1 Luận văn
Một số giải pháp và chính sách đối
với vấn đề tôn giáo trong vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh
Đắc Lắc 2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo Tin lành du nhập vào nước ta khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, vào Tây Nguyên từ năm 1929 và vào tỉnh Đác Lắc từ năm 1932.
Từ đó cho đến suốt quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ của dân tộc ta, đạo Tin lành ở Tây Nguyên tồn tại và phát triển
ở mức độ bình thường. Nhưng, từ sau năm 1975, tôn giáo này phát triển
rất mạnh. Đặc biệt, trong những năm gần đây, số người theo đạo Tin lành
ở Tây Nguyên tăng lên gấp nhiều lần so với trước năm 1975.
Sự phát triển của đạo Tin lành ở Tây Nguyên nói chung và ở tỉnh
Đác Lắc nói riêng vừa đem lại những yếu tố tích cực, vừa có những yếu
tố tiêu cực, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề hết sức phức tạp cần được giải
quyết cả trước mắt và lâu dài.
Việc một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) từ bỏ hệ tín
ngưỡng cổ truyền để tiếp nhận hệ tín ngưỡng của một tôn giáo độc thần
thành lập cái gọi là “Tin lành Đê-ga” gần đây đã kích động sự kỳ thị, chia
rẽ tôn giáo giữa đồng bào DTTS với người Kinh và đã lừa phỉnh, lôi kéo
được một số người tham gia. Trong hai vụ bạo loạn chính trị trong vùng
DTTS ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004 có nhiều tín đồ tự xưng là
“Tin lành Đê-ga” tham gia. Toàn Tây Nguyên hiện vẫn còn gần 7.000
người DTTS tự xưng là tín đồ của “Tin lành Đê-ga”. Nguy hiểm hơn,
chúng coi “Tin lành Đê-ga” như là cơ sở tinh thần của cái gọi là “Nhà
nước Đê-ga độc lâp”. Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng Tin lành,
dựa vào lực lượng quần chúng là người DTTS Tây Nguyên, kích động số
đông tín đồ làm lực lượng đối trọng với ta. Trong bối cảnh giao lưu rộng
mở, các tổ chức và cá nhân của Hội thánh Tin lành vẫn tiếp tục bị lợi
dụng vì âm mưu thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.
Về đối ngoại, các thế lực thù địch đang ra sức vu cáo ta vi phạm
nhân quyền, đàn áp tôn giáo, trong đó có vấn đề đạo Tin lành ở Tây
Nguyên. Từ đó, trong hoạt động đối ngoại họ đưa nhiều yêu sách để gây
sức ép với ta. 4
Trước tình hình Tin lành phát triển phức tạp, việc thực hiện chính
sách tôn giáo như thừa nhận hoạt động Tin lành bình thường, cho đăng ký
và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hành đạo đã đem lại những mặt tích
cực, tạo ra tâm lý phấn khởi, tin tưởng trong đại đa số đồng bào có đạo.
Tuy nhiên, ở nhiều nơi công tác đối với Tin lành vẫn còn nhiều hạn chế,
nên hiện tại một bộ phận đồng bào có tâm lý hoang mang, lo lắng, giảm
nhiệt tình và thái độ hợp tác tích cực. Mặt khác, do đạo Tin lành đang tồn
tại trong trạng thái nửa hợp pháp, nửa không hợp pháp, có hệ phái chính
thức, có hệ phái không chính thức, nơi đã được công nhận, nơi chưa được
công nhận, nên tình hình của đạo Tin lành trong vùng DTTS ở các tỉnh
Tây Nguyên vẫn còn là vấn đề hết sức phức tạp, không những gây khó
vực khác nhau. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách
chỉ đạo, lãnh đạo rất quan trọng đối với vấn đề dân tộc, tôn giáo có liên
quan trực tiếp đến vùng Tây Nguyên, tiêu biểu là Nghị quyết 10-NQ/TW
của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc
phòng - an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 – 2010; Quyết định
168/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc định hướng dài hạn
kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế
- xã hội vùng Tây Nguyên; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII
về tăng cường công tác quần chúng của Đảng; Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc, công tác tôn giáo; Thông báo
160-TB/TW của Bộ Chính trị về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành
trong tình hình mới; Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về một số công tác đối với đạo Tin lành
Bên cạnh đó, ý thức rõ tầm quan trọng của vấn đề đẩy mạnh công
tác quần chúng nói chung và công tác quần chúng ở vùng đồng bào
DTTS theo đạo Tin lành nói riêng, nhiều công trình khoa học xã hội cũng
đã được triển khai nghiên cứu, tiêu biểu như: Chương trình Tây Nguyên
I, Chương trình Tây Nguyên II, trong đó một phần nghiên cứu đánh giá,
đề xuất giải pháp về công tác quần chúng. Đáng chú ý là một số công
trình nghiên cứu chuyên sâu về tôn giáo như: “Một số tôn giáo ở Việt 6
Nam” năm 2005, “Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt
Nam” năm 2002 của TS Nguyễn Thanh Xuân - Phó Trưởng Ban Tôn giáo
Chính phủ; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân
tộc ở Tây Nguyên” năm 2005 của PGS, TS Trương Minh Dục; Đề tài
nghiên cứu của Ban Tôn giáo Chính phủ “Một số giải pháp và chính sách
đối với vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh
Đắc Lắc” năm 2002; các công trình nghiên cứu về Tin lành Tây Nguyên
đảng đối với công tác vận động đồng bào DTTS theo đạo Tin lành ở tỉnh
Đác Lắc, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cụ thể, thiết thực để nâng cao
chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với công tác vận
động quần chúng trong vùng đồng bào DTTS theo đạo Tin lành của tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ những vấn đề thực tiễn của việc truyền bá đạo
Tin lành ở Đác Lắc, việc kẻ địch lợi dụng đạo Tin lành trong thời gian
qua, đánh giá đúng sự tác động của đạo Tin lành đến tình hình chính trị,
xã hội của tỉnh và tư tưởng, đời sống của đồng bào DTTS theo Tin lành.
- Đánh giá đúng thực trạng, rút ra nguyên nhân và kinh nghiệm về
sự lãnh đạo của các tổ chức đảng tỉnh Đác Lắc đối với công tác vận động
đồng bào DTTS theo đạo Tin lành.
- Xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu, cụ
thể để nâng cao chất lượng lãnh đạo của các tổ chức đảng đối với công
tác vận động đồng bào DTTS theo đạo Tin lành của tỉnh Đác Lắc trong
thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình đạo
Tin lành và vấn đề nâng cao chất lượng lãnh đạo công tác vận động quần
chúng đối với đồng bào DTTS theo đạo Tin lành của các tổ chức đảng địa
phương từ tỉnh đến cơ sở của tỉnh Đác Lắc.
Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu tư liệu và tình hình thực tế
chủ yếu từ năm 2001 (sau vụ biểu tình, bạo loạn chính trị tháng 02-2001)
đến nay. 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Luận văn được thực hiện trên cơ sở những quan điểm và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về 10
Chương 1
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐÁC LẮC ĐỐI VỚI CÔNG
TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO ĐẠO TIN
LÀNH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG TRONG
HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG Ở TỈNH ĐÁC
LẮC
1.1.1. Vị trí, vai trò và những nét đặc thù của công tác vận động
đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành ở tỉnh Đác Lắc
1.1.1.1. Một số đặc điểm tình hình các dân tộc thiểu số tỉnh Đác
Lắc
Đác Lắc là quê hương của đồng bào thuộc nhiều dân tộc, như: Ê-đê,
M’nông, Gia-rai, Xê-đăng, Kinh Sau ngày miền Nam giải phóng, thực
hiện chủ trương phân bổ lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước,
tỉnh đã tiếp nhận hàng chục vạn đồng bào từ khắp mọi miền đất nước đến
xây dựng kinh tế mới. Cùng với người bản địa, nhiều dân tộc khác cũng
đến đây làm ăn sinh sống và tạo nên một đại gia đình với 43 dân tộc anh
em.
Theo số liệu thống kê, đến ngày 31-12-2006, dân số Đác Lắc là
1.701.496 người, mật độ 130,8 người/km
2
; trong đó dân tộc Kinh chiếm
70,5%; các DTTS 486.313 người, riêng đồng bào DTTS tại chỗ là
nhân ái, yêu thiên nhiên, yêu hòa bình, nhưng đồng thời cũng rất kiên
cường, có tinh thần thượng võ, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất.
Đồng bào DTTS trong tỉnh có đặc điểm là dễ nghe theo, dễ tin và đã
tin ai thì đặt hết niềm tin vào người đó, không từ nan thử thách, hy sinh.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tuyệt đại bộ
phận đồng bào DTTS của tỉnh đã tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh dũng đứng lên theo Đảng làm cách
mạng, bất chấp mọi hy sinh, gian khổ để giành thắng lợi cuối cùng.
Về phương diện văn hóa, là một địa phương đa dân tộc, Đác Lắc
hiện nay là một vùng đất đa dạng về sắc thái văn hóa: Có sắc thái văn 12
hóa của người Kinh, sắc thái văn hóa của các DTTS bản địa và sắc thái
văn hóa của các DTTS từ nơi khác đến. Nhưng, trước hết và quan trọng
nhất phải nói đến văn hóa, phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống của hai
dân tộc bản địa là các dân tộc Ê-đê và M'nông. Đồng bào các DTTS ở
Đác Lắc là chủ nhân của một nền văn hóa bản địa vô cùng phong phú và
đặc sắc. Trải qua nhiều thế hệ, các dân tộc ở đây đã tạo dựng nên những
di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý giá mà ngày nay các nhà nghiên
cứu đều đánh giá cao, như: nhà dài, nhà mồ, đàn đá, cồng chiêng, các lễ
hội và sinh hoạt cộng đồng độc đáo. Đồng bào còn có một kho tàng văn
học dân gian với những những bản trường ca (khan), truyện cổ, truyện
ngụ ngôn, lời nói vần; những làn điệu dân ca như Airay, Kuứt, Kmũn,
Tâm pớt, Yuôn Yơh đậm đà bản sắc dân tộc lưu truyền qua bao thế hệ.
Đặc biệt, luật tục (tập quán pháp) của hai dân tộc Ê-đê, M'nông có thể coi
là một di sản văn hóa tộc người rất đặc sắc, bao gồm hàng trăm điều,
phản ánh những lề luật, tục lệ nghiêm ngặt của cộng đồng thị tộc cổ đại.
Ngoài ra, các dân tộc Ê-đê, M’nông còn có cả chữ viết mà sau này được
mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” [38, tr.267]. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng khẳng định: Đảng Cộng sản phải vận động và tổ chức
nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, “dân vận là vận động tất cả lực lượng của
mỗi một người dân không để sót một người nào, góp thành lực lượng
toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính
phủ và Đoàn thể đã giao cho” [39, tr.698-699].
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lê-nin nhấn mạnh việc động viên
và phát huy mọi lực lượng của quần chúng nhân dân. Người cảnh cáo:
“những ai chỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng
xã hội cộng sản là những kẻ có tư tưởng hết sức ngây thơ” [35, tr.347].
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ vai trò quan trọng của công tác vận động, tập hợp các tầng lớp
nhân dân. Tuy nhiên, trong quá trình cách mạng do Đảng lãnh đạo, mỗi
thời kỳ, mỗi đối tượng có những nội dung và hình thức vận động khác
nhau. Trong thời kỳ mới của cách mạng, Đảng ta xác định nội dung công 14
tác vận động quần chúng là xây dựng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, đồng thời đề ra các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các
tầng lớp xã hội, xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước…
Đồng bào DTTS nói chung và đồng bào DTTS theo đạo Tin lành nói
riêng ở tỉnh Đác Lắc là một đối tượng vận động đặc biệt, do đó công tác
vận động của Đảng ở đây có vai trò hết sức quan trọng.
Do đặc điểm lịch sử, đời sống đồng bào còn nhiều khó khăn, trình
độ dân trí thấp, sự am hiểu của đồng bào về các chủ trương, chính sách
Những đặc điểm đó cho thấy, công tác quần chúng có mục tiêu to
lớn là tạo lập sự nhất trí, sự đồng thuận của tất cả các tầng lớp xã hội, các
thành phần dân tộc vì sự nghiệp chung, tạo sự tương đồng, hài hòa trong
tính thống nhất của toàn dân tộc.
Đồng bào DTTS tuy không nhiều về số lượng, nhưng là một đối
tượng quan trọng trong công tác dân vận của Đảng. Nếu như trước đây sự
ổn định chính trị thường được quan niệm gắn liền với sức mạnh kinh tế,
quân sự (tuy nhiên trên thực tế không phải bao giờ cũng như vậy), thì
ngày nay, sự ổn định chính trị phải là tổng hợp của sức mạnh kinh tế,
chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại…; trạng thái ổn định
chính trị chỉ vững chắc khi tất cả các lĩnh vực dân tộc, tư tưởng, tôn
giáo… cùng đạt được sự ổn định tương ứng. Chính vì thế, công tác vận
động đồng bào DTTS của Đảng là một trong những nhân tố góp phần ổn
định tình hình an ninh chính trị của tỉnh, chống lại âm mưu phá hoại của
các thế lực thù địch và góp phần vào sự thành công của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
1.1.1.3. Đặc thù của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
ở Đác Lắc
- Về đối tượng vận động
Nét nổi bật của hai dân tộc Ê-đê, M'nông là đời sống xã hội mang
đậm tính huyết thống (dòng họ) và tính cộng đồng hết sức bền chặt.
Buôn của đồng bào Ê-đê hay bon của đồng bào M'nông là các đơn vị cơ 16
sở của xã hội, có nơi cư trú và nơi canh tác riêng, có bến nước và nghĩa
địa riêng mặc nhiên được các buôn (bon) khác thừa nhận. Mỗi buôn có
một già làng. Mặc dù, trong xã hội hiện đại có sự tác động của nhiều nếp
sống mới, nhưng vai trò của già làng trong xã hội người DTTS ở Đác Lắc
nghe theo.
Cũng như các dân tộc khác, đồng bào các DTTS ở Đác Lắc sống
gắn bó với cộng đồng, hết lòng vì cộng đồng, nhưng đồng bào cũng có
lợi ích thiết thân của mình. Do đó, trong công tác vận động đồng bào
phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của đồng bào. Chủ nghĩa Mác đã chỉ
ra rằng: muốn vận động quần chúng phải quan tâm đến lợi ích thiết thân
của họ; lợi ích là một động lực thúc đẩy con người hành động. Nhưng,
cần chú ý rằng, lợi ích phải được hiểu là những gì thiết thực, cụ thể, gắn
với cuộc sống hàng ngày của đồng bào, chứ không phải là những thứ họ
chỉ thấy trong các báo cáo hoặc là những sự hứa hẹn suông.
1.1.2. Tầm quan trọng của sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đác
Lắc đối với công tác vận động quần chúng nói chung và công tác vận
động đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành nói riêng
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân
vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [39,
tr.35]. Những lời căn dặn ấy cho thấy, công tác dân vận là nhiệm vụ hàng
đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ những năm
đầu thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đổi mới và
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ vững
mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là nhân tố quyết định
thắng lợi của công cuộc đổi mới và toàn bộ sự nghiệp cách mạng” [18,
tr.65]. Từ đó, Đảng ta luôn luôn coi công tác vận động, tổ chức quần
chúng tham gia công việc cách mạng là vấn đề chiến lược xuyên suốt mọi
thời kỳ cách mạng. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, công tác dân vận
tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi giai cấp, tầng lớp, các
giới đồng bào… Nó góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc để thực hiện mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng đất nước
giàu mạnh, công bằng, văn minh, hạnh phúc.
của Đảng và Nhà nước. Đồng bào DTTS theo đạo Tin lành ở Đác Lắc là 19
một đối tượng đặc biệt trong công tác dân vận của tỉnh, nhưng họ cũng
chính là một bộ phận dân cư cấu thành các thành phần dân tộc trong tỉnh.
Cho nên, phải xem đây là một bộ phận nhân dân cấu thành, lực lượng lao
động, sức mạnh chung của tỉnh. Bộ phận theo Tin lành vì bị lợi dụng, lừa
mị nhằm phục vụ cho mục đích chính trị xấu xa của chúng chỉ là thiểu số,
và ngay cả khi họ lầm đường, lạc lối, họ vẫn là những quần chúng của
Đảng. Họ phải được giáo dục, tập hợp thành một khối đoàn kết thống
nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương thực hiện các nhiệm vụ
kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh của tỉnh.
Hai là, sự lãnh đạo công tác vận động quần chúng của Đảng bộ tỉnh
xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị trên địa
bàn trong điều kiện các thế lực thù địch tập trung chống phá ta về nhiều
mặt, đặc biệt là việc lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để lôi kéo một
bộ phận đồng bào DTTS biểu tình bạo loạn, gây rối, vượt biên trái phép
Hiện nay, ở tỉnh Đác Lắc cũng như ở toàn vùng Tây Nguyên nói
chung, yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa
bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch trên các vấn đề dân tộc,
tôn giáo được đặt ra một cách trực tiếp và cấp bách. Các sự kiện biểu
tình, bạo loạn của một bộ phận đồng bào DTTS ở Tây Nguyên vào các
năm 2001 và 2004 thực chất sâu xa là do một bộ phận quần chúng bị lừa
bịp, lôi kéo dưới chiêu bài đòi thành lập “Nhà nước Đê-ga độc lập”, đòi
trả đất cho người DTTS, đòi đuổi người Kinh ra khỏi Tây Nguyên…
trong âm mưu lớn là gây mất ổn định chính trị ở Tây Nguyên, đẩy nhân
dân đến chỗ chống đối chính quyền, chia rẽ dân tộc, kích động chủ nghĩa
ly khai, tạo cớ để quốc tế hóa vấn đề và nước ngoài can thiệp. Trên thực
phương pháp tốt là cơ sở để tạo nên sự ổn định xã hội, đồng thời cũng là
cơ sở để đánh giá năng lực lãnh đạo toàn diện của các cấp ủy đảng địa
phương.
Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đác Lắc đối với công tác
vận động quần chúng nói chung và công tác vận động đồng bào DTTS
theo đạo Tin lành nói riêng chính là thể hiện ở sự lãnh đạo toàn bộ hệ
thống chính trị trong tỉnh thông qua công tác quần chúng để đoàn kết và 21
phát huy sức mạnh của toàn thể nhân dân, tạo nên một môi trường xã hội
ổn định để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, góp phần vào
sự ổn định chính trị ở tỉnh Đác Lắc nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
1.2. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC ĐẢNG BỘ ĐỊA PHƯƠNG TỈNH
ĐÁC LẮC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ THEO ĐẠO TIN LÀNH – QUAN NIỆM VÀ TIÊU CHÍ
ĐÁNH GIÁ
1.2.1. Nội dung và phương thức lãnh đạo của các tổ chức đảng
tỉnh Đác Lắc đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
theo đạo Tin lành
Xác định được đường lối chính trị đúng đắn là yêu cầu hàng đầu,
nhưng để đường lối đó đi vào cuộc sống, Đảng phải vận động, tổ chức
nhân dân thực hiện đường lối đó một cách hiệu quả.
Có thể nói rằng, sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đác Lắc với công tác
vận động đồng bào DTTS theo đạo Tin lành là hoạt động của các tổ chức
và cấp ủy đảng trong tỉnh nhằm làm cho các tổ chức trong hệ thống chính
trị các cấp đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục để nâng cao ý
thức giác ngộ, sự hiểu biết của đồng bào về các chủ trương, chính sách
đối với vùng đồng bào DTTS, về chính sách dân tộc và chính sách tôn
đề tranh chấp đất đai giữa người Kinh với đồng bào DTTS. Trong những
vấn đề đó, do bị lợi dụng, nhiều vụ việc thường đi tới những yêu sách
không thỏa đáng, không phù hợp với quy định của pháp luật, như: đòi
tách tôn giáo đồng bào DTTS ra khỏi tôn giáo người Kinh; đòi người
Kinh trả đất cho đồng bào DTTS… Nội dung công tác dân vận ở đây là
phải biết bóc tách những yêu cầu chính đáng của quần chúng với những
đòi hỏi vô căn cứ, vì mục đích chính trị đen tối để có phương pháp vận
động, thuyết phục hiệu quả.
Để hiểu sâu tình hình quần chúng, các cấp ủy đảng cần yêu cầu
chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân có sự điều tra, phân tích
cụ thể tình hình các mặt như: dân cư; tâm trạng, nguyện vọng, thu nhập,
đời sống vật chất và tinh thần, những nhu cầu thiết yếu, chính đáng của 23
người dân; tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội… Đây là những vấn
đề cần thiết cho việc xác định và đề ra các chủ trương sát đúng với tình
hình và phù hợp với nguyện vọng quần chúng, giải quyết kịp thời những
vấn đề mới phát sinh, không để xảy ra mâu thuẫn. Mối quan hệ giữa các
dân tộc ở Đác Lắc về cơ bản là tốt đẹp, nhưng thời gian gần đây do bị tác
động bởi những yếu tố bên ngoài và của bọn phản động, nên mối quan hệ
này có lúc trở nên căng thẳng ở một số vùng, một số vấn đề và đến nay
vẫn còn âm ỉ. Đây là vấn đề nhạy cảm, rất dễ bị kích động. Công tác dân
vận phải hết sức chú ý không để thổi bùng lên thành những “điểm nóng”
như những năm trước đây. Bên cạnh việc tìm hiểu tình hình quần chúng,
các cấp chính quyền địa phương cần có những chủ trương, chính sách đáp
ứng nhu cầu chính đáng của đồng bào như: tạo điều kiện thuận lợi cho
việc hành đạo của tín đồ, công nhận tư cách pháp nhân của các chi hội
Tin lành cơ sở, cho đăng ký các điểm nhóm Tin lành chưa đại hội, đồng ý
thích hợp, đồng thời chú trọng xây dựng Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội và các tổ chức quần chúng đủ sức làm công tác quần
chúng có hiệu quả. Ngay sau các vụ biểu tình, bạo loạn ở Tây Nguyên,
hầu hết các tổ chức quần chúng ở vùng đồng bào DTTS gần như không
hoạt động, hoặc chỉ hoạt động cầm chừng; một số cán bộ làm công tác ở
cơ sở bị khống chế, không dám hoạt động, phong trào quần chúng hầu
như tê liệt; một số quần chúng bị lôi kéo, kích động có thái độ chống đối,
cực đoan, số khác mất niềm tin hoặc hoang mang, dao động. Vì vậy, việc
các cấp ủy đảng thường xuyên lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân xây dựng, củng cố tổ chức, tập hợp quần chúng vào tổ chức
đoàn thể giữ vai trò hết sức quan trọng và là nhiệm vụ cấp thiết đối với
Đác Lắc và cả Tây Nguyên.
Bốn là, lãnh đạo triển khai thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở,
làm cho nhân dân cảm nhận rõ không khí dân chủ ngay tại buôn, làng, từ
đó tích cực tham gia xây dựng các phong trào hành động cách mạng. Một
trong những yếu tố gây phản ứng tiêu cực trong một bộ phận quần chúng
là do những khuyết điểm chủ quan của đội ngũ cán bộ, đảng viên; hệ
thống chính trị các cấp chưa thật sự phát huy dân chủ rộng rãi; việc triển 25
khai thực hiện các quyết định của cấp trên chưa thực sự hiệu quả; chưa có
các chủ trương cụ thể giải quyết các vấn đề của địa phương. Chỉ có phát
huy dân chủ, xây dựng phong trào hành động cách mạng của quần chúng
mới tạo được cơ sở để lôi kéo, tập hợp quần chúng vào tổ chức, từ đó phát
huy tính tích cực, sáng tạo của họ, đồng thời để họ tránh được sự lôi kéo của
kẻ địch và những phần tử xấu.
Năm là, chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển sản
xuất, cải thiện đời sống đồng bào, nhất là những nơi khó khăn, những