Tài liệu Luận văn: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thành phố Hà nội - Pdf 10


Trang 1

Luận văn
Giải pháp tăng cường công
tác huy động vốn tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển
thành phố Hà nội

Trang 2
MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời mở đầu 4
Chương 1: Nguồn vốn và các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của
Ngân hàng thương mại 6
1.1 Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM 6
1.1.2 Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại 8
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 13
1.2 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 16
1.2.1 Cơ cấu và nguồn hình thành nên nguồn vốn của NHTM 17
1.2.2 Tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hệ thống NHTM 26
1.2.3 Nguyên tắc và mục tiêu trong công tác huy động vốn của NHTM 28
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của NHTM 31
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài Ngân hàng 32
1.3.2 Các nhân tố thuộc về Ngân hàng 34
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển thành phố Hà nội 39
2.1 Khái quát chung về chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Hà nội 39
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT&PT Hà nội 39
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà nội 40

3.2.7 Nâng cao vị thế và tuy tín của Ngân hàng 76
3.2.8 Xây dựng trụ sở và trang bị hệ thống máy móc thiết bị để tạo ra hình
ảnh tốt về Ngân hàng 77
3.3 Một số kiến nghị nhằm thực hiện các giải pháp tăng cường công tác huy
động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà nội 78
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 78
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 80
3.3.3 Kiến nghị với Ngân hàng ĐT&PT Việt nam 83
Kết luận 84

Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là điều kiện tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.
Ở việt nam hiện nay, vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên để huy động được khối lượng
vốn lớn từ nền kinh tế trong nước là một thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt
nam nói chung và đối với hệ thống Ngân hàng thương mại nói riêng. Trong điều
kiện thị trường chứng khoán phát triển chưa tương xứng với nhu cầu rất lớn của
nền kinh tế thì quá trình nhận và điều chuyển vốn trên thị trường chủ yếu được
thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng thương mại_Nơi tích tụ, tập trung, khơi
dậy và động viên các nguồn lực cho sự phát triển nền kinh tế đất nước và trên thực
tế ở nước ta có hơn 80% lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống Ngân hàng
cung cấp. Điều này cho thấy, việc tăng cường công tác huy động vốn, đảm bảo
chất lượng và số lượng vốn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình
hoạt động của bất kỳ một NHTM nào.
Là một thành viên của hệ thống Ngân hàng Việt nam, Ngân hàng ĐT&PT
Hà nội phải chung sức thực hiện nhiệm chung của toàn ngành, làm thế nào để huy
động được vốn đáp ứng cho sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước,
phát triển kinh tế địa phương là một vấn đề đang được Ngân hàng rất quan tâm.
Trong thời gian học tập tại trường và thực tập tại Ngân hàng ĐT&PT Hà

đang công tác tại phòng Nguồn vốn-Kinh doanh và các phòng ban khác của Ngân
hàng đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Em chân thành cảm ơn!

Trang 6
CHƯƠNG 1
NGUỒN VỐN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ
NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NHỮNG HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM
1.1.1.1 Định nghĩa ngân hàng thương mại
Để đưa ra một định nghĩa về Ngân hàng thương mại người ta thường phải
dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính. Theo luật
Ngân hàng Pháp năm 1941 định nghĩa: ”Được coi là Ngân hàng là những xí
nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình
thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các
nghiệp vụ, chiết khấu hay tài chính”.
Ở nước ta trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của
nhà nước, “Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở
hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan xen với nhau
hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng, các doanh nghiệp không phân biệt
quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng
trước pháp luật”. Theo hướng đó nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo
những tiền đề cần thiết cho những hoạt động của ngành Ngân hàng nói chung và
sự ra đời của nhiều loại hình Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Cho nên để
tăng cường quản lý, định hướng hoạt động cho các Ngân hàng và các tổ chức tín
dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích
hợp pháp của các tổ chức và cá nhân, pháp lệnh Ngân hàng, Hợp Tác Xã Tín dụng

những kẻ cho vay nặng lãi - Thực hiện cho vay đối với các cá nhân, chủ yếu là
những người giàu nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng. Nhiều chủ Ngân hàng
lớn còn mở rộng cho vay đối với các vua chúa- hình thức cho vay chủ yếu là thấu
chi. Sau này khi sản xuất phát triển hơn, quan hệ trao đổi, mua bán sản phẩm, hàng
hoá giữa các vùng, các quốc gia diễn ra sôi động hơn thì các nhà buôn nhận thấy
rằng các Ngân hàng thợ vàng này không đáp ứng được nhu cầu của họ. Do vậy

Trang 8
một só nhà buôn đã tự thành lập Ngân hàng và gọi là NHTM. Như vậy NHTM
được thành lập xuất phát từ tư bản thương nghiệp gắn liền với quá trình luân
chuyển của tư bản thương nghiệp. Các NHTM này vừa thực hiện phát hành tiền
vừa thực hiện kinh doanh do vậy mà trong lưu thông đã tồn tại nhiều loại tiền khác
nhau gây khó khăn cho lưu thông. Các ngniệp vụ Ngân hàng thời kỳ này đã bao
gồm hầu hết các nghiệp vụ của Ngân hàng đương đại. Tuy nhiên điểm khác biệt
giữa NHTM và Ngân hàng thợ vàng là NHTM chủ yếu cho các nhà buôn vay dưới
hình thức chiết khấu thương phiếu - Đây là các khoản cho vay ngắn hạn dựa trên
quá trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất thấp hơn so với lợi nhuận được tạo
ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn tài sản, ban đầu Ngân hàng không cho
vay đối với người tiêu dùng, không cho vay đối với nhà nước, không cho vay trung
và dài hạn.
Đến cuối thế kỷ XVIII lưu thông hàng hoá được mở rộng cả về qui mô và
phạm vi. Trong bối cảnh ấy việc có nhiều Ngân hàng phát hành với nhiều loại giấy
bạc khác nhau đã cản trở quá trình phát triển kinh tế. Mặt khác sự phá sản của
nhiều Ngân hàng đã gây tổn thất lớn cho người gửi tiền nói riêng và nền kinh tế
nói chung. Đặc biệt sau khủng hoảng kinh tế 1929-1933 thì xu hướng chung trên
toàn thế giới là quốc hữu hoá các Ngân hàng phát hành, các Ngân hàng này không
được phép phát hành kỳ phiếu, phát hành giấy bạc Ngân hàng. Chuyển chức năng
này về NHTƯ, NHTƯ không chỉ phát hành giấy bạc Ngân hàng mà còn thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực Tiền tệ-Tín dụng-Ngân hàng, đó là sự ra
đời của NHTƯ. Còn các Ngân hàng khác chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi,

kinh doanh, qua dó phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Hai là: Chức năng làm trung gian thanh toán
Trong đời sống hàng ngày diễn ra hàng tỷ lượt giao dịch, thanh toán bằng
tiền mặt. Nếu như mọi khoản thanh toán đầu thanh toán bằng tiền mặt trao tay thì
sẽ kéo theo hàng loạt các công việc phức tạp và tốn kém mà nhiều khi còn gặp rủi
ro không lường trước được. Khi NHTM ra đời và phát triển, trong quá trình làm
trung gian tín dụng Ngân hàng đã thu hút được hầu hết các nhà kinh doanh có quan
hệ buôn bán với nhau mở tài khoản tại Ngân hàng tạo cơ sở cho các Ngân hàng
đứng ra làm trung gian thanh toán theo lệnh của chủ tài khoản bằng cách trích số
dư tiền gửi trên tài khoản của người mua chuyển sang tài khoản của người bán,
tiến hành các nghiệp vụ này Ngân hàng trở thành là người thủ quỹ và là bộ máy kế

Trang 10
toán đáng tin cậy của các nhà kinh doanh trong việc làm trung gian nhận và trả tiền
theo yêu cầu của họ, kế toán và kết toán tài khoản cho họ. Do đó, quá trình thực
hiện chức năng này hệ thống NHTM đã góp phần quan trọng làm giảm bớt khối
lượng lưu thông tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông thuần tuý, giúp cho việc
thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ được thuận lợi, nhanh chóng, an toàn. Đối với
Ngân hàng thực hiện chức năng này tạo cho Ngân hàng có thể duy trì và nâng cao
khả năng thanh toán, quản lý được tình hình thu chi của các đơn vị qua đó có các
quyết định kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và an toàn tài sản cho
khách hàng và Ngân hàng.
Ba là: Chức năng tạo phương tiện thanh toán
Quá trình tạo tiền của NHTM bắt nguồn từ quá trình phát triển hoạt động tín
dụng gắn liền với việc mở rộng thanh toán qua Ngân hàng. Qua việc thực hiện hai
chức năng trên Ngân hàng đã thu hút được một lượng khách hàng và số lượng tiền
gửi khá lớn tại Ngân hàng, bằng cách dùng tiền gửi của người này để cho người
khác vay và người này lại tạo nên tiền gửi của người khác nằm trong cùng hệ
thống Ngân hàng. Quá trình đó NHTM đã tự tạo được khối lượng tiền gửi tăng
thêm nhiều lần từ số tiền gửi đầu tiên (Tiền gửi sử dụng Sec), khối lượng tiền đó

quả sử dụng vốn.
Ngân hàng tài trợ vốn cho các Doanh nghiệp trên cơ sở phải tuân thủ các
điều kiện do Ngân hàng đặt ra. Trong đó các khoản tín dụng mà Doanh nghiệp
nhận được đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải hoàn trả gốc. Vì vậy
để đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho
Doanh nghiệp thì trước khi cho vay, Ngân hàng cần phải thẩm định phương án sử
dụng vốn vay của Doanh nghiệp, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định các
yếu tố liên quan đến Doanh nghiệp (Uy tín, trình độ nhân viên, tài sản đảm bảo…)
một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đó cán bộ tín dụng giúp Doanh nghiệp
xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho Doanh nghiệp
vay vốn, Ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của
Doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp
Doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn.
Ba là: Ngân hàng khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế.

Trang 12
Bất kỳ đối tượng nào trong nền kinh tế gửi tiền vào Ngân hàng đều được
hưởng lãi, điều đó có nghĩa là thu nhập của người gửi tiền sẽ tăng lên. Người gửi
tiền có thể gửi theo bất kỳ phương thức nào, bất kỳ thời hạn nào, Các cá nhân có
số tiền nhàn rỗi chưa sử dụng đến thì có thể gửi vào Ngân hàng khi cần thì có thể
rút ra bất cứ lúc nào. Thông qua chính sách lãi suất Ngân hàng đã khuyến khích
khách hàng tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để có thể tăng tiêu dùng trong tương lai.
Bốn là: Hoạt động Ngân hàng có tác dụng điều tiết sự dịch chuyển của vốn
đầu tư dẫn đến bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và phát triển vùng.
Trong hoạt động tài trợ của mình, Ngân hàng có thể tài trợ đối với tất cả các
đơn vị và cá nhân trong nền kinh tế dưới các hình thức khác nhau. Với hệ thống
các Ngân hàng chuyên doanh cùng với mạng lưới chân rết của mình, NHTM có
mặt ở hầu hết các địa bàn trong phạm vi cả nước. Thông qua đó Ngân hàng sẽ tiến
hành cho vay đối với những ai cần vốn mà đáp ứng được các điều kiện của Ngân

với nhau một cách thuận lợi và nhanh chóng.
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.3.1 Nhận tiền gửi
Đây là hoạt động cơ bản của NHTM, Ngân hàng nhận được các khoản tiền
gửi từ khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn,
tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của các cá nhân,
của các tổ chức kinh tế và Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng khi
đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng là đến rút tiền ở Ngân hàng. Qua
hoạt động này Ngân hàng đã thu hút một lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi để phục
vụ cho các hoạt động của mình như hoạt động cho vay và thông qua đó cung cấp
phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
1.1.3.2 Hoạt động tài trợ của ngân hàng
Trên cơ sở lượng tiền gửi từ nền kinh tế mà Ngân hàng đã tiếp nhận và quản
lý được sau khi trừ đi phần dự trữ cần thiết theo qui định, phần còn lại sẽ được
Ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Do tính đa dạng của
khách hàng và nhu cầu phong phú về phương thức sử dụng tiền tài trợ của khách
hàng nên Ngân hàng đã thiết lập và xây dựng các phương thức tài trợ khác nhau.
a Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ

Trang 14
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của Ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn của chính phủ và
thường là cấp bách trong khi thu không đủ chi hoặc thu chưa đủ thì chính phủ các
nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Phương thức được
sử dụng nhiều nhất là Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ mua bán tín phiếu, trái phiếu
hoặc làm đại lý phát hành các giấy tờ có giá cho Chính phủ, qua nghiệp vụ này
một mặt vừa thực hiện nghĩa vụ với nhà nước mặt khác vừa đem lại thu nhập cho
Ngân hàng.
b Tài trợ cho nền kinh tế
Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì vấn đề sống còn là phải có nguồn lực

tiền của các quốc gia với nhau theo nhu cầu của khách hàng dựa trên tỷ giá mua
bán các đồng tiền đó với nhau, qua hoạt động này Ngân hàng thu được lợi nhuận
từ chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán. Số lượng ngoại tệ mà Ngân hàng mua
được có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu vay bằng ngoại tệ
hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng ngoại tệ.

d Các dịch vụ của Ngân hàng
 Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán hộ.
Thông qua việc thu hút khách hàng (Cá nhân hoặc tổ chức) mở tài khoản
giao dịch tại Ngân hàng, Ngân hàng sẽ quản lý tài khoản của khách hàng và tiến
hành chi trả tiền hàng hóa dịch vụ cũng như thu hộ các khoản phải thu của chủ tài
khoản theo lệnh của họ. Thực hiện nghiệp này một mặt Ngân hàng giúp khách
hàng giảm bớt được chi phí trong quá trình thanh toán mặt khác Ngân hàng tập
trung được một lượng tiền lớn trong nền kinh tế để sử dụng cho các hoạt động của
mình.
 Bảo quản vật có giá
Đây là một dịch vụ mang lại thu nhập khá cao cho các Ngân hàng. Trên thế
giới dịch vụ này rất phát triển. Nội dung của nghiệp vụ này là các Ngân hàng cho
khách hàng thuê két của Ngân hàng để bảo quản tài sản của mình và thu phí từ
hoạt động cho thuê đó.
 Dịch vụ bảo lãnh

Trang 16
Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của các tổ chức tín dụng với
bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Muốn vạy khách hàng phải có
được sự đồng ý của Ngân hàng, nó phải tuân theo một qui trình bảo lãnh riêng. Khi
Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì Ngân hàng được hưởng
một khoản phí gọi là phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của
từng hợp đồng bảo lãnh.

Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển
đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng và các hoạt động về
nguồn vốn quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phất triển của cấc Ngân hàng
thương mại. Nguồn vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với các hoạt động
của các NHTM trong việc thực hiện các chức năng của mình.
Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại bao gồm:
1.2.1.1 Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng
Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục
tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai
trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định
nên Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở
vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử
dụng cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo
vệ, vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin
với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi Ngân hàng hoạt
động thua lỗ. Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng
vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng. Quy mô và
sự tăng trưởng vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển
của NHTM. Khi đánh giá về qui mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề
cập là vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng đó.
Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng bao gồm:
a Vốn điều lệ: Là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành lập. Vốn
điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu
phải có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật qui định. Vốn điều lệ được ghi

Trang 18
vào điều lệ thành lập Ngân hàng. Tuỳ thuộc vào loạ hình Ngân hàng mà vốn điều
lệ được hình thành từ những nguồn gốc khác nhau:
 Ngân hàng quốc doanh: Vốn điều lệ được hình thành từ Ngân sách nhà

không có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc
và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền để sử dụng. Tiền gửi chiếm một tỷ
trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương mại.
Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng thương mại rất đa dạng, tuỳ
thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:
a
1
Theo tiêu thức nguồn hình thành
 Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức là các khoản tiền mà cá nhân
và tổ chức trực tiếp chuyển vào Ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tết kiệm, doanh
nghiệp nộp tiền bán hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế được Ngân hàng tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với kỳ
hạn và mục đích khác nhau, các cá nhân thường gửi tiền để hưởng lãi còn các tổ
chức doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng.
 Tín dụng tạo tiền gửi: Ít người biết được rằng đây là một hình thức nhận
tiền gửi. Khi Ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển số tiền cho
vay của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong Ngân hàng.
Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng có thể sử dụng số
tiền đó mặc dù với thời hạn rất ngắn.
a
2
Theo tiêu thức kỳ hạn
Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này
để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng
chiến lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá
trình hoạt động kinh doanh.
 Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác
định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó
lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác
định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự

 Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền
gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP,
DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như
kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán
quốc tế…các Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có

Trang 21
nguồn vốn ngoại tệ lớn. Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng
hoá về phương thức huy động vốn của các Ngân hàng thương mại.
a
4
Theo tiêu thức mục đích sử dụng
 Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục đích
là tìm kiếm một khoản thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình. Thông thường tiền
gửi có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối
tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng được chi tiêu trong tương
lai. Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực tiếp vào Ngân hàng
hoặc gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thức chuyển qua tài khoản.
 Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước
phát triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Những
người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (Thông thường là các khoản tiền
đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định trong
tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền
gửi như các loại tiết kiệm khác. Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục đích nói trên,
nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một
phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai
bên. Đây là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính
chất ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân về
việc mua sắm nhà cửa, phương tiện.
 Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh

được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách hàng rút thì Ngân hàng sẽ gặp
khó khăn trong việc thanh toán tiền cho khách hàng nghĩa là Ngân hàng thiếu tiền
trả cho khách hàng. Vậy Ngân hàng phải đi vay.
Thứ hai: Vay hộ cho khách hàng
Vì hoạt động cơ bản của Ngân hàng là tài trợ cho nền kinh tế nên khi khách
hàng có nhu cầu vay vốn Ngân hàng và đảm bảo các yêu cầu do Ngân hàng đặt ra
thì Ngân hàng sẽ cho vay. Tuy nhiên với những khách hàng vay với khối lượng
lớn, thời hạn dài mà Ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền của mình có
để đầu tư cho dự án này (vì rủi ro đem lại có thể rất cao) nhưng Ngân hàng cũng
không muốn mất khách hàng nên họ thoả thuận với nhau qua đó Ngân hàng thay
mặt khách hàng phát hành trái phiếu để thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ

Trang 23
vốn cho dự án. Người ta chỉ phát hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng
và trong một thời hạn bằng thời gian tồn tại của dự án.
Thứ ba: Vay để cho vay
Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông đã trở thành tiền gửi tại các Ngân
hàng nghĩa là các Ngân hàng chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông. Để
tăng lượng tiền gửi của mình các Ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các
khoản tiền gửi ở các Ngân hàng khác chảy về. Nhưng thực tế khi một Ngân hàng
tăng lãi suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các Ngân hàng khác cũng đồng loạt
tăng lãi suất lên làm chi phí Ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi
không đáng kể. Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà Ngân hàng cho là
có hiệu quả thì Ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay. Do tính chất hoạt động
không đồng đều giữa các Ngân hàng về huy động vốn và sử dụng vốn và vậy
những Ngân hàng thiếu vốn có thể đi vay ở những Ngân hàng còn thừa vốn chưa
sử dụng hết hoặc đi vay vốn từ NHTƯ hoặc các định chế tài chính khác. Mặt khác
do Ngân hàng dự đoán được sự gia tăng của nhu cầu tín dụng trong tương lai mà
nguồn vốn huy động chưa thể đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn rrong thời kỳ tới thì
Ngân hàng thực hiện đi vay vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

hành ở từng chi nhánh trên cơ sở được sự chấp thuận của NHTƯ với khung lãi suất
và thời hạn phát hành riêng biệt. Còn trái phiếu thường được phát hành với qui mô
lớn hơn và đồng loạt trong cả hệ thống Ngân hàng.
Như vậy trái phiếu và kỳ phiếu có mục đích đều được Ngân hàng phát hành
với mục đích huy động vốn trung và dài hạn và là khoản vay của các Ngân hàng
trên thị trường. Ngoài ra còn có các hình thức vay khác.
b
3
Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng và vốn
vay từ Ngân hàng trung ương
Tuỳ theo tình hình hoạt động của Ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do của
các khoản vay của mình mà Ngân hàng có những hình thức vay phù hợp. Với các
hình thức vay như trên Ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian. Đối với mục đích
sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho Ngân hàng thì hai hình
thức vay vốn trên không phù hợp. Ngân hàng có thể sử dụng phương thức khác
như vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTƯ. Thực tế cho thấy hoạt
động huy động vốn và sử dụng vốn thì không đồng đều giữa các Ngân hàng, ở
những thời điểm có những Ngân hàng thiếu vốn nhưng lại có những Ngân hàng
tạm thời đang thừa vốn thì các Ngân hàng này có thể vay mượn lẫn nhau vì mục
đích của cả đôi bên. Hơn nữa các Ngân hàng đều làm trung gian thanh toán cho
nền kinh tế nên các Ngân hàng đều mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau và trong những

Trang 25
trường hợp Ngân hàng nào đó thiếu vốn để thanh toán chi khách hàng của mình thì
Ngân hàng kia có thể cho vay để Ngân hàng đó đảm bảo khả năng thanh toán.
Trong những trường hợp cấp bách mà Ngân hàng không thể vay được ở các Ngân
hàng khác thì có thể vay ở NHTƯ vì NHTƯ là người cho vay cuối cùng đối với
các NHTM. Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn mà NHTƯ chia
thành các loại sau:
 Vốn vay ngắn hạn bổ sung: Là hình thức mà NHTM xin vay vốn bổ sung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status