-
1
-Luận văn
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CÔNG
TÁC THỰC HIỆN CHIẾN
LƯỢC Ở CÔNG TY VẬT
LIỆU ĐIỆN VÀ DỤNG CỤ
CƠ KHÍ. -
2
-
Phần một
TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG
TY VẬT LIỆU ĐIỆN VÀ DỤNG CỤ CƠ KHÍ
I. Tóm tắt một số nét cơ bản
Tên đầy đủ : Công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí
Tên tiếng anh : Electrical Material and Mechanical Instrucment Corporation
Tên giao dịch : ELMACO
Trụ sở chính :240-242 Tôn Đức Thắng-Đống Đa – Hà Nội
I. Quá trình hình thành và phát triển công ty:
Vật liệu điện và dụng cụ cơ khí là tên gọi hai nhóm hàng và cũng là tên gọi
chính thức của công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí hiện nay.Trước năm 1965,
các mặt hàng quan trọng đều do công ty đảm nhiệm, cung ứng, thoả mãn nhu cầu
đúng như tên gọi hiện nay.
Năm 1993, theo nghị định 388/HĐBT, công ty được thành lập lại theo quyết
định số 613/TM-TCCB ngày 28/5/1993 của bộ trưởng bộ Thương Mại và đến năm
1994, công ty chính thức trực thuộc bộ Thương Mại.
Từ năm 1989 do quan hệ giao dịch quốc tế ngày càng tăng, công ty bắt đầu sử
dụng tên giao dịch viết tắt là ELMACO và từ đó đến nay, thương hiệu và biểu
tượng ELMACO đã trở thành quen thuộc với khách hàng trong và ngoài nước.
30 năm không chỉ một chặng đường, với nhiều sự thành công, phát triển cũng
như suy giảm nhưng ELMACO vẫn đứng vững và phát triển cho đến ngày nay
chính là nhờ vào lớp lớp cán bộ công nhân viên đã làm việc hết sức khoa học và
sáng tạo, trong suốt thời gian dài phấn đấu không mệt mỏi để nghiên cứu, tìm
tòi,phát huy thế mạnh vốn có và hạn chế những yếu kém. Điều này đã giúp công ty
vững bước đi trên con đường công nghiệp hoá-hiện đại hoá ngày nay.
-
4
-
Hiện nay, ngoài trụ sở chính đặt ở 240-Tôn Đức Thắng, công ty còn có 2 nhà
máy trực tiếp sản xuất và chế tạo được đặt tại Quận Long Biên, cùng rất nhiều các
chi nhánh ở TPHCM, Quảng Trị,Thái Nguyên, Quảng Ninh…,Ngoài ra ELMACO
còn thiết lập mối quan hệ bạn hàng với các doanh nghiệp nước ngoài như Trung
Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin,….
2. Chức năng-nhiệm vụ và quyền hạn của công ty
Chức năng của công ty:
Là một doanh nghiệp Nhà nước được phân công tổ chức kinh doanh ngành hàng
Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí, các loại vật tư thiết bị tổng hợp phục vụ sản xuất
tiêu dùng và xuất khẩu công ty có những chức năng sau:
- Kinh doanh các loại vật tư, hàng hoá thuộc ngàng vật liệu điện và dụng cụ cơ khí.
- Trực tiếp xuất khẩu các loại hàng hoá phục vụ cho sản xuất tiêu dùng và các nhu
cầu khác, đồng thời nhận uỷ thác xuất khẩu các loại vật tư, hàng hoá thuộc phạm vi
- Ngoài ra, để đáp ứng cho nhu cầu ngày một phát triển của xã hội, công ty còn mở
và đăng ký thêm một số ngành nghề kinh doanh mới như cung cấp và trực tiếp sản
xuất các loại dây cáp điện từ và hệ thống cáp quang truyền số liệu. Ngoài những
mặt hàng là thế mạnh của công ty thì đây là bước phát triển vượt bậc, đột phá mới
nhất trong một vài năm qua của công ty.
Quyền hạn của công ty
- Được quyền chủ động trong việc giao dịch đàm phán ký kết và tổ chức thực hiện
các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua, hợp đồng bán và hợp đồng liên doanh liên
kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước đảm bảo đúng chính sách của
ngành và của Nhà nước.
- Được quyền huy động vốn ở các tổ chức, cá nhân trong nước. Đựơc quyền hợp
tác đầu tư sản xuất kinh doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo
đúng luật của Nhà nước hiện hành và hướng dẫn của Tổng công ty.
- Được tham gia các cuộc hội nghị, hội thảo chuyên đề có liên quan đến kinh
doanh tại thị trường trong nước và quốc tế.
-
6
-
- Được chủ động trong việc tổ chức mạng lưới kinh doanh theo sự phân công của
tổng công ty cho phù hợp, đảm bảo kinh doanh có lãi và chiếm lĩnh thị trường của
ngành hàng.
- Được quyền tuyển dụng và cho thôi việc đối với cán bộ công nhân viên trong
công ty theo đúng chế độ chính sách.
- Được quyền quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng bổ nhiệm và miễn nhiệm các cán bộ
cấp trưởng phòng, giám đốc xí nghiệp trong công ty. Đồng thời đề nghị lên tổng
công ty và bộ bổ nhiệm chức phó giám đốc và giám đốc công ty.
- Căn cứ vào quy chế và khả năng kinh doanh, công ty được phép cử cán bộ đi
nước ngoài và được mời khách nước ngoài vào Việt nam để tìm hiểu, đàm phán ký
kết hợp đồng kinh tế phục vụ kinh doanh của công ty, thực hiện chính sách của
khẩu; xí nghiệp kinh doanh vật tư cơ điện,xí nghiệp thiết bị truyền tải điện, xí
nghiệp kinh doanh kim khí) và một nhà máy sản xuất dây và cáp điện.
- Phó giám đốc 2: Chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của 11 đơn
vị,bao gồm: 4 xí nghiệp kinh doanh (Xí nghiệp kinh doanh thiết bị và dụng cụ đo
lường; xí nghiệp kinh doanh điên dân dụng; xí nghiệp kho vận và dịch vụ; xí
nghiệp kinh doanh tổng hợp) 1 nhà máy cơ điện và 6 chi nhánh tại TPHCM; Đà
Nẵng; Quảng trị; Hà nam; Thái Nguyên và Quảng Ninh.
Nhiệm vụ của các phòng ban:
- Phòng Kế hoạch và đầu tư: Trên cơ sở các số liệu của phòng Tài chính kế toán
cung cấp và căn cứ kế hoạch của các đơn vị trực thuộc và các phòng kinh
doanh,chi nhánh gửi lên để lập kế hoạch tổng hợp giúp ban giám đốc có kế hoạch
chỉ đạo chung hợp lý.Đó là những kế hoạch về sản xuất, về xuất nhập khẩu, về mặt
hàng,về thị trường…,để thực hiện mục tiêu và chiến lược của công ty đề ra.
- Phòng Tài chính kế toán: Có nhiệm vụ ghi chép và theo dõi tình hình tài chính
của công ty,lập báo cáo tài chính, xây dựng kế hoạch tài chính và cung cấp thông
tin về tài chính cho ban giám đốc.Thực hiện các kế hoạch chi trong nội bộ và bên
ngoài công ty về các khoản vay nợ cũng như thạnh toán hợp đồng.
-
8
-
- Phòng Tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức lực lượng lao động,
tuyển dụng, đào tạo cán bộ, giải quyết các chế độ chính sách về tiền lương,bảo
hiểm xã hội cho người lao động.Đồng thời tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các đơn thư khiếu nại và đề xuất biện
pháp xử lý lên giám đốc.
- Hệ thống các xí nghiệp kinh doanh, các nhà máy sản xuất và các chi nhánh của
công ty,tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo lệnh và các
quyết định của giám đốc. Đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của các phó giám
đốc.
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
Chênh lệch 2001/2000 2002/2001
Số tiền
% Số tiền %
Giá tị
tổng
sản
lượng
14.466
16.600
28.000
2134
14.75
11.400
Chênh lệch
2001/2000 2002/2001
Số tiền % Số tiến %
Tổng DT 148.789 244.997 323.710 96208 64,67 78713 32,12
DT nội bộ 5424,1 6490,5 228.863 1066,3 19,66 222372 3426
DT xuất khẩu 780,2 3776,7 14764,7 2996,5 384,1 10987,9 290,9
DT thuần 148568,3 244805,5 321904,1 96237,2 64,78 77098,6 31,19
Thu nhập TC 935.3 1507,5 1083 572,2 61,18 -424,5 -28,16
Thu nhập BT 143,4 19,3 1273,8 -124.2 -86,5 1254.5 6493,8
Nguồn: Báo cáo tiêu thụ lỗ, lãi-Phòng Tài chính kế toán
Qua số liệu trên ta thấy tổng doanh thu của công ty ELMACO tăng đều qua các
năm. Đặc biệt năm 2002 doanh thu nội bộ và doanh thu xuất khẩu đều tăng nhanh
rất nhiều so với năm 2001 và 2001, cụ thể năm 2002 doanh thu nội bộ của công ty
tăng 3426% so với năm 2001,tương ứng với số tuyệt đối là 222.372 triệu đồng,
doanh thu xuất khẩu tăng 290,9%, tương ứng với số tuyệt đối là10.987,9 triệu đồng
so với năm 2001.Điều này chứng tỏ thị phần của công ty ngày càng được mở rộng,
sản phẩm chính của công ty có sức cạnh tranh cao và ngày càng đứng vững trên thị
trường trong và ngoài nước.
Tổng doanh thu tăng dẫn đến doanh thu thuần cũng tăng cả về số tương đối lẫn
tuyệt đối. Nhưng so sánh giữa số tương đối của tổng doanh thu và doanh thu thuần
giữa năm 2002 với 2001 thì tốc độ tăng của doanh thu thuần lại thấp hơn tổng
doanh thu. Nguyên nhân chính là do khâu quản lý tiêu thụ sản phẩm còn lỏng lẻo,
mặt khác là do giá cả hàng hoá lên xuống thất thường…
Các khoản thu nhập tài chính và thu nhập bất thường không phải là lĩnh vực mà
công ty chú trọng. Cho nên sự biến động của hai khoản thu nhập này là rất lớn,mặc
dù vậy sự biến động của hai khoản thu nhập này không làm ảnh hưởng nhiều đến
tổng doanh thu của công ty.
Lãi thuần KD -1659,4 5513,8 4907,6 7173,2 432,3 -606,2 -11
Lãi HĐ TC 931,6 -4825,8 -907 -5757,4 -618 -1081,3 -22,41
Lãi HĐ BT 18,8 21,7 1263,5 2,9 15,75 1241,8 57,17
Tổng lãi 709 71 264,1 1418,8 200 -445,7 62,8
Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh; Phòng: Kinh doanh tổng hợp
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng doanh thu và lãi gộp của công ty đều tăng cả
về số tương đối lẫn tuyệt đối. Nhưng trong cơ cấu tổng lãi của công ty thì lãi thuần
từ hoạt động kinh doanh là bộ phận quan trong nhất,năm 2001,lãI thuần từ hoạt
động kinh doanh tăng 432,3% so với năm 2000, so với số tuyệt đối tăng 7173,2
-
12
-
triệu đồng,nhưng đến năm 2002 lãi thuần từ hoạt động kinh doanh lại giảm 11% so
với năm 2001, tuơng ứng với số tuyệt đối giảm 606,2 triệu đồng. Bên cạnh đó mức
biến động của bộ phận lãi hoạt động tài chính và lãi hoạt động bất thường lại tăng,
giảm không đều đặn giữa các năm làm ảnh huởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nếu ta đem so sánh giữa tổng doanh thu và tổng lãi thì ta thấy tổng doanh thu của
năm 2002 cao hơn tổng doanh thu của năm 2001 nhưng tổng lãi lại thấp hơn (cụ
thể, tổng lãi năm 2002 giảm 62,8% so với năm 2001,tương ứng với số tuyệt đối
giảm 445,7 triệu đồng). Điều này chứng tỏ không phải lúc nào lợi nhuận cũng vận
động cùng chiều với doanh thu và như vậy nếu không tìm ra biện pháp cải thiện
tình hình giá thành thì rất có thể công ty sẽ gặp phải những khó khăn.
Doanh thu tăng theo số liệu của các năm thì điều này cũng đồng nghĩa với việc
mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh nên vấn đề về chi phí cho nó là
không thể tránh khỏi. Lúc này nảy sinh nhiều câu hỏi như việc công ty tìm nguồn
chi phí bổ sung thêm như thế nào? ở đâu ra? phân phối, quản lý và sử dụng nó như
thế nào?
Báo cáo tài chính của công ty hàng năm đều nêu rõ nguồn vốn chủ yếu cho hoạt
Chi phí kh
ấu hao TSCĐ
1.010.889.197
Chi phí d
ịch vụ mua ngo
ài
300.403.608
Chi phí khác b
ằng tiền
1.980.787.170
T
ổng cộng
39.669.884.123
Nguồn: Phòng Tài chính kế toán
3. Tình hình nộp ngân sách Nhà nước.
Bảng Tình hình nộp ngân sách của ELMACO một số năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
Ch
ỉ ti
êu
Th
51.2
49.6
Thu
ế khác
215.4
183.0
230.3
T
ổng nộp
21.787
22.000
22.416
Nguồn: phòng Tài chính kế toán
Sau những giai đoạn đầy rẫy những khó khăn, trở ngại, ELMACO đã tự nhận
thức được rằng họ phải làm thế nào để vượt qua bằng chính năng lực thực sự của
mình, bằng sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong doanh
nghiệp, từ năm 2000 trở đi hoạt động sản xuất kinh doanh đã bắt đầu trở lại thế
phát triển, biểu hiện qua mức thực nộp ngân sách trung bình hàng năm là 22
%
S
ố tiền
%
DT c
ủa
công ty
148.789
244.997
323.710
96.207
64.66
78.713
32.12
DT th
ị
trường
801.680
867.870
tăng,tuy nhiên,tốc độ tăng doanh thu của công ty cao hơn tốc độ tăng doanh thu
của thị trường,do đó thị phần của công ty ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Nếu phân chia tình hình hoạt động của công ty theo từng khu vực thị trường cụ
thể thì thấy rằng doanh thu tại những thị trường này đều tăng hàng năm. Mỗi một
khu vực thị trường đều đóng góp quan trọng cho thành tích chung của công ty là
thị phần của ELMACO vẫn đang tiếp tục gia tăng trong lúc doanh thu thị trường
chung cũng trong giai đoạn khả quan.
5. Lĩnh vực thị trường
Khi nói đến lĩnh vực thị trường cần phải hiểu rõ là bao gồm cả hoạt động mua
và hoạt động bán. Hoạt động mua, được hiểu là quá trình tìm kiếm các nguồn đầu
vào cho hoạt động sản xuất hoặc đơn giản chỉ là hoạt động mua để bán.Với
-
15
-
ELMACO, trong hoạt động này nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa tức là công ty vừa mua
các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất vừa mua chỉ để bán đều có thể diễn ra trên
cả hai thị trường TLSX lẫn TLTD.
Trong ELMACO thương mại được coi là hoạt động kinh doanh chính, hiểu đơn
thuần chỉ là hoạt động mua vào để bán ra nhằm thu một khoản chênh lệch mà
người ta gọi nó là lợi nhuận.
Nói đến thị trường có thể chia ra làm 2 loại: Thị trường đầu vào và thị trường
đầu ra.Thị trường đầu vào của ELMACO chủ yếu thông qua con đường nhập khẩu,
bởi vì hàng năm có tới 60% đến 70% hàng hoá được nhập khẩu trên tổng hàng hoá
mà công ty có được. Ngoài ra, do đặc điểm là một doanh nghiệp thương mại mang
tính chất công nghiệp, nghĩa là có trực tiếp sản xuất, chế biến một số sản phẩm, do
đó ELMACO còn sử dụng các nguồn đầu vào một số địa phương trong nước chủ
yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất.
Song,thị trường đầu vào chủ yếu của ELMACO là thị trường ngoài nước, nhiều
điều phức tạp hơn. Công ty cần phải nghiên cứu kỹ thị trường về phương thức
trụ sở 240-Tôn Đức Thắng có nhiệm vụ tổ chức kinh doanh các mặt hàng chủ yếu
của ELMACO, ngoài việc tổ chức tiếp thị để cung cấp đến thẳng tay khách hàng
và bán buôn là chủ yếu, trung tâm còn tổ chức một số quầy hàng giới thiệu và bán
lẻ một số mặt hàng mang tính chất tiêu dùng nhỏ lẻ….
Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của công ty là:Sản phẩm cáp điện,Sản
phẩm dây điện từ, Sản phẩm carton cách điện, Sản phẩm đồng, Nhôm, kẽm, Sản
phẩm lốp ô tô, Sản phẩm que hàn và lưỡi cưa vòng…
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty: Cao su tự nhiên; Quặng rutile;
Tùng hương; Quặng sắt; Nhựa thông; Quặng kẽm…
Sản phẩm của công ty là sản phẩm đồng nhất, do đó bị cạnh tranh gay gắt cả thị
trường trong và ngoài nước.Như vậy để sản phẩm của mình có thể trụ vững và
cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước thì nhất định họ phải có một
chiến lựơc thật cụ thể cùng với những sản phẩm có chất lượng mang tính cạnh
-
17
-
tranh cao, có được như vậy thì những sản phẩm của công ty mới thực sự đi sâu vào
thị trường, đến tay người tiêu dùng một cách tốt nhất. Phần hai
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC Ở
CÔNG TY VẬT LIỆU ĐIỆN VÀ DỤNG CỤ CƠ KHÍ.
1. Nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối với ELMACO, chưa khi nào nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp và vốn
tự bổ xung có thể đủ để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà quy mô hoạt động của công ty tăng trưởng
không ngừng và đang quyết tâm thực hiện mô hình kinh doanh”lợi nhuận chuyên
động của nó trong một thời kỳ nhất định cho phép chúng ta đánh giá được quy mô
và cơ cấu tài sản.Trong cơ cấu tài sản của ELMACO, tài sản lưu động luôn chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh khoảng trên 70%, nó phản ánh chức
năng kinh doanh chính là kinh doanh thương mại của công ty Vật liệu điện và
Dụng cụ cơ khí. Nhu cầu lớn về tài sản lưu động cũng chính là một lý do chính dẫn
đến nhu cầu nguồn vay ngắn hạn cao mà ta đã đề cặp đến ở phần trước.
Trong bảng về tình hình tăng giảm về vốn và nguồn vốn thấy rõ nhu cầu về tài
sản lưu động qua các năm tăng lên là hoàn toàn phù hợp với mục đích của công ty
theo xu hướng mở rộng quy mô hoạt động. Tuy nhiên cơ cấu của tài sản lưu động
lại tỏ ra chưa hợp lý, lượng tiền mặt chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản,
trong khi đó các khoản phải thu là hàng tồn kho chiếm một tỷ lệ lớn và có xu
hướng tăng lên.Thực tế này dẫn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty
bị giảm sút, trong khi nguồn vốn vay ngắn hạn càng tăng. Song sở dĩ các khoản
phải thu của khách hàng từ năm 2000 đến năm 2002 đều tăng là do đặc điểm hàng
-
19
-
hoá tiêu thụ của công ty chủ yếu vào thầu các công trình xây dựng, cải tạo hệ thống
điện, công trình xây lắp và các dự án, cho nên hàng hoá kinh doanh hoạt động của
công ty thường sau khi hoàn tất giao hàng, cơ bản nghiệm thu mới được thanh toán
tiền hàng (thể hiện trong hợp đồng kinh tế), đồng thời đa số các nhà máy, xí nghiệp
là bạn hàng truyền thống của công ty, thường xuyên mua vật tư là nguyên liệu cho
đầu vào của sản xuất thực hiện nhận hàng kỳ sau thanh toán tiền hàng kỳ trước tạo
thành công nợ luân chuyển nên công nợ phải thu của công ty cao. Đặc điểm này
cùng với việc quy mô hoạt động tăng trưởng không ngừng nên dễ hiểu vì sao các
khoản phải thu tăng theo thời gian.
Như nếu đem toàn bộ số công nợ phải thu tính trên đầu mỗi đơn vị (công ty có
tổng cộng 26 đơn vị nằm tại các tỉnh và thành phố lớn) thì con số này không cao.
Hơn nữa,hầu hết các khoản công nợ này đều được bảo đảm bằng tài sản và hợp
30.541,0
Vòng quay v
ốn l
ưu đ
ộng
3,512
3,592
0.08
S
ố ng
ày m
ột v
òng quay
vố lưu động
102,51
100,22Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Đối với ELMACO thì tài sản cố định chỉ là thứ yếu, nhưng nó đóng một vai trò
quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược”phát triển ELMACO thành một tập
đoàn sản xuất-thương mại dịch vụ đa sở hữu”mà công ty đã triển khai từ vài năm
nay.
-
21
-
Năm 2002 cũng là năm ghi nhận sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên
trong công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí trong việc giữ vững, tìm kiếm và mở
rộng thị trường xuất khẩu. Hiện tại, không những chỉ có các bạn hàng ở các nước
Châu á lân cận, công ty đã thiết lập được thêm nhiều bạn hàng mới ở Châu âu,
Nam mỹ,…trong khi thị trường xuất khẩu được mở rộng thì đồng thời cơ cấu các
mặt hàng cũng gia tăng.
Năm 2001 chỉ xuất khẩu trực tiếp được 2 mặt hàng chủ yếu là Cao su tự nhiên
và Tùng hương thì đến năm 2002 có thêm các mặt hàng chủ yếu là Nhựa thông
,Quạt điện,…,tham gia vào các lô hàng xuất bán thu ngoại tệ cho công ty. Chính
điều này đã đóng góp phần không nhỏ vào việc làm tăng doanh thu toàn công ty.
Như vậy, với việc mở rộng thị trường trong và ngoài nước, đồng thời mở rộng mối
quan hệ làm ăn buôn bán với nứơc bạn, ELMACO đã hoàn toàn vững tin vào chính
mình trên con đường cạnh tranh, đáp ứng và cung cấp hàng loạt những sản phẩm
mang tính chất chọn lựa của những khách hàng khó tính nhất với một phương
châm duy nhất đó là”Bán cái thị trường cần chứ không bán thứ ELMACO có”.
4. Nguồn nhân lực
Đây là một chỉ tiêu quan trọng,bởi vì nếu một doanh nghiệp có cơ cấu lao động
không tốt sẽ ảnh hưởng đến việc đề ra các chính sách về lao động, đến kết quả sản
xuất kinh doanh. Do đó muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao,
cần phải hình thành một cơ cấu tối ưu trong các doanh nghiệp. Cơ cấu lao động
được coi là tối ưu khi lực lượng lao động đảm bảo đủ số lượng, ngành nghề, chất
lượng, giới tính và lứa tuổi, đồng thời được phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn, cũng như mối quan hệ công ác giữa các bộ phận và các cá nhân với
nhau đảm bảo mọi người đều có việc làm, mọi khâu, mọi bộ phận đều có người
phụ trách và sự ăn khớp, đồng bộ trong từng đơn vị và trên toàn doanh nghiệp.
)
T
ỷ
lệ(%)
LĐ cao đ
ẳng
117
28,5
119
28,7
120
27,9
Trung h
ọc CN
141
34,4
150
36.1
40
9,3
CNKT chưa đào
tạo
45
10,9
44
16,6
45
10,5
T
ổng lao động
410
100
415
100
chính là thế mạnh và sức mạnh chủ yếu của các công ty có tiếng trên thị trường.
Bảng cơ cấu lao động theo tổ chức lao động
Ch
ỉ ti
êu
Năm 2000
Năm 2001
Năm 2002
SL(ngư
ời)
T
ỷ
lệ(%)
SL(ngư
ời)
T
ỷ
lệ(%)
SL(ngư
ời)
52,5
LĐ gián ti
ếp
60
14,6
62
15
6
7
15,6
LĐ sản xuất
130
31,7
130
51,3
137
5,1
T
ổng lao động
410
100
415
100
429
100
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
-
24
-
Mục tiêu của công ty tiến tới thương mại hoá dịch vụ, số lượng người tham gia
lao động trực tiếp và gián tiếp chiếm phần lớn trong tổng số lao động. Năm
2000,lao động thương mại dịch vụ chiếm 63,8% trong tổng số lao động. Năm
2001,lao động sản xuất có tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 51,3% vẫn ít hơn so với
lao động thương mại dịch vụ. Năm 2002,lao động thương mại chiếm 68,1% trong
tổng số lao động trong năm.
Lực lượng lao động thương mại và sản xuất được bố trí như trên là hợp lý theo
T
ỷ
lệ(%)
Dư
ới 30 tuổi
86
20,9
88
21,2
97
22,6
T
ừ 30
-
40 tu
ổi
135
32,9
136
89
21,7
88
21,2
87
20,3
T
ổng số LĐ
410
100
415
100
429
100
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
T
ỷ
lệ(%)
SL(ngư
ời)
T
ỷ
lệ(%)
SL(ngư
ời)
T
ỷ
lệ(%)
T
ổng lao động
410
100
415
100
429
100
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính
Qua số liệu trên ta thấy lao động nam chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động
của công ty, điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh.Trong
3 năm trở lại đây, số lao động nam, nữ trong công ty thay đổi rất ít, song điều này
không có nghĩa là công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ thuậu lợi hơn. Do công ty có
rất nhiều xí nghiệp và chi nhánh trên các địa bàn các tỉnh rộng khắp trải dọc từ bắc