 40 năm qua luôn duy trì giá đường
cao gấp 4 lần so với giá đường trung bình trên thế giới (tháng 8/2005 là 631,9
Euro, tương tương 764,1 USD) đã bóp mép thị trường đường của các nước đang
phát triển. Việt Nam cũng không nằm ngoài chịu sự tác động này.
II.Thực trạng hoạt động Đầu tư phát triển sản xuất nghành mía đường ở
Việt Nam trong thời gian qua.
1.Vốn và cơ cấu nguồn vốn.
1.1.Quy mô và tốc độ tăng vốn trong hoạt động đầu tư phát triển nghành mía đường ỏ
nước ta trong thời gian qua.
20
20
Từ năm 2002, cả nước đã xây dựng 44 nhà máy đường, tổng công suất thiết kế là
82.950 tấn mía/ngày. Tổng số vốn đầu tư, mở rộng, xây dựng mới các nhà máy lên tới
10.050 tỉ đồng, trong đó có hơn 6.677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3.372 tỉ đồng xây lắp. Tổng
sản lượng đường đạt trên một triệu tấn.
Hơn nữa,ta biệt rằng nghành công nghiệp chế biến đường đòi hỏi một số vốn đầu tư
lớn.Đầu tư cho 1 tấn công suất là 130 triệu đông,tương đương với gần 9000 USD/tấn
công suất(Tức TMN).Mặc dù vậy,đây là mức khá thấp so với mức đầu tư trung bình của
thế giới (là từ 10.000-14.000 USD/TMN).Riêng tại Thái LAn,mức đầu tư bình quân chỉ

trả nợ.
Hiện nay, do đường sản xuất ra giá thành cao nên ứ đọng, tiêu thụ chậm và không xuất
khẩu được. Do vậy, không tiếp tục xây dựng thêm nhà máy mới và mở rộng nhà máy cũ.
Ở những nơi nông dân đang trồng mía cung cấp đủ cho nhà máy hiện có, thì không mở
rộng thêm diện tích và có thể có một số diện tích trồng mía phải chuyển hướng sản xuất,
các Ủy ban nhân dân địa phương giúp nhân dân nơi đó chọn cơ cấu cây trồng phù hợp để
bảo đảm thu nhập cho nông dân.
Trên cơ sở các dự án vùng nguyên liệu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ngoài vốn
tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước cho vay để trồng mía, Ủy ban nhân dân các tỉnh
thực hiện lồng ghép các chương trình trên địa bàn, tạo thêm nguồn vốn hỗ trợ cho người
trồng mía.
Ta biết,”chương trình 1 triệu tấn đường” trước đây là 1 chương trình kinh tế của Chính
phủ,nó đã tiêu tốn hàng nghìn tỉ đồng vốn đầu tư,cụ thể là khoảng hơn 10.000 tỷ đồng
cho mục tiêu sản xuất được 1 triệu tấn đường/năm.Từ sau khi thực hiện chường trình
mía đường và đạt được kết quả tốt đẹp,tính đến niên vụ 2002/2003,nói chung,hàng
năm,không có thêm nhiều nhà máy đường mọc lên,vốn đầu tư tăng thêm là do chi phí
cho đầu tư mở rộng sản xuất và chi phí cho nâng cấp nhà máy,thiêt bị máy móc,vùng
nguyên liệu phục vụ sản xuất mía.
22
22
Tính đến niên vụ 2002/2003,tổng vốn đầu tư cho mở rộng và xây dựng các nhà máy
mới kể từ 1995 lên tới 10.050 tỷ đồng (tương đương với 700 triệu USD),không kể vốn
đầu tư cho các vùng nguyên liệu,trong đó vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 470 triệu
USD,chiếm 67% tổng số vốn đầu tư.Riêng vốn vay mua thiết bị của Trung Quốc là
khoảng 76,5 triệu USD,chiếm 11% tổng số vốn đầu tư.Toàn bộ nguồn vốn đầu tư cho
các nhà máy là vốn vay trong nước và vốn vay từ nước ngoài.
Còn tính đến hết năm 2006,toàn bộ nghành mía đường đã thu hút được vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài,tổng vốn liên doanh là khoảng 330 triệu USD.Còn lại đi vay là
khoảng 263 triệu USD.Trong đó,vốn vay từ ADB là 40 triệu USD,Ấn Độ là 9,4 triệu
USD,Pháp là 59 triệu USD,Tây Ban Nha là 12 triệu USD,Úc là 45,4 triệu USD,Trung

Trung Bộ có 6 nhà máy đường (NMĐ) công ngiệp được phân bố 2 tỉnh Thanh Hoá và
Nghệ An : đó là Nam Sơn ,Việt –Đài và Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá ) Nghệ An Tate
&Lyle , Sông Con và Sông Lam( tỉnh Nghệ An ) tổng công suất thiét của 6 NMĐ là
21250 TMN trong đó tổng công suất của 3 NMĐ Lam Sơn,Việt –Đài và Nghệ An Tate
&Lyle là 18000TMN chiếm 84,7% diện tích mía đứng quy hoạch cần có là 58445 ha và
sản lượng mía theo yêu cầu là 3,19 triệu tấn , vùng mía đường Thanh Hoá,Nghệ An là
một trong 3 trung tâm mía lớn của việt nam chiếm tới 26,0 % CSTK của cả nước .
Kết quả phân loại vùng mía nguyên liệu của các nhà máy đường cho thấy :
+ Nhóm các NMĐ có vùng nguyên liệu đủ đát trồng mía , nguyên liệu và khả năng
mở rộng CSTK của nhà máy là : Lam Sơn và Nghệ An Tate &Lyle .
+ Nhóm NMĐcó vùng mía nguyên liệu tương đố ổn định đất trồng mía và sản lượng
mía cho chế biến là NMĐ Nông công và Sông con .
+ Nhóm các NMĐ có vùng mía nguyên liệu còn khó khăn do đất trồng mía phân tán ,
thiếu đất và bị cạnh tranh với cây trồng khác là : Việt –Đài và Sông Lam .
2.1.3 .Đầu tư phát triển mía nguyên liệu của các NMĐ vùng DHNTB
Vùng DHNTB có 10 nhà máy đường là Quảng Nam , Quảng Phú (Quảng Ngãi ) Phổ
Phong ( Quảng Ngải) , Bình Định KCP( Phú Yên) Tuy Hoà ( Phú Yên) , Ninh Hoà
( Khánh Hoà ) Cam Ranh ( Khánh Hoà ) , Phan Rang ( Ninh Thuận ) và Bình Thuận
.Tổng CSTK là 18850 TMN diện tích mía đường cần có là 54122 ha , nhu cầu mía
nguyên liệu là 2,83 triệu tấn . Đây là vùng có tiềm năng sản xuất mía cho chế biến và
có số nhà máy chiếm 1/4 của cả nước .
Kết quả phân loại nguyên liệu của các NMĐ cho thấy :
24
24
+ Nhóm các NMĐ có vùng mía nguyên liệu đủ đất , đủ nguyên liệu cho chế biến là
KCP – Phú Yên .
+ Nhóm các NMĐ có vùng mía nguyên liệu đất trồng mía không quá thiếu nhưng
phán tán ,mía nguyên liệu thấp và mía cung cấp không ổn định cho nhà máy là : Quảng
Phú , Phổ Phong , Bình Định , Tuy Hoà ,Ninh Hoà và Phan Rang . + Nhóm các NMĐ
hạn chế về đất trồng mía và gặp rất nhiều khó khăn về đáp ứng mía nguyên liệu cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status