ĐỀ TÀI:
CỔ PHẨN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DNNN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Cổ phần hóa
1.1.2. Cổ phần hoá DNNN
1.1.3. Công ty cổ phần
- Khái niệm
- Đặc điểm
- Hình thức hoạt động
1.1.4.Các công việc phải làm để thực hiện cổ phần hóa DNNN
1.2. Tính tất yếu của cổ phần hóa DNNN
1.2.1. Yêu cầu đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
1.2.2. Yêu cầu mọi doanh nghiệp đều hoạt động theo một luật chung thống nhất
1.2.3. Các ưu điểm cơ bản của loại hình công ty cổ phần
1.2.4. Hiệu quả hoạt động của DNNN
1.3. Các kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số quốc gia trên thế giới
1.3.1. Cổ phần hóa ở Trung Quốc
1.3.1.1. Tình hình cổ phần hóa ở Trung Quốc
- Giai đoạn thứ nhất 1984 – 1991
- Giai đoạn thứ hai 1992 – nay
1.3.1.2. Những đặc trưng cơ bản của cổ phần hóa và cải cách doanh nghiệp ở
Trung Quốc
1
- Minh bạch giữa các quyền sở hữu pháp nhân, quyền sở hữu cổ phần và quyền
kinh doanh
- Chế độ trách nhiệm hữu hạn, tức là trách nhiệm của cổ đông đối với doanh
a) Thúc đẩy việc hoàn thiện các yếu tố khách quan cần thiết cho tiến trình cổ
phần hóa
b) Phát triển và hoàn thiện các yếu tố của kinh tế thị trường
c) Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách, tạo khung khổ
pháp lí thuận lợi cho việc cổ phần hóa DNNN
d) Tăng cường công tác chỉ đạo và nâng cao năng lực quản lý đối với quá trình
cổ phần hóa
e)Phát triển tốt thị trường chứng khoán,thị truờng tài chính là đông lực thúc đẩy
cổ phần hoá
f)Các chính sách thu hút đầu tư,tỉ lệ nắm giữ cổ phàn của nhà đầu tư nước ngoài
2.3.3.2. Doanh nghiệp
a) Nâng cao công tác tuyên truyền cho cán bộ công nhân viên về sự cần thiết cổ
phần hóa DNNN
b) Đẩy nhanh tiến độ xác định giá trị của các DN và bán cổ phần. Hạn chế và
khắc phục việc bán cổ phần khép kín trong nội bộ DN và chống thất thoát tài sản
của Nhà nước
c) Tăng cường quản trị công ty cổ phần để thực sự đưa công ty sau cổ phần hóa
hoạt động trong môi trường bình đẳng với các DN khác
d) Tăng cường chỉ đạo cổ phần hóa trong toàn bộ Tổng công ty
e) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát quá trình cổ phần hóa
f)Tăng cường tính minh bạch trong công bố thông tin về doanh nghiệp
3
g)Phát triển đội ngũ quản trị năng động phù hợp với sự mở rộng của thị trường
trong nước
h)Chiến lược phát triển rõ ràng
LỜI KẾT LUẬN
Danh mục tài liệu tham khảo
4
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta có chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA VỀ DNNN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1.cổ phần hoá
Là quá trình chuyển quyền sở hữu của tài sản hoặc các hoạt động kinh doanh từ
Nhà nước sang cho một thực thể do tư nhân hoặc tổ chức sở hữu.
1.1.2 Cổ phần hoá DNNN
Là quá trình chuyển 1 phần hoặc toàn bộ phần vốn của nhà nước cho cá nhân,
tổ chức, đồng thời chia nhỏ phần vốn của công ty thành nhiều phần bằng nhau
nhằm thay đổi hình thức sở hữu của công ty từ một chủ sở hữu thành nhiều chủ
sở hữu
1.1.3 Công ty cổ phần
- Khái niệm
Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau
gọi là công ty cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân với số lượng tối
thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
- Đặc điểm
Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản băng
khoản vốn mình đã góp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của
mình cho người khác. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và có quyền phát
hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn.
- Hình thức hoạt động
Công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu ,mỗi chủ sơ hữu chỉ chịu trách nhiệm cao
nhất bằng phần vốn góp của mình. Bằng cách phát hành cổ phiếu, CTCP có thể
thay đổi và tăng số chủ sở hữu trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trong
côngh ty cổ phấn quyền sở hữu và quyền kinh doanh được tách biệt khá rõ ràng,
hơn nữa CTCP còn được giám sát thường xuyên và có hiệu quả bởi thị trường
chứng khoán và cơ chế hoạt động bên trong của nó.
7
1.1.4.Các công việc phải làm để thực hiện cổ phần hóa DNNN
Xác định giá trị của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa sẽ hoạt động theo Luật doanh nghiệp
và đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Trong thời hạn 7 ngày kể từ khi
nhận đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh cho công ty cổ phần.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm:
Quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần của cấp
có thẩm quyền ;
Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần đã được Đại hội cổ đông
thông qua
Biên bản bầu Hội đồng quản trị và cử Giám đốc điều hành;
Giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần
hóa (nếu có).
Sau khi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp, doanh nghiệp cổ
phần vẫn phải tiến hành các thủ tục sau giấy phép theo đúng các quy định của
Luật doanh nghiệp.
1.2. Tính tất yếu của cổ phần hoá DNNN
Thực hiện CPH là một nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng trong quá trình
đổi mới kinh tế ở Việt Nam, CPH sẽ giải quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất: Thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất. CPH góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hoá các
hình thức sở hữu. Trước đây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công
9
hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ
sản xuất này không phù hợp với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu.
Vì vậy CPH sẽ giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuất
phát triển.
Thứ hai: Thực hiện CPH nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất, thu hút
thêm nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện CPH , người lao động sẽ gắn bó , có
trách nhiệm với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự của doanh
Bên cạnh đó sự ra đời của các Công ty cổ phần là một bước tiến cuả lực
lượng sản xuất. Chúng đã biến những người sở hữu tư bản (với những đặc điểm
cổ điển của nó) thành những người sở hữu thuần tuý, một mặt chỉ đơn giải điều
khiển và quản lý tư bản của người khác, mặt khác là những nhà tư bản - tiền tệ
thuần tuý (cả tiền công lao động của người điều khiển cộng với lợi nhuận doanh
nghiệp về tay nhà tư bản, cổ phần thu về dưới dạng lợi tức). Quyền sở hữu tư bản
hoàn toàn tách rời với chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế.
Sự ra đới của các công ty cổ phần làm cho quy mô sản xuất được tăng lên,
mở rộng một cách to lớn, đến nỗi những nhà tư bản riêng lẻ không thể làm nổi.
Xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở ngay
trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thủ
tiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở ngay trong lòng phương thức tư
bản chủ nghĩa. Xuất hiện mâu thuẫn tự nó lại thủ tiêu nó.
Các Công ty cổ phẩn là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của
quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản những
chức năng của người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội và
11
trở thành những nhà máy hợp tác, đến một giai đoạn phát triển nhất định lực
lượng sản xuất sẽ làm cho "Một phương thức sản xuất mới nảy ra và phát triển
trên cơ sở một phương thức sản xuất cũ".
Công ty cổ phần là sản xuất tư nhân không có sự kiểm soát của quyền sở
hữu tư nhân. Những tư liệu sản xuất này sẽ không còn làm tư liệu và sản phẩm
của nền sản xuất tư nhân nữa, mà sẽ chỉ có thể làm tư liệu sản xuất trong tay
những người sản xuất liên hiệp, tức là chỉ có thể làm sở hữu xã hội của họ, cũng
như chúng là sản xuất xã hội của họ.
Chính bản thân những nhà máy hợp tác của công nhân là một Lỗ thủng
đầu tiên trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sự đối kháng giữa lao động và
tư bản đã được xoá bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dù ban đầu
nó chỉ được xoá bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành những
nhà tư bản với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ "có thể dùng tư liệu sản
Giai đoạn thứ hai 1992 – nay:
Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí
điểm cổ phần hóa.
Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển
thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ
phần hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ
phần đạt 358 tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ
NDT là giá trị cổ phần phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốn
đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Từ năm 1993 đến nay, kết quả đạt được trong giai đoạn thí điểm CPH cho
thấy, doanh nghiệp hoạt động theo các quy luật kinh tế cơ bản là cách đi đúng
đắn và hợp quy luật, Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa DNNN một cách sâu
13
rộng bằng cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bản
pháp quy liên quan đến sự vận hành của DN. Lần lựợt “Luật phá sản doanh
nghiêp”, “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Điều
lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ
sở hữu toàn dân”, “Các nguyên tắc tài chính doanh nghiệp”, “Điều lệ tạm thời về
quản lý phát hành và giao dịch cổ phiếu, “Luật Lao động”, “Luật Công ty”,
“Điều lệ quản lý đăng ký công ty”, “Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”,
“Luật ngân hàng thương nghiệp”, “Luật xí nghiệp hương trấn”…, đã được ban
hành và đi vào cuộc sống của doanh nghiệp. Trong đó, hai văn bản có tầm quan
trọng đặc biệt là “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”
và “Luật Công ty. “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn
dân” được thông qua ngày 13/4/1998, đã quy định cụ thể về các quyền lợi của
DNNN như: Cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu cầu của thị
trường; có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có quyền từ
chối các nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự tiêu
thụ sản phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng… Có thể thấy, “Luật
Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” đã đem lại cho các
1.3.1.2. Những đặc trưng cơ bản của cổ phần hóa và cải cách doanh
nghiệp ở Trung Quốc
-Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp
-Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội
-Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh
nghiệp
-Minh bạch giữa các quyền sở hữu pháp nhân, quyền sở hữu cổ phần và
quyền kinh doanh
15
-Chế độ trách nhiệm hữu hạn, tức là trách nhiệm của cổ đông đối với
doanh nghiệp là giới hạn theo mức vốn đầu tư
-Mang tính xã hội hóa, thị trường hóa, tiền tệ hóa và chứng khoán hóa
quyền sở hữu
-Từ tiến trình cổ phần hóa ở trung quốc ta thấy viêt nam cần đẩy mạnh hơn
nữa quá trình cổ phần hóa.Chỉ mới trong vòng hơn 20 năm mà quy mô vốn hóa
của thị trường trung quốc đã khá lớn và tốc độ cổ phần hóa cao.Có thể nói chúng
ta bây giờ có điều kiện khá giống so với trung quốc nên chúng ta có thể học một
số kinh nghiệm của họ.
PHẦN II: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ
TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng các DNNN Việt Nam
16